Đặt vấn đề Cam quýt là một trong những cây ăn quả đặc sản lâu năm của Việt Nam bởi giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40-90mg/100g tươi, các axit hữu cơ 0,4-1,2% trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm, mặt khác cam có thể dùng ăn tươi, làm mứt, nước giải khát, chữa bệnh. Trong những năm gần đây, diện tích trồng cam ở nước ta ngày càng được mở rộng, việc phát triển cây cam được xem như là một giải pháp trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở nhiều địa phương. Năm 1990, theo Tổng cục Thống kê cho biết cả nước có 19.062ha cam quýt với sản lượng 119.238 tấn, trong đó chỉ có 3 tỉnh trồng hơn 1.000ha là Thanh Hóa, Nghệ An, Bến Tre và 2 tỉnh trồng hơn 2.000ha là Tiền Giang và Hậu Giang.
Năng suất cam quýt ở 2 tỉnh phía Bắc chỉ đạt 20–25 tạ/ha, trong khi 3 tỉnh phía Nam đạt 47–153 tạ/ha. Theo số liệu Tổng cục Thống kê năm 1995 sản lượng cam quýt vùng đồng bằng sông Cửu Long là 124. Hiện nay, sản lượng và diện tích trồng cây có múi đang có xu hướng gia tăng do mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với các loại cây trồng khác. Điều này đã kích thích nhà vườn mạnh dạn đầu tư vào việc trồng cây có múi.
Theo niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, diện tích cây có múi của Việt Nam 1999 đạt 63.364ha, có sản lượng 504. Diện tích và sản lượng cây có múi tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 53,6% (diện tích) và 70,33% (sản lượng) tiếp đến là vùng núi phía Bắc, vùng khu 4 cũ. Nếu so với diện tích cây ăn quả thì cây có múi chiếm 12% diện tích cây ăn quả cả vùng. Việt Nam là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh cây có múi (Trung tâm Đông Nam Á), nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới thích hợp với 1 nhiều giống, loại cây cam quýt.
Theo sách sử “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn có viết: “Nước Nam ta có nhiều thứ cam: cam sen (liên cam); cam vú (nhũ cam) da sần mà vị rất ngon; cam chanh (đắng cam) da mỏng và mỡ, vừa chua vừa ngọt thanh; cam sành (sinh cam) da dày, vị chua; cam mật (mật cam) da mỏng, vị ngọt; cam giấy (chỉ cam) tức là kim quất, da rất mỏng, sắc hồng, trông đẹp mã, vị chua; cam động đình, quả to, vỏ dày, vị chua”. “Quất trục (cây quýt, cây bưởi) có chép trong Thiên Vũ Cống và sách Chu Thư. Ấy là sản vật quý của Nam Phương mang sang Trung Quốc trước tiên”. Như vậy cam quýt ở Việt Nam đã được trồng từ rất lâu đời.
Với diện tích trồng trên khắp cả nước là tương đối lớn, nhiều giống cam quýt đã được tuyển chọn và ngày nay đã trở thành đặc sản như: cam Đường Canh, quýt Đường… Đây là những giống ngon nổi tiếng, được thị trường ưa chuộng, nhận thấy có tiềm năng kinh tế lớn nên gần đây các địa phương rất chú trọng phát triển và mở rộng. Tuy nhiên việc sản xuất cam quýt ở nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn về chất lượng giống, sâu bệnh hại, diện tích trồng manh mún, kỹ thuật canh tác thấp, quả không đồng đều, năng suất và chất lượng quả thay đổi và giảm sút. Cùng với điều kiện khí hậu thời tiết thất thường, thị trường cạnh tranh gay gắt, đất đai sản xuất dần bị thu hẹp và đặc biệt là chất lượng các cây con giống. Vì vậy việc nghiên cứu chọn tạo và xây dựng các quy trình trồng trọt, nhân giống đảm bảo chất lượng cây con giống sạch bệnh, năng suất, chất lượng tốt là yêu cầu thực tế đặt ra.
Công tác chọn tạo giống cây ăn quả trong các năm gần đây của thế giới đã thu được nhiều thành quả quan trọng nhờ ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong công nghệ sinh học. Nhiều giống mới ra đời với ưu thế vượt trội các giống đã có góp phần thúc đẩy sản xuất cũng như tiêu thụ quả trên thế giới. Cây ăn quả có nhiều loài, giống và các dòng vô tính khác nhau thích ứng với điều kiện ngoại cảnh khác nhau. Nhiều giống, dòng do các nguyên nhân khác nhau việc duy trì khó 2 khăn và nhiều giống quý đã bị mai một.
Để chọn tạo giống mới với đặc tính vượt trội và tính thích ứng cao, xu hướng nghiên cứu giống và chọn giống tập trung vào công tác bảo tồn, lưu giữ và sử dụng tài nguyên di truyền để cải thiện giống Xuất phát từ những nguyên nhân, lý do và yêu cầu về cây con giống để phát triển cây cam quýt chất lượng cao, là cây ăn quả đặc sản quan trọng trong cơ cấu cây trồng phục phụ nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu trong khuôn khổ đề tài, nội dung thu thập và đánh giá một số giống cam quýt đã được tiến hành. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Thu thập, đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số giống cây có múi bản địa tại đảo Thanh Lân- Cô Tô – Quảng Ninh. - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại gốc ghép đến tỷ lệ sống và chất lượng cây con trong giai đoạn vườn ươm.
Yêu cầu - Điều tra, tìm hiểu điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội của đảo Thanh Lân. - Điều tra, tìm hiểu về đặc tính sinh trưởng và phát triển của các giống cây có múi bản địa. - Thu mẫu: lá, cành, quả … để đánh giá đặc điểm sinh vật học. - Tiến hành thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của một số loại gốc ghép đến tỷ lệ sống và chất lượng cây con trong giai đoạn vườn ươm.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho các cơ quan nghiên cứu, chính quyền địa phương xây dựng chính sách phù hợp trong việc thúc đẩy phát triển ngành sản xuất cây ó múi nói chung và sản xuất cây quýt nói riêng. 3 Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số loại gốc ghép cây có múi với các giống cam, quýt địa phương tại đảo Thanh Lân – Cô Tô – Quảng Ninh. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học, phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu trên cây cam, quýt ở nước ta.
Ý nghĩa thực tế Xác định được ảnh hưởng của gốc ghép đến các giống địa phương tại đảo Thanh Lân – Cô Tô – Quảng Ninh. Tìm ra được tổ hợp ghép thích hợp. Xác định một số đặc điểm hình thái, thời vụ thu hoạch của một số giống cam, quýt bản địa. Từ đó, góp phần cho công tác chọn tạo giống và sản xuất cây quýt ở nước ta.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về cây có múi 2. Nguồn gốc và phân bố cam, quýt Nguồn gốc, cây có múi bao gồm cam ngọt (Citrus sinensis), quýt (Citrus reticulata) và vô số con lai tự nhiên giữa chúng có nguồn gốc từ Đông Nam Á, Nam Trung Quốc, Đông Dương, Mã Lai đến Ấn Độ theo Swingle và Reece (1976). Do cam quýt có từ rất lâu đời nên việc tìm ra trung tâm phát sinh cụ thể cho loại cây này là rất khó khăn.
Một số tác giả cho rằng nguồn gốc các loại cây có múi ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc vùng Châu Á – Thái Bình Dương, mặc dù có vài loài tìm thấy ở Châu Phi. Tanaka (1979) đã chỉ ra ranh giới vùng xuất xứ của chi Citrus trải dài từ phía đông Ấn Độ (Chân dãy Hymalaya), qua Úc, miền nam Trung Quốc, Nhật Bản … Theo Trần Thế Tục (1980), nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3000 – 4000 năm trước. Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “Quýt lục” đã ghi chép và phân loại các giống quýt ở Trung Quốc. Điều này cũng khẳng định thêm về nguồn gốc các giống cam chanh (Citrus sinensis Osbeck) và các giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới mà Tanaka đã đưa ra.
Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc quýt King (Citrus nobilis Lour) và quất là ở miền Nam Việt Nam xứ Đông Dưong. Quả thực ở Việt Nam ta từ bắc chí nam, địa phương nào cũng trồng cam sành với rất nhiều giống, dạng hình cùng với các tên địa phương khác nhau mà không noi nào trên thế giới có: cam sành Bố Hạ; cam sành Hàm Yên, Yên Bái; cam sen Yên Bái, cam sen Đình Cả - Bắc Sơn,, cam bừ Hà Tĩnh. Và ở khắp nơi trong nước đều có giông quý. Cây quýt là cây có tính thích ứng rất mạnh mẽ với mọi điều kiện sinh thái của Việt Nam.
Phân loại cam, quýt Hệ thống phân loại cam quýt rất phức tạp do vòng di thực cùng với khả năng thích ứng rộng của cam quýt. Những đột biến tự nhiên và việc lai tạo tự nhiên thường xuyên xảy ra, tạo ra các giống mới được tạo ra ngày càng nhiều nên việc thiếu sót và nhầm lẫn là điều không thể tránh khỏi. Việc phân loại cam quýt đã được các nhà nghiên cứu tiến hành từ hơn 200 năm trước. Người đầu tiên đưa giống Citrus sắp xếp vào hệ thống thực vật học là K.
Ban đầu, trong tác phẩm Species Platarium ông chia giống citrus thành 2 loài đó là: Citrus medica (L) và Citrus aurantium (L). Trong lần xuất bản thứ hai năm 1763 ông đã bổ sung thêm loài “Citrus Trifloliata”. Năm 1767 trong tác phẩm”Systema Nature” ông đưa thêm một vài loài Citrus decumana (L) – Bưởi (Lũ – xơ, 1947). Cam, quýt, chanh, bưỏi.
đều thuộc họ cam (Rutaceae) họ phụ cam quýt Aurantoideae, có gần 250 loài (Varonxôp, Steiman, 1982). Hệ thống phân loại đầu tiên của Liné (1753) đến nay đã được nhiều tác giả bổ sung, điều chỉnh trên căn bản thống nhất với hệ thống phân loại của Swingle (1915, 1948, 1967) như sau: Họ phụ Aurantoideae được chia thành 2 tộc chính là Clauseneae (1) và Citreae (2). Tộc 2 được chia thành 3 tộc phụ, trong đó tộc phụ thứ 2-Citrineae bao gồm phần lớn các loài và giống cam quýt nhà trồng hiện nay. Citrineae được chia thành 3 nhóm A, B, c.
Nhóm c được chia thành 6 chi phụ (subgenus): Fortunella; Eremocitrus, Poncirus, Clymenia, Microcitrus và Citrus. Theo hệ thống phân loại của Swingle và G.Hogdson: cây có múi là lớp 2 lá mầm Dicotyledones, ngành ngọc lan Lignosea, bộ Rutales, họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae. Phân loại cây ăn quả có múi rất phức tạp và còn nhiều tranh cãi, hầu hết việc phân loại các giống trong họ phụ Arantioideae hiện nay do (Swingle và Reece, 1967), (Sykes, 1987) và (Jones,1990).