ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc kháng sinh đƣợc coi là một giải pháp cho loài ngƣời trong phòng và điều trị bệnh do nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây vi khuẩn kháng lại thuốc kháng sinh ngày càng nghiêm trọng và sự lan truyền các vi khuẩn kháng kháng sinh đang trở thành mối đe dọa lớn cho sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Có nhiều cơ chế kháng kháng sinh, trong đó cơ chế ức chế bằng enzyme β-lactamase phổ mở rộng, hay còn đƣợc gọi là ESBL (Extended - Spectrum Beta -Lactamase) là cơ chế thƣờng gặp. ESBL là các enzyme do vi khuẩn sinh ra, chúng có khả năng làm bất hoạt các thuốc nhóm β-lactam bằng cách phá hủy nối amide của vòng β-lactam vì vậy các vi khuẩn có enzyme này kháng lại các kháng sinh nhóm β-lactam rất hiệu quả.
ESBL thƣờng đƣợc tìm thấy trong các nhóm Enterobacteriaceae, thƣờng gặp ở Escherichia coli (E. coli là vi khuẩn sống cộng sinh trong đƣờng tiêu hóa, nhƣng nó cũng là một trong những tác nhân gây bệnh khá phổ biến ở ngƣời. Trên nhiều chủng E. coli sinh ESBL, các plasmid không chỉ mang gen mã hóa sinh ESBL mà còn kèm các gen kháng kháng sinh khác, vì vậy các vi khuẩn này có thể kháng đồng thời nhiều loại kháng sinh [32].
Mặt khác, các chủng E. coli mang gen mã hóa sinh ESBL còn có khả năng truyền các gen kháng kháng sinh cho các vi khuẩn khác trong cùng loài hoặc cho các loài vi khuẩn gây bệnh khác nhƣ: Salmonella, Shigella. làm gia tăng tình trạng kháng kháng sinh trong cộng đồng và gây ra những khó khăn trong điều trị lâm sàng [32, 101]. Trên thế giới, tỷ lệ nhiễm E.
coli sinh ESBL chiếm tỷ lệ từ 5% đến 62%. Tỷ lệ này cao ở khu vực châu Á, đặc biệt là các nƣớc khu vực Nam Á và Trung Quốc (trên 50%) ở cả bệnh viện và cộng đồng [61, 92]. luan an 2 Tại Việt Nam, tỉ lệ nhiễm E. coli sinh ESBL là tƣơng đối cao: 18% đến 57,3 % trong bệnh viện [61, 92].
Hầu hết các nghiên cứu có liên quan đến E. coli sinh ESBL chủ yếu là trên các bệnh phẩm của bệnh nhân tại bệnh viện, rất ít các nghiên cứu đƣợc thực hiện trên ngƣời khỏe mạnh tại cộng đồng. Đặc biệt những thông tin về đặc điểm vi sinh y học của vi khuẩn E. coli sinh ESBL tại cộng đồng hầu nhƣ chƣa đƣợc thông báo.
Vì vậy cần thiết có những nghiên cứu trên ngƣời khỏe mạnh tại cộng đồng nhằm đánh giá thực trạng nhiễm, đặc điểm vi sinh học của vi khuẩn E. coli sinh ESBL tại cộng đồng, góp phần đƣa ra bức tranh tổng thể về dịch tễ học của vi khuẩn E. coli tại cộng đồng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc thiết lập hệ thống giám sát, phòng ngừa sự lây nhiễm và lan truyền vi khuẩn kháng kháng sinh tại cộng đồng. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài ―Xác định một số đặc điểm vi sinh của Escherichia coli sinh beta lactamase phổ mở rộng ở người khỏe mạnh tại cộng đồng huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, năm 2016‖ với các mục tiêu sau: 1.
Xác định sự lưu hành của Escherichia coli sinh beta-lactamase phổ mở rộng ở người khỏe mạnh tại cộng đồng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, năm 2016. Xác định một số đặc điểm sinh học của các chủng Escherichia coli sinh beta-lactamase phổ mở rộng phân lập được từ người khỏe mạnh tại cộng đồng. luan an 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nhiễm và kháng kháng sinh của E.
coli sinh β-lactamase phổ mở rộng ở ngƣời 1. Tình hình nhiễm E. coli sinh β-lactamase phổ mở rộng ở người 1. Trên thế giới a.
Trong bệnh viện Vi khuẩn sinh ESBL đƣợc phát hiện lần đầu tiên vào năm 1983 tại Tây Âu. Sau đó không lâu, ESBL đƣợc phát hiện ở Mỹ và Châu Á, hiện nay nó đã lan ra toàn cầu và là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới. ESBL xuất hiện ở nhiều vi khuẩn trong đó chủ yếu là ở nhóm trực khuẩn gram âm, thƣờng gặp ở E. Theo chƣơng trình giám sát xu hƣớng kháng kháng sinh trên toàn thế giới (SMART) giai đoạn 2002 – 2011 ở 179 bệnh viện trên thế giới cho thấy: E.
coli là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn ổ bụng (47,8%) và nhiễm khuẩn tiết niệu (44,3%). Trong nhiễm khuẩn ổ bụng, vi khuẩn sinh ESBL cao ở châu Á, Mỹ Latinh và Trung Đông (20% - 40%); châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Thái Bình Dƣơng và châu Phi có tỷ lệ thấp hơn (5-15%). Trong nhiễm khuẩn tiết niệu tỷ lệ vi khuẩn sinh ESBL cao nhất ở châu Á và Trung Đông (30% - 50%), tiếp đến là Mỹ Latinh và châu Âu (khoảng 20%), tỷ lệ này thấp nhất ở châu Phi, Nam Thái Bình Dƣơng và Bắc Mỹ (khoảng 10%). Tỷ lệ ESBL ở cả bệnh nhân nhiễm khuẩn ở bụng và nhiễm khuẩn tiết niệu tăng theo thời gian ở hầu hết các khu vực, đặc biệt là ở châu Á và Trung Đông [92].
luan an 4 Biểu đồ 1. Tỷ lệ ESBL ở E. mirabilis trong nhiễm khuẩn ổ bụng theo các vùng từ SMART từ 2002 – 2011 [92]. Tỷ lệ ESBL ở E.
mirabilis trong nhiễm trùng tiết niệu theo các vùng từ SMART từ 2002 - 2011 [92]. Trong báo cáo giám sát hàng năm của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật châu Âu (ECDC, 2012) cho thấy tỷ lệ sinh ESBL của các chủng E. coli kháng cephalosporin thế hệ ba ở 23 quốc gia thuộc châu Âu rất cao (70,5% đến 100%). Có tới 16 trong 23 quốc gia báo cáo có tỷ lệ sinh ESBL ở các chủng E.
coli kháng cephalosporin thế hệ ba là trên 85%, thậm chí ở một số nƣớc nhƣ Hungary, Lithuania và Rumania tỷ lệ này lên đến 100% [115]. Qua các nghiên cứu giám sát về tình hình vi khuẩn kháng kháng sinh ở luan an 5 khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng cho thấy, E. coli sinh ESBL có xu hƣớng ngày càng gia tăng. Nghiên cứu SMART từ năm 2007: Trong tổng số 3004 chủng Gram âm đƣợc phân lập năm 2007 ở khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng tỷ lệ sinh ESBL ở E.
Tỷ lệ này cao ở các nƣớc Ấn Độ (79%), Trung Quốc (55%), Thái Lan (50,8%). Các nƣớc có tỷ lệ E. coli sinh ESBL trung bình là Việt Nam (34,4%), Singapore (33,3%). Các quốc gia có tỉ lệ thấp hơn (3,2 - 22,7%) là Hàn Quốc, Hồng Công, Philipine, Đài Loan, Úc, New Zealand [61].
Tỷ lệ nhiễm các vi khuẩn sinh ESBL ở các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương [61]. Nghiên cứu SMART trên 17.350 chủng vi khuẩn Gram âm phân lập từ bệnh nhân nhiễm khuẩn ổ bụng ở 54 bệnh viện thuộc 13 nƣớc trong vùng châu Á - Thái Bình Dƣơng giai đoạn 2010 - 2013 cho thấy: E. coli là tác nhân chủ yếu (46,1%). Tỷ lệ sinh ESBL ở E.
Trong đó tỷ lệ E. coli sinh ESBL trong các nhiễm khuẩn tại bệnh viện cao nhất ở Ấn Độ (79%), Trung Quốc (55%), Thái Lan (50%) và Việt Nam (34,4%). Ở các nƣớc này tỷ lệ E. coli sinh ESBL trong các nhiễm khuẩn cộng đồng là khoảng 20% [41].
Nhóm nghiên cứu của tác giả Villegas thực hiện trên các chủng vi khuẩn Gram âm đƣợc thu thập từ các bệnh nhân nhiễm khuẩn ổ bụng từ 23 trung tâm thuộc 10 nƣớc Mỹ Latinh cho thấy trong E. coli là các tác nhân phổ luan an 6 biến nhất, tỷ lệ sinh ESBL ở E. Một nghiên cứu đƣợc thực hiện ở Nam Phi giai đoạn 1998-1999 cho thấy tỷ lệ E. coli sinh ESBL là 5,1 % [28].
Nghiên cứu gần đây của tác giả Sangare và cộng sự tại 2 bệnh viện lớn ở Mali cho thấy: tỷ lệ sinh ESBL của các vi khuẩn đƣờng ruột phân lập từ máu bệnh nhân là 62,3 %. coli sinh ESBL chiếm 64,5% [108]. Tại cộng đồng Một số nghiên cứu gần đây cho thấy vi khuẩn E. coli sinh ESBL không chỉ xuất hiện trong bệnh viện mà còn đƣợc phát hiện ở cả những ngƣời khỏe mạnh tại cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới.
Tại Thụy Sĩ: Theo nghiên cứu của tác giả Geser và cộng sự trên mẫu phân của 586 ngƣời khỏe mạnh tại Thụy Sĩ năm 2013 cho thấy có 5,8 % ngƣời khỏe mạnh nhiễm E. coli sinh ESBL [51]. Tại Pháp: Tác giả Nicolas - Chanoine thông báo tỷ lệ mang E. coli sinh ESBL ở những ngƣời trƣởng thành khỏe mạnh tại khu vực Pari tăng lên gấp 10 lần sau 5 năm (0,6% vào năm 2006 và 6% vào năm 2011) [98].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Valenza (2014) trên 3344 mẫu phân ngƣời khỏe mạnh trong cộng đồng có tiếp xúc gần với bệnh nhân nhiễm khuẩn tiêu hóa tại Đức cho thấy tỷ lệ sinh ESBL là 6,3% trong cộng đồng [119]. Tại Trung Quốc, tác giả Li B (2009) công bố có tới 50,5% mẫu phân của những ngƣời khỏe mạnh tham gia nghiên cứu có chứa vi khuẩn E. coli sinh ESBL [78]. Nghiên cứu trên 160 ngƣời khỏe mạnh ở vùng nông thôn Thái Lan năm 2008 của tác giả Sasaki cho thấy tỷ lệ những ngƣời tham gia nghiên cứu có mang vi khuẩn sinh ESBL trong mẫu phân là 61,7%.
coli chiếm ƣu thế với tỷ lệ 85,1% [109]. Theo một kết quả nghiên cứu trên 150 ngƣời tình nguyện khỏe mạnh tại luan an 7 Tunisia năm 2009-2010 cho thấy tỷ lệ mang E. coli sinh ESBL trong đƣờng tiêu hóa tại cộng đồng là 7,3% [29]. Tại Việt Nam a.
Trong bệnh viện Hiện nay E. coli sinh ESBL đã lƣu hành rộng khắp trên các bệnh viện trong cả nƣớc. Vi khuẩn này là một trong các tác nhân gây các bệnh nhiễm khuẩn trong bệnh viện nhƣ nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn tiêu hóa với tỷ lệ kháng kháng sinh cao. Theo số liệu của chƣơng trình quốc gia giám sát độ nhạy cảm với kháng sinh (Antibiotic Susceptibility Testing Surveillance – ASTS) 2002 - 2006 từ 10 đơn vị thành viên ở Bắc, Trung, Nam, và các dữ liệu từ các bệnh viện nhiều nơi gửi về cho thấy: bệnh viện càng lớn bao nhiêu thì tỷ lệ các vi khuẩn sinh ESBL càng tăng cao và tỷ lệ vi khuẩn sinh ESBL cũng tăng dần theo từng năm.
Tỷ lệ ở các bệnh viện theo thời gian đƣợc thể hiện ở bảng 1. coli sinh ESBL ở một số bệnh viện (ASTS) Bệnh viện E.