Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu đặc điểm thực vật và sinh trưởng của lan kiếm hồng hoàng nguồn gốc tự nhiên vụ xuân hè tại gia lâm hà nội

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nghiên cứu đặc điểm thực vật và sinh trưởng của lan kiếm hồng hoàng nguồn gốc tự nhiên, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

62
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và yêu cầu

2. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu về chi Lan kiếm

2.1.1. Vị trí, phân loại, nguồn gốc và phân bố

2.1.1.1. Nguồn gốc xuất xứ
2.1.1.2. Vị trí, phân bố
2.1.1.3. Phân loại hoa lan

2.1.2. Đặc điểm thực vật học của chi Lan kiếm

2.2. Điều kiện ngoại cảnh

2.2.1. Ánh sáng

2.2.2. Nhiệt độ

2.3. Sâu bệnh hại Lan Kiếm

2.4. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.5. Giá trị kinh tế và sử dụng

3. PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.5. Phương pháp thu thập, xử lý số liệu

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm thực vật học của cây Lan Kiếm Hồng Hoàng

4.1.1. Đặc điểm hình thái các cơ quan sinh dưỡng (thân, lá, rễ)

4.1.2. Đặc điểm hình thái cơ quan sinh sản (hoa, quả) của cây Lan Kiếm Hồng Hoàng

4.1.3. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây Lan Kiếm Hồng Hoàng tại Gia Lâm - Hà Nội

4.1.3.1. Sự tăng trưởng chiều dài măng của các cây lan kiếm Hồng Hoàng có nguồn gốc khác nhau
4.1.3.2. Sự tăng trưởng kích thước lá của cây lan kiếm Hồng Hoàng

4.1.4. Đặc điểm cụm hoa và hoa của cây Lan Kiếm Hồng Hoàng

4.1.5. Tình hình sâu bệnh hại Lan Kiếm Hồng Hoàng

5. PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm thực vật học của lan kiếm hồng hoàng

Lan kiếm hồng hoàng là một loài lan quý, thuộc chi Cymbidium, có nguồn gốc tự nhiên tại Gia Lâm, Hà Nội. Nghiên cứu này tập trung vào việc mô tả chi tiết các đặc điểm hình thái của cây, bao gồm thân, lá, rễ, hoa và quả. Thân cây có dạng giả hành, lá dài và mảnh, rễ phát triển mạnh để hấp thụ dinh dưỡng. Hoa của lan kiếm hồng hoàng có màu sắc rực rỡ, đường kính lớn, và cụm hoa dài, mang nhiều bông. Quả của cây là dạng nang, chứa hàng ngàn hạt nhỏ li ti. Những đặc điểm này không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp của loài lan này mà còn giúp nhận diện và phân biệt chúng với các loài lan khác.

1.1. Đặc điểm hình thái thân lá rễ

Thân lan kiếm hồng hoàng có dạng giả hành, thường ngắn và được bao bọc bởi các bẹ lá. Lá của cây có dạng dải, dài từ 10 đến 150 cm, màu xanh đậm, đầu lá nhọn hoặc chia thành hai thùy. Rễ của cây phát triển mạnh, có khả năng hấp thụ dinh dưỡng và nước từ môi trường xung quanh. Những đặc điểm này giúp cây thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên tại Gia Lâm, Hà Nội.

1.2. Đặc điểm hình thái hoa và quả

Hoa của lan kiếm hồng hoàng có đường kính lớn, màu sắc rực rỡ, và cụm hoa dài mang nhiều bông. Cánh hoa và lá đài có cấu trúc tương tự nhau, trong khi cánh môi có màu sắc nổi bật hơn. Quả của cây là dạng nang, chứa hàng ngàn hạt nhỏ li ti, có khả năng phát tán nhờ gió. Những đặc điểm này không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp của loài lan này mà còn giúp nhận diện và phân biệt chúng với các loài lan khác.

II. Sinh trưởng và phát triển của lan kiếm hồng hoàng

Nghiên cứu này đánh giá quá trình sinh trưởng và phát triển của lan kiếm hồng hoàng trong điều kiện tự nhiên tại Gia Lâm, Hà Nội. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm sự tăng trưởng chiều dài măng, kích thước lá, và sự phát triển của cụm hoa. Kết quả cho thấy, sự tăng trưởng của cây chịu ảnh hưởng lớn bởi điều kiện thời tiết, đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm. Thời tiết nắng nóng kéo dài làm chậm quá trình tăng trưởng của cây, trong khi điều kiện mát mẻ và ẩm ướt thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ.

2.1. Sự tăng trưởng chiều dài măng và kích thước lá

Sự tăng trưởng chiều dài măng và kích thước lá của lan kiếm hồng hoàng được theo dõi định kỳ. Kết quả cho thấy, sự tăng trưởng này chậm hơn trong điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc điều chỉnh điều kiện môi trường để đảm bảo sự phát triển tối ưu của cây.

2.2. Sự phát triển của cụm hoa và hoa

Cụm hoa của lan kiếm hồng hoàng phát triển mạnh trong điều kiện mát mẻ và ẩm ướt. Hoa có độ bền cao, màu sắc rực rỡ, và đường kính lớn. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng có thể làm giảm chất lượng hoa và gây rụng nụ. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc kiểm soát điều kiện môi trường để đảm bảo sự phát triển và nở hoa tối ưu.

III. Điều kiện môi trường sống và bảo tồn lan kiếm hồng hoàng

Lan kiếm hồng hoàng thích nghi tốt với điều kiện môi trường tự nhiên tại Gia Lâm, Hà Nội, nơi có khí hậu mát mẻ và độ ẩm cao. Tuy nhiên, sự thay đổi thời tiết và nạn phá rừng đang đe dọa đến sự tồn tại của loài lan này. Nghiên cứu này đề xuất các biện pháp bảo tồn như nhân giống, trồng và chăm sóc cây trong điều kiện kiểm soát, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của loài lan này.

3.1. Điều kiện ánh sáng và nhiệt độ

Lan kiếm hồng hoàng phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng tán xạ và nhiệt độ từ 15-28°C. Thiếu ánh sáng hoặc nhiệt độ quá cao có thể làm giảm sự phát triển của cây. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc điều chỉnh ánh sáng và nhiệt độ trong quá trình trồng và chăm sóc cây.

3.2. Biện pháp bảo tồn và phát triển

Để bảo tồn lan kiếm hồng hoàng, cần thực hiện các biện pháp như nhân giống, trồng và chăm sóc cây trong điều kiện kiểm soát. Đồng thời, nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của loài lan này cũng là một yếu tố quan trọng. Những biện pháp này không chỉ giúp bảo tồn loài lan quý mà còn góp phần phát triển ngành trồng hoa cây cảnh tại Việt Nam.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Thiên nhiên và con người là sự gắn kết hài hoà, một phần sự gắn kết đó không thể bỏ qua vẻ đẹp tự nhiên của các loài hoa. Hoa là sự chắt lọc kỳ diệu nhất những tinh tuý mà thế giới cây cỏ ban tặng cho con người. Mỗi loài hoa chứa ẩn một vẻ đẹp, sức quyến rũ riêng, mà qua đó con người có thể gửi gắm tâm hồn mình cho hoa lá, cỏ cây. Địa lan kiếm (có tên khoa học Cymbidium) được mệnh danh là nữ hoàng của các loài lan, chúng có những điểm nổi bật cả về giá trị mỹ thuật, giá trị tinh thần.

Vẻ tao nhã, hài hòa của chúng từ lâu đã hiện diện trong văn học, nghệ thuật và gắn liền với đời sống văn hóa của người Á Đông. Trong thế giới cỏ cây muôn hình, muôn vẻ, không phải ngẫu nhiên mà hoa lan được tôn là "bà chúa của những loài hoa". Gơlacova ca ngợi "Thiên nhiên đã hào phóng tặng cho họ phong lan một vẻ đẹp lạ thường và tính đa dạng của lan đã làm sửng sốt con người từ xa xưa cho đến ngày nay" (Trần Hợp, 1990). Với cuộc sống hiện đại, ngày càng thiếu cây xanh – thiên nhiên ngày càng thu hẹp lại.

Đô thị hóa làm môi trường ô nhiễm, càng khiến con người muốn gần gũi với thiên nhiên hơn. Trong các thiết kế nội thất hiện nay, nhiều gia đình thường hướng đến việc thiết kế thêm không gian xanh,có thêm cây xanh, chậu hoa trong nhà sẽ giúp cho không gian nhà đẹp hơn, lọc không khí, giúp cho sức khỏe con người tốt hơn. Nghề trồng hoa cây cảnh nói chung và đặc biệt chọn tạo giống hoa lan xuất khẩu nói riêng, đã và đang trở thành một ngành kinh tế thu nhiều lợi nhuận. Việt Nam là một trong những trung tâm khởi nguyên của nhiều loài lan quý, là nơi có nguồn quỹ gen cây trồng phong phú.

Thời tiết khí hậu diễn biến thuận lợi, mùa đông ở nước ta ấm áp, đất nước tràn đầy hoa. Trong khi đó Châu 1 Âu, Bắc Á, Bắc Mỹ mùa đông tuyết phủ, còn các nước phía Nam lại rất khô, nóng và khan hiếm hoa. Nghề trồng hoa ở Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Vua Trần Nhân Tông lập nên "Ngũ bách viên" trong đó có 500 loài hoa quý được sau tập từ khắp các vùng đất nước (Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp, 1995).

Bên cạnh những thuận lợi, nước ta còn có những khó khăn và thiếu hụt nguồn gen làm vật liệu khởi đầu tạo giống hoa mới từ nguồn tài nguyên di truyền các loài hoang dại. Những loài hoa lan nhất là loài lan kiếm bản địa đang bị đe dọa mất giống ở nước ta, do nạn phá rừng ngày một gia tăng. Vì thế việc nghiên cứu về địa lan kiếm thực sự cần thiết. Lan kiếm Hồng Hoàng có hoa đẹp, cụm hoa dài có rất nhiều bông.

Hoa có đường kính lớn. Lan kiếm Hồng Hoàng có khả năng thích nghi cao, sức sống mạnh mẽ nên việc chăm sóc khá đơn giản.Từ những yếu tố trên, lan kiếm Hồng Hoàng rất được ưa chuộng trồng và sử dụng. Những năm gần đây, nhu cầu thưởng thức hoa lan ngày càng tinh tế, người chơi đòi hỏi đa dạng về đặc điểm của giống cây này như kiểu lá, màu sắc hoa…Vì vậy, cần phải có nghiên cứu đánh giá đặc điểm của cây lan kiếm Hồng Hoàng để phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, tăng giá trị kinh tế của loài cây này. Xuất phát từ yêu cầu thực tế khách quan trên, cũng như để góp phần phát triển ngành trồng hoa cây cảnh nước ta, tôi đã thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm thực vật và sinh trưởng của lan kiếm Hồng Hoàng nguồn gốc tự nhiên vụ Xuân-Hè tại Gia Lâm- Hà Nội” 1.

Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá đặc điểm thực vật học của tập đoàn lan kiếm Hồng Hoàng nguồn gốc tự nhiên - Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng của lan kiếm Hồng Hoàng nguồn gốc tự nhiên 2 1. Yêu cầu - Tìm hiểu được cách trồng, nhân giống, chăm sóc cây lan kiếm Hồng Hoàng - Bố trí thí nghiệm và theo dõi các chỉ tiêu một cách khoa học, hợp lý - Mô tả được đặc điểm thực vật học của cây. - Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và tình hình nhiễm sâu bệnh hại của cây.

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 2.Giới thiệu về chi Lan kiếm 2. Vị trí, phân loại, nguồn gốc và phân bố a) Nguồn gốc xuất xứ Họ Lan (Orchidaceae) là một trong những họ tồn tại rất lâu đời trên thế giới, người đã biết đến hoa lan từ rất sớm. Ở châu Á, theo tài liệu của Bretchaeider thì từ đời vua Thần Nông (năm 2800 trước Công Nguyên), lan rừng đã được biết đến như một loại thuốc dùng để chữa bệnh. Ở châu Âu, hoa lan cũng được biết đến từ trước Công Nguyên.

Phrastus (376-285) là người đầu tiên dùng danh từ Orchis chỉ một loài lan củ tròn dùng để làm thuốc trị bệnh. Các thế kỷ 16, 17, 18, người châu Âu, đặc biệt là người Anh đã đi khắp thế giới nghiên cứu, sưu tập cây cỏ. Trong thời kỳ này, nhiều loài lan nhiệt đới đã được đưa về Anh. Năm 1794, ở Anh người ta biết được 15 loài lan nhiệt đới.

Robut Bron (1773-1885) là người đầu tiên phân biệt rõ ràng giữa họ Lan và các họ khác; Joanlind (1779-1885) chính là người đặt nền tảng cho môn học về lan. Năm 1836, ông công bố sắp xếp các tông họ Lan (A tabulerview of the Tribes of Orchidaceae) tên của họ Lan được ông đưa ra dùng cho đến ngày nay. Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ đầu chưa rõ ràng, nhiều tài liệu cho rằng người đầu tiên khảo sát về lan ở Việt Nam là Joao de Louverio, một nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha. Ông đã tìm thấy cây lan Giáng hương quế(Aerides odorata) tại một vùng gần Huế.

Năm 1789, ông đã mô tả cây lan tại Việt Nam trong cuốn “Flora cochinchinensis” gọi tên các cây lan Việt Nam trong cuộc hành trình đến đây là Aerides, Phajus và Sacopodium, … chúng đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862-1883). Tuy nhiên, chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam, những công trình nghiên cứu về lan mới được công bố, đáng kể là F.Guillaumin mô tả 70 4 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “ Thực vật chí Đông Dương” do H.Lecomte làm chủ biên, xuất bản năm 1032-1934. Sau năm 1975, các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiếm nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam. Năm 1992, tác giả Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đã phát hành cuốn “Hoa lan tại Đông dương” gồm 200 chi và 2000 loài trong đó có khoảng 136 chi và 720 loài của Việt Nam.

Đến năm 1993, theo tác giả Phạm Hoàng Hộ thì ở Việt Nam có tới 775 loài lan. b) Vị trí, phân bố Chi Lan kiếm (Cymbidium aloifolium) thuộc giới thực vật, Chi Lan kiếm (Danh pháp khoa học: Cymbidium), còn gọi là Đoản kiếm, Thanh ngọc, thuộc loại Địa Lan hay Thổ Lan, là một chi thực vật gồm 52 loài thuộc họ Lan. Chi này được Olof Swartz mô tả lần đầu vào năm 1799. Tên chi có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp kumbos nghĩa là 'lỗ thủng', dựa theo hình dáng môi hoa.

Tên viết tắt của chi này là Cym. Cymbidium cũng là tên của một liên minh hoa lan gồm các chi Ansellia, Cymbidium, Grammatophyllum thuộc Phân họ Lan biểu sinh bậc cao. Chủ yếu gồm 5 loài lan kiếm phân bố khắp Đông Á, gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam. : • Cymbidium sinense • Cymbidium ensifolium • Cymbidium kanran • Cymbidium goeringii • Cymbidium faberi Tại Trung Quốc, Địa lan Kiếm sống ở các thảm rừng núi chủ yếu là ở 16 5 tỉnh miền Trung và Nam Trung Quốc, vô cùng phong phú.

Các nhà khoa học phân loại thành 28 loài trong đó chỉ có 11 là các loài lan Kiếm mọc trên đất (địa lan Kiếm). Tuy vậy chỉ có 6 loài được tôn vinh và chăm sóc như Quốc hoa: Xuân Lan (Cymbidium Goeringii), Xuân Kiếm (Cymbidium Longibracteatum) Kiến Lan (Cymbidium Ensifolium), Mặc Lan (Cymbidium Sinense), Hàn Lan (Cymbidium Karan)[1] c) Phân loại hoa lan Theo hệ thống phân loại của Takhtajan và cộng sự (1987), cây hoa lan (Orchids) thuộc họ lan (Orchidaceae), bộ lan (Orchidales), phân lớp hành (Lilidae), lớp một lá mầm (Monocotyleoneae), ngành ngọc lan – thực vật hạt kín (Magnoliophyta). Theo Takhtajan (1987), họ lan được chia thành 3 họ phụ là: Orchidicideae. Trong đó họ phụ lan (Orchidicideae) là phức tạp nhất, có nhiều giống, loài nhất.

Hai họ phụ kia mỗi loài chỉ có một tông. Gần đây do phân tích đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng họ lan chia thành 6 họ phụ: Orchidicideae. Neottioideae Epidendroideae Vandoideae Cả 6 họ phụ này đều phổ biến rộng rãi trên thế giới. Tại Việt nam, họ lan cũng khá phong phú, theo thống kê sơ bộ gần đây có khoảng 140 chi và 730 loài.

6 Đây là một họ tương đối phong phú và đặc sắc của hệ thực vật Việt Nam, đóng góp rất lớn về mặt giá trị thẩm mỹ và kinh tế cho đất nước. Đặc điểm thực vật học của chi Lan kiếm Về hình thái bên ngoài, lan Cymbidium là những loài thân thảo, đa niên, đẻ nhánh hàng năm tạo thành những bụi nhỏ. Rễ mới thường chỉ mọc ở cây con, cây mẹ khó ra rễ mới mà chỉ thấy phân nhánh từ củ rễ. - Thân ngầm (căn hành) thường ngắn, nối những củ lan với nhau.

Các củ lan thực chất là những cành ngắn của căn hành. Củ già, khi bị tách khỏi căn hành cũ, có thể mọc ra đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên những cây con. Do đó người ta xếp Cymbidium vào nhóm lan đa thân cây (sympodial). - Củ lan (giả hành) thường có dạng con quay hay dạng hột xoài, đường kính từ 1 cm đến 15 cm, củ thường tươi và được bọc trong các bẹ lá.

- Lá thường có hai dạng: dạng vảy đính theo một đoạn căn hành và dạng thực đính trên giả hành. Lá thực có cuống lá, giữa bẹ lá và cuống lá có một tầng phân cách. Khi phiến lá rụng, vẫn còn đoạn bẹ ôm lấy giả hành. Vài loài không có cuống lá.

Lá có dạng dải, dạng mũi mác, dạng phiến. Đầu lá nhọn hay chia thành 2 thùy. Kích thước của bản lá biến động từ 0,5 cm đến 6 cm. Chiều dài lá thay đổi từ 10 cm đến 150 cm.

Một số loài ít chịu rợp có phiến lá màu xanh vàng, còn lại thường là xanh đậm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm thực vật và sinh trưởng lan kiếm hồng hoàng tự nhiên tại Gia Lâm, Hà Nội là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm thực vật và quá trình sinh trưởng của loài lan kiếm hồng hoàng trong môi trường tự nhiên tại khu vực Gia Lâm, Hà Nội. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin chi tiết về đặc điểm hình thái, điều kiện sinh thái, và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của loài lan này. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển các loài lan quý hiếm tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các loài lan khác, bạn có thể tham khảo thêm Nghiên cứu đặc điểm thực vật và sinh trưởng của lan kiếm lô hội nguồn gốc tự nhiên hoặc Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu đặc điểm thực vật và sinh trưởng của lan tiên vũ. Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về các nghiên cứu thực vật khác, Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái và kỹ thuật trồng cây sâm Lai Châu cũng là một tài liệu đáng chú ý.