Đặt vấn đề Hoa lan là một trong những sản vật của tạo hóa, là tác phẩm nghệ thuật tuyệt tác mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Hoa lan có vẻ đẹp, độ phong phú, cấu tạo đa dạng, tinh tế, có độ bền lâu và hương thơm quyến rũ. Đến nay loài người đã biết được trên 750 chi với 35000 loài lan tự nhiên và 75000 giống lan do kết quả chọn lọc và lai tạo (Vũ Thị Huệ,2013). Nhờ các đặc tính quý báu đó mà ngành sản xuất hoa lan không ngừng phát triền và càng lan rộng trên thế giới đem lại nguồn lợi lớn cho các quốc gia đầu tư nghiên cứu và sản xuất.
Hoa lan phong phú như Trung Quốc, Thái Lan v. Việt Nam là nơi có điều kiện khí hậu phù hợp cho rất nhiều loài lan sinh trưởng, phát triển và cũng là khởi nguồn của rất nhiều loài lan quý đã dược các nhà nguyên cứu về hoa lan ghi nhận. Hiện nay có rất nhiều giống lan đẹp và đắt giá trên thế giới đặc biệt các dòng lan đột biến như phi điệp có giá hàng tỉ đồng. Bên cạnh đó lan kiếm cũng là một trong những dòng lan đẹp và được nhiều người chú ý.
Trong các dòng lan kiếm thì có rất nhiều dòng đã được người chơi công nhận về vẻ đẹp và mang giá trị cao như: Lan kiếm Hoàng Long; Lan kiếm vàng Củ Chi; Lan kiếm xanh Huế; Lan kiếm Vị Hoàng. Lan kiếm Tiên Vũ cũng là một trong nhưng dòng hoa đẹp mà giá thành phải chăng hướng đến được nhiều đối tượng trên thị trường. Khu vực phía Bắc điều kiện khí hậu không được thuận lợi, do mùa hè nhiệt độ cao (33o – 38o ), độ ẩm lớn và cường độ ánh sáng mạnh đã ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng của cây, làm cây dễ bị cháy lá, tỷ lệ nhiễm bệnh thối nhũn cao. Về mùa đông nhiệt độ lại quá thấp, cường độ ánh sáng yếu, thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn nên cũng không thuận lợi cây cho sinh trưởng, phát triển và ra hoa.
Mặt khác, do thiếu giống tốt, kỹ thuật chưa đồng bộ, chưa có quy trình chăm sóc phù hợp… nên việc sản xuất chưa mang lại hiệu quả cao, 1 số lượng và chất lượng hoa lan chưa đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng, trong khi nhu cầu sử dụng các loài lan trên là rất cao. Nhằm góp phần khắc phục hạn chế này, tạo điều kiện cho cây hoa lan Kiếm Tiên Vũ phát triển có hiệu quả, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc đỉm thực vật và nguồn gốc sinh trưởng của lan Kiếm Tiên Vũ nguồn gốc tự nhiên (Cymbidium finlaysonianum) vụ Xuân – Hè tại Gia Lâm – Hà Nội ”.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Đánh giá được đặc điểm thực vật và sinh trưởng của hoa lan Kiếm Tiên Vũ nguồn gốc tự nhiên từ đó làm tiefn đề cho các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện Xuân - Hè tại Gia Lâm-Hà Nội.2 Yêu cầu - Xác định một số đặc điểm thực vật học của lan kiếm Tiên Vũ thu thập từ tự nhiên - Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lan Kiếm Tiên Vũ nguồn gốc tự nhiên tham gia thí nghiệm. - Theo dõi sự phát triển của hoa, màu sắc của giống lan Kiếm Tiên Vũ nguồn gốc tự nhiên tham gia thí nghiệm 2 Phần II : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu chung về cây lan kiếm Tiên Vũ 2.1 Phân loại và nguồn gốc lan kiếm Tiên Vũ 2.1 Phân loại thực vật cây lan kiếm Tiên Vũ Cây lan kiếm Tiên Vũ tên khoa học: Cymbidium finlaysonianum Phân loại thực vật cây lan kiếm Tiên Vũ Bộ (ordo) Asparagales Họ (familia) Orchidaceae Phân họ (subfamilia) Cymbidieae Tông (tribus) Cyrtopodiinae Chi (genus) Cymbidium Loài (species) C.2 Nguồn gốc Bộ Măng tây hay bộ Thiên môn đông (danh pháp khoa học: Asparagales) là một bộ trong lớp thực vật một lá mầm bao gồm một số họ cây không thân gỗ. Trong các hệ thống phân loại cũ, các họ mà hiện nay đưa vào trong bộ Asparagales đã từng được đưa vào trong bộ Loa kèn (Liliales), và một số chi trong đó thậm chí còn được đưa vào trong họ Loa kèn (Liliaceae).
Một số hệ thống phân loại còn tách một số họ được liệt kê dưới đây thành các bộ khác, bao gồm cả các bộ Orchidales (lan) và bộ Iridales (diên vĩ), trong khi các hệ thống khác, đặc biệt là hệ thống phân loại của APG lại đưa hai bộ Orchidales và Iridales vào trong bộ Asparagales. Bộ này được đặt tên theo chi Asparagus (măng tây, thiên môn đông) lan (Dahlgren, 1985). 3 Họ Lan (danh pháp khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây, lớp thực vật một lá mầm. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bổ nhiều nơi trên thế giới.
Vườn thực vật hoàng gia Kew liệt kê 880 chi và gần 22.000 loài được chấp nhận, nhưng số lượng chính xác vẫn không rõ (có thể nhiều tới 25.000 loài) do các tranh chấp phân loại học. Số lượng loài lan cao gấp 4 lần số lượng loài động vật có vú hay hơn 2 lần số lượng loài chim. Nó chiếm khoảng 6-11% số lượng loài thực vật có hoa. Khoảng 800 loài lan mới được bổ sung thêm mỗi năm.
Các chi lớn nhất là Bulbophyllum (khoảng 2.00 loài), Epidendrum (khoảng 1.500 loài), Dendrobium (khoảng 1.400 loài) và Pleurothallis (khoảng 1. Họ này cũng bao gồm chi Vanilla (chi chứa loài cây vani), Orchis (chi điển hình) và nhiều loài được trồng phổ biến như Phalaenopsis hay Cattleya. Ngoài ra, kể từ khi du nhập các loài từ khu vực nhiệt đới vào trong thế kỷ XIX thì các nhà làm vườn châu Âu và Bắc Mỹ đã bổ sung thêm khoảng 100.000 loại cây lai ghép và giống cây trồng (M. Chase và ctv.
Hoa lan được người tiêu dùng ưa chuộng vì vẻ đẹp đặc sắc và các hình thức đa dạng của chúng. Cũng giống như cây lan, hoa lan hầu như có tất cả các màu trong cầu vồng và những kết hợp của các màu đó. Hoa lan nhỏ nhất chỉ bằng hạt gạo trong khi hoa lan lớn nhất có đường kính khoảng 1m (M. Chase và ctv.
Đa số các loại hoa lan được bán rộng rãi trên thị trường thường không có hương thơm nhưng trong tự nhiên có rất nhiều loại hoa lan có mùi thơm đặc trưng. Vanilla là một loại hoa lan mà hương thơm được dùng trong các loại ẩm thực của thế giới và có nguồn gốc từ Mexico; trong khi đó có các loại hoa lan tỏa ra mùi như thịt bị hỏng để hấp dẫn các côn trùng (M. Chase và ctv. Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bổ của họ này: • Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi • Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi 4 • Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi • châu Đại Dương: 50 - 70 chi • châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi • Bắc Mỹ: 20 - 25 chi Một nghiên cứu đăng trong tạp chí Nature đã chỉ ra rằng nguồn gốc họ Lan có xuất phát điểm lâu đời hơn so với dự tính ban đầu, có lẽ khoảng 76-84 triệu năm trước.
Một con ong của loài ong không ngòi tuyệt chủng, với danh pháp Proplebeia dominicana, được tìm thấy bị mắc trong hổ phách thế Miocen khoảng 15-20 triệu năm trước. Con ong này mang phấn hoa của một loài lan trước đây không rõ, Meliorchis caribea, trên các cánh của nó. Đây là chứng cứ đầu tiên về lan hóa thạch cho tới nay. Loài lan tuyệt chủng M.
caribea này được đặt trong tông Cranichideae, phân tông Goodyerinae (phân họ Orchidoideae). Điều này chỉ ra rằng họ Lan có thể có nguồn gốc cổ đại và đã phát sinh khoảng 76-84 triệu năm trước trong thời kỳ Hậu Creta. Nói cách khác, các loài lan có thể cùng tồn tại với khủng long. Nó cũng chỉ ra rằng vào thời gian đó côn trùng là các sinh vật thụ phấn tích cực cho các loài lan.
Chase và ctv. (2001) thì địa lý sinh học chung và mô hình phát sinh loài của họ Orchidaceae chỉ ra rằng chúng thậm chí còn cổ hơn và có thể đã phát sinh khoảng 100 triệu năm trước (M. Chase và ctv. Sử dụng phương pháp đồng hồ phân tử, người ta có thể xác định niên đại của các nhánh chính trong họ Lan.
Điều này cũng xác nhận rằng phân họ Vanilloideae là nhánh tại sự phân đôi cơ sở của lan với nhị đơn, và phải tiến hóa rất sớm trong sự tiến hóa của họ này. Do chi Vanilla trong phân họ này có mặt tại nhiều nơi trên thế giới trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ châu Mỹ qua châu Á, New Guinea và Tây Phi, và các lục địa đã bắt đầu tách ra khoảng 100 triệu năm trước, nên trao đổi quần sinh vật đáng kể phải xảy ra sau sự chia tách này (do niên đại của Vanilla được ước tính khoảng 60-70 triệu năm trước) (M. Chase và ctv. 5 Chi Lan kiếm (danh pháp khoa học: Cymbidium), còn gọi là Đoản kiếm, Thanh ngọc, thuộc loại Địa Lan hay Thổ Lan, là một chi thực vật gồm 52 loài thuộc họ Lan.
Chi này được Olof Swartz mô tả lần đầu vào năm 1799. Tên chi có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp kumbos nghĩa là 'lỗ thủng', dựa theo hình dáng môi hoa. Tên viết tắt của chi này là Cym (Phạm Hoàng Hộ, 1999). Thương mại các cây hoa thuộc chi Cymbidium lần đầu tiên diễn ra khi những người trồng hoa ở Hà Lan nhập khẩu một vài loài từ Mexico và Nam Mỹ.
Quá trình nhân giống và lai tạo kéo dài trong suốt thế kỷ 18, sau đó loài hoa này bắt đầu được con người ở Bắc Mỹ chú ý đến vào khoảng đầu thế kỷ 19. Năm 1946 hai người trồng hoa ở Hà Lan mang hoa này đến Nam Phi và bắt đầu trồng tại đây (Phạm Hoàng Hộ, 1999). Hiện nay, hoa Lan Kiếm được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Ở Trung Quốc, người ta gọi là Địa Lan, Thổ Lan.
Ở Việt Nam hiện chưa có nhiều loài trong chi Cymbidium nhưng sự phân bố của chúng là khá đa dạng, có thể bắt gặp các loài hoa trong chi này khắp nơi trên cả nước từ Bắc vào Nam, từ vùng núi đến đồng bằng. Ở miền Nam thấy nhiều loài hơn Miền Bắc, việc trồng trọt, nhân giống, mua bán các loại cây này cũng diễn ra khá phổ biến trong khi đó ở miền Bắc còn chưa nhiều (Phạm Hoàng Hộ, 1999). Ở Việt Nam, hiện chưa có nhiều loài trong chi Cymbidium nhưng sự phân bố của chúng là khá đa dạng, có thể bắt gặp các giống lan kiếm ở khắp nơi trong cả nước từ Bắc vào Nam, từ vùng núi đến đồng bằng.