Đặt vấn đề Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, có nguồn gốc Nam Mỹ, được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Từ xưa đến nay, cây lạc đóng vai trò quan trọng trong đời sống và kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Cây lạc cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp ép dầu. Ngoài ra cây lạc còn có tác dụng cải tạo đất, nhờ lượng chất xanh lớn nếu dùng làm phân bón, bộ rễ có vi khuẩn cộng sinh cố định đạm, tạo ra lượng đạm sinh học cung cấp cho cây và làm tăng độ phì đất.
Cây lạc là cây trồng ngắn ngày, do vậy dễ dàng tham gia vào hệ thống luân canh và xen canh cây trồng theo hướng nông nghiệp bền vững. Đối với con người, lạc là một trong những loại thực phẩm có nguồn dinh dưỡng cao. Bộ phận sử dụng chủ yếu của lạc là hạt. Với hàm lượng dầu cao nên lạc là một trong số những cây cung cấp dầu quan trọng trên thế giới.
Ngoài ra hạt lạc còn chứa nhiều khoáng chất như Ca, Fe, Mg, P, K, Zn. Hạt lạc còn chứa lượng vitamin lớn, đặc biệt là vitamin B. Vì vậy hạt lạc và sản phẩm chế biến từ hạt là nguồn cung cấp khoáng chất, vitamin đáng kể cho con người. Dầu của hạt lạc chủ yếu chứa axit béo chưa no, cơ thể con người dễ hấp thụ, hạn chế lượng colestoron trong máu, giúp hạn chế một số bệnh.
Vì thế, ngoài là thức ăn giàu năng lượng, đủ protein, người ta còn quan tâm đến khả năng chữa bệnh của hạt lạc và sản phẩm chế biến từ hạt lạc. Hiện nay, bằng những nghiên cứu sâu, y học hiện đại đã cho thấy hạt lạc có tác dụng hạn chế được nhiều loại bệnh như tiểu đường, béo phì, tiêu chảy, chống oxi hóa tế bào có lợi cho sức khỏe. Từ lạc có thể chế biến thành các món ăn như: lạc luộc, lạc rang, lạc nấu canh, muối vừng lạc. Hạt lạc chứa giá trị dinh dưỡng cao, do vậy không chỉ là thức ăn trực tiếp của con người từ xưa mà hiện nay lạc được chế biến thành rất 1 nhiều sản phẩm như: bơ lạc, lạc chao dầu, bột lạc, pho mát lạc, sữa lạc, protein lạc, lạc rút dầu rang, lạc luộc ủ men, dầu lạc…đáp ứng nhu cầu con người.
Trong đó dầu lạc là một loại dầu thực vật tốt đối với cơ thể con người nên đang được thay thế dần mỡ động vật không chỉ ở các nước phát triển và ngay cả các nuớc đang phát triển. Vì vậy trong tương lai, lạc và sản phẩm chế biến từ hạt lạc vẫn mãi là thực phẩm có giá trị và hấp dẫn đối với loài người trên toàn thế giới. Ngoài phục vụ thức ăn cho con người, cây lạc còn là nguồn thức ăn cho chăn nuôi, phong phú về chủng loại, dồi dào về số lượng và chất lượng cao. Tất cả các sản phẩm phụ như vỏ quả, quả và hạt lép lại ra được nghiền làm cám lạc là thức ăn tốt cho gia súc.
Thêm vào đó, sau khi thu hoạch quả, cây lạc tạo ra từ 5 đến 15 tấn thân lá/ha, là nguồn thức ăn xanh rất tốt cho đại gia súc. Như vậy đối với gia súc các sản phẩm từ cây lạc là nguồn thức ăn quan trọng. Cây lạc cũng như các cây họ đậu khác, được coi là những cây xứ mệnh của cải tạo đất. Rễ cây lạc có vi khuẩn nốt sần cố định đạm “Rhizobium vigna ”.
Vì vậy khi trồng lạc, rễ cây lạc và vi khuẩn có thể tổng hợp đạm tự do của khí trời thành đạm sinh học phục vụ cho cây. Theo các tài liệu, lượng N được tổng hợp khi trồng lạc đạt từ 70 đến 110 Kg N/vụ/ha. Như vậy trồng lạc đã làm tăng độ phì của đất, tăng năng suất rõ rệt cây trồng sau. Mặt khác, sau khi thu hoạch quả, lượng thân lá lạc lớn, lá lạc có hàm lượng đạm cao (từ 0,31 đến 0,33%) có thể là nguồn phân hữu cơ tốt bón cho đất, tăng lượng đạm vào đất, cải tạo lý tính đất rất tốt.
Vì vậy, lạc là cây trồng quan trọng trong hệ thống xen canh, luân canh với các loại cây trồng khác, đặc biệt có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc cải tạo đất đối với những vùng đất bạc màu. Để đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực, con người phải áp dụng nhiều biện pháp khoa học kỹ thuật để khai thác triệt để sức lao động của đất. Việc sử dụng giống mới, phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cùng với việc thâm canh cao, luân canh gối vụ diễn ra liên tục, đất không có thời gian nghỉ đã khiến đất bị thoái hóa, mất chất dinh dưỡng, diện tích đất bạc màu ngày mở 2 rộng. Bên cạnh quỹ đất bạc màu, một quỹ đất khác cần quan tâm để mở rộng đât canh tác là cồn cát ven biển Việt Nam.
Đất cát biển Việt Nam với tổng diện tích 533.434 ha, chiếm gần 10% diện tích đất nông nghiệp vùng đồng bằng của cả nước. Một số vùng đất cát ven biển là nơi tập trung đông dân cư, hình thành các đặc khu kinh tế và du lịch mang lại thu nhập cao cho người lao động. Phần còn lại được sử dụng làm rừng phòng hộ, sản xuất nông nghiệp và cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên, nhóm đất này có đặc tính nghèo dinh dưỡng, thành phần cơ giới nhẹ, độ rỗng lớn nên còn tồn tại nhiều hạn chế cho trồng trọt và sản xuất nông nghiệp.
Hơn nữa, nghèo dinh dưỡng và khan hiếm nước tưới dẫn đến sản phẩm cây trồng phát triển chưa phong phú, năng suất thấp hơn nhiều so với các vùng đất khác. Chính vì vậy, việc cải tạo đất các nhóm đất này là vấn đề cấp bách cần được giải quyết nhằm nhanh chóng ổn định và nâng cao độ phì nhiêu của đất, giúp tăng năng suất cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực. Tro bay là sản phẩm phế thải rắn được hình thành trong quá trình đốt than ở nhiệt độ cao tại các nhà máy nhiệt điện. Tính đến năm 2016 nước ta có tổng cộng 20 nhà máy nhiệt điện hoạt động với tổng công suất là 13.110 MW thải ra khoảng trên 15,7 triệu tấn tro/năm (Bộ Xây dựng 2016).
Ngoài việc gây tốn hàng nghìn ha đất để chứa và chôn lấp thì tro xỉ nhiệt điện còn là nguồn gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây đã cho thấy tro bay có thể được tận dụng làm chất cải tạo đất nông nghiệp (Singh & cs. Hiệu quả đạt được còn phụ thuộc rất nhiều vào các tính chất tro bay mà chịu ảnh hưởng của công nghệ đốt than, công nghệ thu gom và nguyên liệu than mẹ. Mặt khác, khả năng cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng của các loại tro bay là rất khác nhau trên các đối tượng đất và cây trồng khác nhau (Yunusa & cs.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng cuả tỷ lệ phối trộn tro bụi bay nhà máy nhiệt điện đến sinh trưởng và phát triển của cây lạc trên các nền đất khác nhau. Mục đích nghiên cứu - Xác định tỷ lệ phối trộn phù hợp giữa tro nhà máy nhiệt điện với các loại đất khác nhau nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây lạc. - Xác định những ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn đến chất lượng lạc. - Xác định những ảnh hưởng của các nền đất khác nhau đến chất lượng lạc.
- Nâng cao khả năng sử dụng đất dựa trên việc cải tạo và phối trộn thêm giá thể. 4 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CỦA CÂY LẠC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1 Tình hình sản xuất của cây lạc trên thế giới Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Trên thế giới, trong số các loại cây có dầu ngắn ngày, lạc xếp thứ 2 sau đậu tương về diện tích và sản lượng, xếp thứ 13 trong các loại cây thực phẩm, xếp thứ 3 về các loại cây trồng cung cấp protein, xếp thứ 4 về nguồn dầu thực vật.
Mặc dù cây lạc đã có từ lâu đời nhưng vai trò kinh tế của cây lạc vẫn chưa được xác định cho đến gần 100 năm trở lại đây. Vào giữa thế kỷ 18, sản xuất lạc trên thế giới chỉ có thể duy trì sinh kế của nhiều vùng khác nhau. Nhưng cho đến nay, việc sử dụng và nhu cầu của người tiêu dùng đối với lạc ngày càng tăng, và triển vọng thị trường lạc cũng rất khả quan. Đây là cơ hội để thúc đẩy các nước đầu tư phát triển sản xuất lạc, không chỉ về diện tích sản xuất, mà cả về năng suất, sản lượng lạc thế giới.
Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO) thì tình hình sản xuất lạc của những năm gần đây ngày càng được mở rộng và phát triển được thể hiện qua các tiêu chí như: diện tích, năng suất và sản lượng lạc qua từng năm, cụ thể được thể hiện qua bảng 2.1: Tình hình sản xuất lạc trên thế giới từ năm 2006 -2019 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm ( triệu ha) (kg/ha) (Triệu tấn) 2006 21,576 15486 33,413 2007 22,759 16481 37,509 2008 24,259 15976 38,756 2009 24,151 15467 37,354 2010 26,141 16622 43,450 2011 25,101 16280 40,864 2012 25,563 16438 42,020 2013 27,256 17030 46,418 2014 26,990 16847 45,470 2015 26,800 16820 45,077 2016 27,660 15901 43,982 2017 27,940 16856 47,097 2018 29,703 17133 50,889 2019 29,597 16474 48,756 (Nguồn: Theo FAOSTAT năm 2021) Qua bảng số liệu cho thấy, diện tích, năng suất, sản lượng lạc hàng năm trên thế giới có sự biến động. Cụ thể như sau: Diện tích trồng lạc nhìn chung có xu hướng tăng dần qua các năm 2006 - 2019. Năm 2006 diện tích đạt 21,576 triệu ha, sau đó tăng lên đến năm 2010 diện tích lạc đạt 26,141 triệu ha, năm 2011 giảm xuống chỉ còn 25,101 triệu ha nhưng đến năm 2016 diện tích trồng lạc có sự thay đổi rõ rệt, diện tích trồng lạc năm 2019 là 29,597 triệu ha. Năng suất lạc cũng ngày càng được tăng lên rất nhiều nhờ được áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất cũng như công tác chọn tạo ra các 6 giống mới.
Năm 2006 năng suất lạc đạt 15.486 kg/ha nhưng đến năm 2019 năng suất lạc đã đạt được ở mức 16.474 kg/ha tăng 988 kg/ha.