Đặt vấn đề Thiên nhiên và con người là sự gắn kết hài hoà, một phần sự gắn kết đó không thể bỏ qua vẻ đẹp tự nhiên của các loài hoa. Hoa là sự chắt lọc kỳ diệu nhất những tinh tuý mà thế giới cây cỏ ban tặng cho con người. Mỗi loài hoa chứa ẩn một vẻ đẹp, sức quyến rũ riêng, mà qua đó con người có thể gửi gắm tâm hồn mình cho hoa lá, cỏ cây. Địa lan kiếm (có tên khoa học Cymbidium) được mệnh danh là nữ hoàng của các loài lan, chúng có những điểm nổi bật cả về giá trị mỹ thuật, giá trị tinh thần.
Vẻ tao nhã, hài hòa của chúng từ lâu đã hiện diện trong văn học, nghệ thuật và gắn liền với đời sống văn hóa của người Á Đông. Trong thế giới cỏ cây muôn hình, muôn vẻ, không phải ngẫu nhiên mà hoa lan được tôn là "bà chúa của những loài hoa". Gơlacova ca ngợi "Thiên nhiên đã hào phóng tặng cho họ phong lan một vẻ đẹp lạ thường và tính đa dạng của lan đã làm sửng sốt con người từ xa xưa cho đến ngày nay" (Trần Hợp, 1990). Với cuộc sống hiện đại, ngày càng thiếu cây xanh – thiên nhiên ngày càng thu hẹp lại.
Đô thị hóa làm môi trường ô nhiễm, càng khiến con người muốn gần gũi với thiên nhiên hơn. Trong các thiết kế nội thất hiện nay, nhiều gia đình thường hướng đến việc thiết kế thêm không gian xanh,có thêm cây xanh, chậu hoa trong nhà sẽ giúp cho không gian nhà đẹp hơn, lọc không khí, giúp cho sức khỏe con người tốt hơn. Nghề trồng hoa cây cảnh nói chung và đặc biệt chọn tạo giống hoa lan xuất khẩu nói riêng, đã và đang trở thành một ngành kinh tế thu nhiều lợi nhuận. Việt Nam là một trong những trung tâm khởi nguyên của nhiều loài lan quý, là nơi có nguồn quỹ gen cây trồng phong phú.
Thời tiết khí hậu diễn biến thuận lợi, mùa đông ở nước ta ấm áp, đất nước tràn đầy hoa. Trong khi đó Châu 1 Âu, Bắc Á, Bắc Mỹ mùa đông tuyết phủ, còn các nước phía Nam lại rất khô, nóng và khan hiếm hoa. Nghề trồng hoa ở Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Vua Trần Nhân Tông lập nên "Ngũ bách viên" trong đó có 500 loài hoa quý được sau tập từ khắp các vùng đất nước (Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp, 1995).
Bên cạnh những thuận lợi, nước ta còn có những khó khăn và thiếu hụt nguồn gen làm vật liệu khởi đầu tạo giống hoa mới từ nguồn tài nguyên di truyền các loài hoang dại. Những loài hoa lan nhất là loài lan kiếm bản địa đang bị đe dọa mất giống ở nước ta, do nạn phá rừng ngày một gia tăng. Vì thế việc nghiên cứu về địa lan kiếm thực sự cần thiết. Lan kiếm Hồng Hoàng có hoa đẹp, cụm hoa dài có rất nhiều bông.
Hoa có đường kính lớn. Lan kiếm Hồng Hoàng có khả năng thích nghi cao, sức sống mạnh mẽ nên việc chăm sóc khá đơn giản.Từ những yếu tố trên, lan kiếm Hồng Hoàng rất được ưa chuộng trồng và sử dụng. Những năm gần đây, nhu cầu thưởng thức hoa lan ngày càng tinh tế, người chơi đòi hỏi đa dạng về đặc điểm của giống cây này như kiểu lá, màu sắc hoa…Vì vậy, cần phải có nghiên cứu đánh giá đặc điểm của cây lan kiếm Hồng Hoàng để phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, tăng giá trị kinh tế của loài cây này. Xuất phát từ yêu cầu thực tế khách quan trên, cũng như để góp phần phát triển ngành trồng hoa cây cảnh nước ta, tôi đã thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm thực vật và sinh trưởng của lan kiếm Hồng Hoàng nguồn gốc tự nhiên vụ Xuân-Hè tại Gia Lâm- Hà Nội” 1.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá đặc điểm thực vật học của tập đoàn lan kiếm Hồng Hoàng nguồn gốc tự nhiên - Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng của lan kiếm Hồng Hoàng nguồn gốc tự nhiên 2 1. Yêu cầu - Tìm hiểu được cách trồng, nhân giống, chăm sóc cây lan kiếm Hồng Hoàng - Bố trí thí nghiệm và theo dõi các chỉ tiêu một cách khoa học, hợp lý - Mô tả được đặc điểm thực vật học của cây. - Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và tình hình nhiễm sâu bệnh hại của cây.
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 2.Giới thiệu về chi Lan kiếm 2. Vị trí, phân loại, nguồn gốc và phân bố a) Nguồn gốc xuất xứ Họ Lan (Orchidaceae) là một trong những họ tồn tại rất lâu đời trên thế giới, người đã biết đến hoa lan từ rất sớm. Ở châu Á, theo tài liệu của Bretchaeider thì từ đời vua Thần Nông (năm 2800 trước Công Nguyên), lan rừng đã được biết đến như một loại thuốc dùng để chữa bệnh. Ở châu Âu, hoa lan cũng được biết đến từ trước Công Nguyên.
Phrastus (376-285) là người đầu tiên dùng danh từ Orchis chỉ một loài lan củ tròn dùng để làm thuốc trị bệnh. Các thế kỷ 16, 17, 18, người châu Âu, đặc biệt là người Anh đã đi khắp thế giới nghiên cứu, sưu tập cây cỏ. Trong thời kỳ này, nhiều loài lan nhiệt đới đã được đưa về Anh. Năm 1794, ở Anh người ta biết được 15 loài lan nhiệt đới.
Robut Bron (1773-1885) là người đầu tiên phân biệt rõ ràng giữa họ Lan và các họ khác; Joanlind (1779-1885) chính là người đặt nền tảng cho môn học về lan. Năm 1836, ông công bố sắp xếp các tông họ Lan (A tabulerview of the Tribes of Orchidaceae) tên của họ Lan được ông đưa ra dùng cho đến ngày nay. Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ đầu chưa rõ ràng, nhiều tài liệu cho rằng người đầu tiên khảo sát về lan ở Việt Nam là Joao de Louverio, một nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha. Ông đã tìm thấy cây lan Giáng hương quế(Aerides odorata) tại một vùng gần Huế.
Năm 1789, ông đã mô tả cây lan tại Việt Nam trong cuốn “Flora cochinchinensis” gọi tên các cây lan Việt Nam trong cuộc hành trình đến đây là Aerides, Phajus và Sacopodium, … chúng đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862-1883). Tuy nhiên, chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam, những công trình nghiên cứu về lan mới được công bố, đáng kể là F.Guillaumin mô tả 70 4 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “ Thực vật chí Đông Dương” do H.Lecomte làm chủ biên, xuất bản năm 1032-1934. Sau năm 1975, các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiếm nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam. Năm 1992, tác giả Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đã phát hành cuốn “Hoa lan tại Đông dương” gồm 200 chi và 2000 loài trong đó có khoảng 136 chi và 720 loài của Việt Nam.
Đến năm 1993, theo tác giả Phạm Hoàng Hộ thì ở Việt Nam có tới 775 loài lan. b) Vị trí, phân bố Chi Lan kiếm (Cymbidium aloifolium) thuộc giới thực vật, Chi Lan kiếm (Danh pháp khoa học: Cymbidium), còn gọi là Đoản kiếm, Thanh ngọc, thuộc loại Địa Lan hay Thổ Lan, là một chi thực vật gồm 52 loài thuộc họ Lan. Chi này được Olof Swartz mô tả lần đầu vào năm 1799. Tên chi có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp kumbos nghĩa là 'lỗ thủng', dựa theo hình dáng môi hoa.
Tên viết tắt của chi này là Cym. Cymbidium cũng là tên của một liên minh hoa lan gồm các chi Ansellia, Cymbidium, Grammatophyllum thuộc Phân họ Lan biểu sinh bậc cao. Chủ yếu gồm 5 loài lan kiếm phân bố khắp Đông Á, gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam. : • Cymbidium sinense • Cymbidium ensifolium • Cymbidium kanran • Cymbidium goeringii • Cymbidium faberi Tại Trung Quốc, Địa lan Kiếm sống ở các thảm rừng núi chủ yếu là ở 16 5 tỉnh miền Trung và Nam Trung Quốc, vô cùng phong phú.
Các nhà khoa học phân loại thành 28 loài trong đó chỉ có 11 là các loài lan Kiếm mọc trên đất (địa lan Kiếm). Tuy vậy chỉ có 6 loài được tôn vinh và chăm sóc như Quốc hoa: Xuân Lan (Cymbidium Goeringii), Xuân Kiếm (Cymbidium Longibracteatum) Kiến Lan (Cymbidium Ensifolium), Mặc Lan (Cymbidium Sinense), Hàn Lan (Cymbidium Karan)[1] c) Phân loại hoa lan Theo hệ thống phân loại của Takhtajan và cộng sự (1987), cây hoa lan (Orchids) thuộc họ lan (Orchidaceae), bộ lan (Orchidales), phân lớp hành (Lilidae), lớp một lá mầm (Monocotyleoneae), ngành ngọc lan – thực vật hạt kín (Magnoliophyta). Theo Takhtajan (1987), họ lan được chia thành 3 họ phụ là: Orchidicideae. Trong đó họ phụ lan (Orchidicideae) là phức tạp nhất, có nhiều giống, loài nhất.
Hai họ phụ kia mỗi loài chỉ có một tông. Gần đây do phân tích đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng họ lan chia thành 6 họ phụ: Orchidicideae. Neottioideae Epidendroideae Vandoideae Cả 6 họ phụ này đều phổ biến rộng rãi trên thế giới. Tại Việt nam, họ lan cũng khá phong phú, theo thống kê sơ bộ gần đây có khoảng 140 chi và 730 loài.
6 Đây là một họ tương đối phong phú và đặc sắc của hệ thực vật Việt Nam, đóng góp rất lớn về mặt giá trị thẩm mỹ và kinh tế cho đất nước. Đặc điểm thực vật học của chi Lan kiếm Về hình thái bên ngoài, lan Cymbidium là những loài thân thảo, đa niên, đẻ nhánh hàng năm tạo thành những bụi nhỏ. Rễ mới thường chỉ mọc ở cây con, cây mẹ khó ra rễ mới mà chỉ thấy phân nhánh từ củ rễ. - Thân ngầm (căn hành) thường ngắn, nối những củ lan với nhau.
Các củ lan thực chất là những cành ngắn của căn hành. Củ già, khi bị tách khỏi căn hành cũ, có thể mọc ra đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên những cây con. Do đó người ta xếp Cymbidium vào nhóm lan đa thân cây (sympodial). - Củ lan (giả hành) thường có dạng con quay hay dạng hột xoài, đường kính từ 1 cm đến 15 cm, củ thường tươi và được bọc trong các bẹ lá.
- Lá thường có hai dạng: dạng vảy đính theo một đoạn căn hành và dạng thực đính trên giả hành. Lá thực có cuống lá, giữa bẹ lá và cuống lá có một tầng phân cách. Khi phiến lá rụng, vẫn còn đoạn bẹ ôm lấy giả hành. Vài loài không có cuống lá.
Lá có dạng dải, dạng mũi mác, dạng phiến. Đầu lá nhọn hay chia thành 2 thùy. Kích thước của bản lá biến động từ 0,5 cm đến 6 cm. Chiều dài lá thay đổi từ 10 cm đến 150 cm.
Một số loài ít chịu rợp có phiến lá màu xanh vàng, còn lại thường là xanh đậm.