Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Téng quan về các công trình đã công bố về đặc điểm lâm học và gây trồng tre, trúc 1. Trên thế giới 1.1 Giá trị sử dụng tre trúc trên thế giới Tre trúc đã được con người biết đến và sử dụng từ rất lâu đời, có thể nói từ hàng nghìn năm trước đây cho đến ngày nay như: làm nhà, cửa, trang trí nội thất, đồ gia dụng, nông cụ, làm nguyên liệu chế biến giấy, dệt may, làm thức ăn, sử dụng trong xây dựng, giao thông vận tải,. Tre trúc là nguồn tài nguyên quan trọng, thu hút sự quan tâm sử dụng vào nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội khác nhau, không những thân khí sinh có một số đặc điểm giống gỗ và chúng còn có một số đặc điểm khác với gỗ như: giá trị kinh tế cao, phạm vi phân bố rong, dé tdi tạo, sinh trưởng nhanh, sản lượng cao, khi khai thác ít ảnh hưởng đến môi trường và tính bền vững của rừng (Prosea, 1995){26].
Trong vài thập kỷ gần đây, diện tích rừng tự nhiên đang có xu hướng giảm dần cả về số lượng và chất lượng, nguồn nguyên liệu gỗ trở nên hiếm dần. Hơn nữa, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, tre trúc ngày càng được sử dụng nhiều hơn, các sản phẩm và mẫu mã sản phẩm ngày càng đa dạng hơn, nên tỷ lệ sử dụng các sản phẩm từ tre trúc ngày càng nhiều hơn. Chính vì vậy, tre trúc được coi là nhóm lâm sản ngoài gỗ quan trọng thứ 2 sau gỗ. Nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện nay, cùng với sự đô thị hóa ngày cảng tăng nhanh, tải nguyên rừng ngày cảng cạn kiệt, gỗ nguyên liệu dùng trong xây dựng ngày càng khan hiếm.
Mặt khác, để có gỗ sử dụng đòi hỏi chu kỳ 30-50 năm thậm chí đến hàng trăm năm. Trong khi đó, tre trúc là loài cây sinh trưởng nhanh, từ khi trồng đến khi cho khái thác kinh doanh rất ngắn, từ 3 - 5 năm, khả năng tái sinh mạnh và nhanh, trồng một lần khai thác nhiều lần và thường xuyên, khi khai thác ít ảnh hưởng tới môi trường. Đặc biệt, cây tre gắn bố với đời sống người dân, nhất là người dân nông thôn miền núi, nên dễ phát triển và phát triển bền vững. Trên thế giới có khoảng 1.300 loài tre, thuộc 70 chi, theo Zhou Fangchun (2000)27], Trung Quốc là quốc gia có số lượng loài tre nứa nhất thế giới, hiên tại đã xác định có khoảng 500 loài, thuộc 50 chi và có khoảng 7 triệu ha; tiếp theo là Nhật Bản có 230 loài, 13 chi và khoảng 100.000 ha; Án Độ có 136 loài, 19 chỉ; Myanma có 90 loài, 19 chỉ.
Hàng năm giá trị xuất nhập khẩu các mặt hàng từ tre trúc lên tới 1,74 tỷ đô la Mỹ với các mặt hàng chủ yếu là ván công nghiệp (chiếm 24%), nguyên liệu cho công nghiệp dệt (chiếm 22%), măng (chiếm 18%), đồ nội thất (chiếm 15%), nguyên liệu thô (chiếm 6%), than hoạt tính (chiếm 3%) và còn lại là các sản phẩm khác. Trong đó, Trung Quốc là nước xuất khẩu các sản phẩm từ tre cũng đứng hàng đầu thế giới, kim ngạch xuất khẩu riêng của năm 2015 lên tới khoảng 1,2 tỷ đô la Mỹ. Việt Nam là nước xuất khẩu các sản phẩm tre trúc xếp thứ 4 sau Trung Quốc, EU và Indonesia với kim ngạch xuất khẩu của năm 2015 khoảng 102 triệu đô la Mỹ (TNBAR, 2018). Nghiên cứu về tên gọi, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, vật hậu -VỀ tên goi.
Lung là mot loai trong phan ho Tre (Bambusoideae), ho Hoa Thao (Poaceae). Trén thé giới, trước năm 1995 đã xác định phân họ Tre có khoảng hơn 1000 loài thuộc 80 chi, trong đó có khoảng hơn 200 loài thuộc 20 chi được phát hiện ở khu vực Đông Nam Á (Prosea, 1995) [26]. Sau đó các nhà thực vật học đã phát hiện bố sung có khoảng hơn 1.400 loài, trong đó khu vực Đông Nam Á có tới khoảng 300 loài (Naresworo Nugroho, 2015). Những loài được phát hiện ở khu vực Đông Nam Á có một số loài chưa xác định được tên khoa học, trong đó có loài Lùng phân bố ở Việt Nam.
Cây Lùng ở Việt Nam được các nhà khoa học tạm thời đặt tên khoa học là Bambusa longgissia sp. - Về đặc điểm hình thái: hầu hết các loài tre trúc trên thế giới đều đã được các nhà thực vật học mô tả về hình thái tương đối kỹ từ hình dáng bụi, hình đáng và kích thước thân ngầm, rễ, măng, thân khí sinh, cành, mo, lóng, lá, hoa, quả, hạt. nhất là các loài tre trúc của Trung Quốc, Indonesia (Prosea, 1995); (Zhu Shilin Ma Naixun Fu Maoyi, 1995). Tuy nhiên, việc mô tả hình thái loài tre có tên khoa học là Bambusa longgissia sp.nov chưa được đề cập trong các tài liệu của thế giới.
Như vậy, loài Bambusa longgissia sp.nov chưa được các nhà khoa học trên thế giới mô tả đặc điểm hình thái đầy đủ, làm cơ sở khoa học cho việc phân loại và nhận biết. - Về phân bố: các nhà khoa học cho rằng tre trúc có phân bồ tự nhiên rộng ở hầu hết các nước nhiệt đới và á nhiệt đới (ngoại trừ Châu Âu và vùng Tây Á) ở độ cao dưới 4. Trên thế giới, tre nứa phân bố tập trung chủ yếu ở các nước nhiệt đới Châu Á và Châu Mỹ, tập trung nhiều nhất ở Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar,. - Về đặc điểm sinh thái: các nhà phân loại thực vật cho rằng tre trúc thích hợp với nhiều loại đất, độ cao, địa hình và khí hậu khác nhau.
Tre trúc ở Đông Nam Á có biên độ sinh thái rộng, từ độ cao thấp vùng đồng bằng cho tới vùng núi cao, ở nơi có khí hậu rất đa dạng, tập trung chủ yếu ở khu vực khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Tre trúc cũng thích hợp với nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất trên các loại đất tốt, giàu dinh dưỡng, nhất là NPK, xp, am thường xuyên, dễ thoát nước, không bị úng ngập. - Về đặc điểm sinh trưởng, tái sinh: các nhà khoa học cho rằng tre trúc thường tái sinh thân ngầm mới trên thân ngầm từ năm trước gọi là măng. Thân khí sinh được phát triển từ măng.
Hàng năm, một bụi tre trúc có thể sinh ra được từ 5 - 10 - 20 thân khí sinh mới, một bụi có thể có từ 50 - 100 thân khí sinh. Chiều cao thân khí sinh trung bình từ 15 - 20m, nhiều loài có thê đạt tới 30m, đường kính có thể đạt tới 35cm. Thân khí sinh chỉ sinh trưởng chiều cao và đường kính trong khoảng từ 60 - 120 ngày sau khi măng nhú khỏi mặt đất, trung bình tốc độ tăng tưởng chiều cao khoảng từ 10 - 30cm/ngày, có loài đạt tới 70 cm (tùy thuộc từng loài nhưng chưa đề cập đến loài Lùng). Việc phát triển cảnh lá chi được thực hiện khi thân khí sinh bắt đầu ổn định về hình dáng, kích thước (Prosea, 1995) [26].
Đây là một vấn đề cần lưu tâm trong quá trình thâm canh rừng Lùng tre nứa mọc cụm nói chung va loài Lung noi riêng. - Về vật hậu: các nhà nghiên cứu cho rằng tre trúc thường thường ra hoa toàn bộ quần thể ở giai đoạn từ 20 - 120 năm. Mức độ ra hoa thường phụ thuộc vào quần thé tre trúc có được quản lý tốt hay không. Thông thường nếu điều kiện lập địa tốt sẽ chậm ra hoa.
Sau khi nở hoa, hình thành hạt, hạt bắt đầu rụng và tái sinh vào thời gian có độ âm cao (Prosea, 1995)[26]. Đây là vấn đề cần lưu tâm trong quá trình nghiên cứu theo dõi vật hậu trong thâm canh rừng Lùng. Các kết quá nghiên cứu về đặc điểm hình thái, tên gọi, đặc điểm sinh thái, phân bố của loài tre có tên khoa học là Bambusa longgissia sp.nov vẫn chưa được cập nhật ở các tải liệu trên thế giới. Điều này cần được nghiên cứu, công bồ trong thời gian tới.
Nghiên cứu về giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, phục tráng rừng tre trúc. - Về chọn và nhân giống: tông hợp các kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều phương pháp nhân giống tre trúc bao gồm nhân giống hữu tính, nhân giống vô tính từ hom gốc (thân ngầm), hom thân, hom cành và nuôi cấy mô tế bào (Ramanujia Rao et al. Tuy nhiên, việc nhân giống hữu tính (bằng hạt) tính khả thi không cao bởi vì phương pháp nhân giống này phải dựa vào khả năng cho hạt của cây. Nhiều loài tre trúc ra hoa sau một thời gian sống rất dài.
Khi cây ra hoa thì hầu hết rừng tre trúc sẽ chết hàng loạt. Hạt tre nhanh mất sức nảy mầm nếu bảo quản ở nhiệt độ thường, tối đa trong vòng 60 ngày là mất sức nảy mầm. Khi bảo quản trong nhiệt độ lạnh (5 - 6°C), thời gian bảo quản tối đa là 24 tháng tùy thuộc vào từng loài (Ramyarangsi, 1990). Vì vậy phương pháp nhân giống triển vọng và phô biến nhất đề phục vụ trồng rừng hiện nay vẫn là nhân giống vô tính bằng hom gốc, hom thân, hom cành, trong đó phương pháp nhân giống bằng hom gốc là phổ biến, đặc biệt với các loài tre trúc mọc tản.
Sử dụng hom gốc có tuôi thân khí sinh từ 1 - 2 năm, tách ra và cắt bớt thân khí sinh chỉ đề độ đài khoảng I1 - 2 lóng, sau đó giâm trên luống đất âm trong vườn ươm vào mùa mưa. Sau 2 - 3 tháng rễ bắt đầu phát triển. Sau 6 tháng cây con đủ tiêu chuẩn có thể đem trồng. Nhân giống bằng hom thân sẽ cho hệ số nhân cao.
Hom thân ở tuôi 2 thường cho tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ cao nhất, tùy thuộc vào từng loài. Sau khi gieo ươm khoảng 6 - 24 tháng, cây khi có 1 - 2 cành thứ cấp đủ tiêu chuẩn có thê đem trồng. Việc nhân giống bằng cành có ưu điềm là hệ số nhân lớn. Cành giâm được lấy từ thân khí sinh 1 - 2 năm tuổi, được kích thích bằng thuốc kích thích ra rễ IAA nồng độ 100 ppm.
Sau khi giâm trong cát hoặc bầu đất âm từ 3 - 6 cành bắt đầu ra rễ, từ 12-15 tháng cây ra đầy đủ rễ và cành thứ cấp là đủ tiêu chuẩn đem trồng. Ngoài ra, có thê nhân giống bằng phương pháp chiết cảnh, các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở chi Dendrocalamus với tỷ lệ sống khoảng 50% (The Committee for Bamboo, 1994). Việc nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào cũng có tiềm năng, triển vọng lớn nếu thành công.