Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ăn quả có múi (Citrus) giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu ngành trồng trọt tại Việt Nam nhờ giá trị kinh tế và hàm lượng dinh dưỡng cao. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), sản lượng cam quýt toàn cầu niên vụ 2009/2010 đạt mức cao ở các quốc gia như Brazil (17,750 triệu tấn), Hoa Kỳ (7,444 triệu tấn) và Trung Quốc (6,350 triệu tấn). Tại Việt Nam, diện tích cây có múi năm 2008 đạt 87.500 ha, diện tích cho sản phẩm đạt 64.000 ha với năng suất bình quân 117,3 tạ/ha và tổng sản lượng đạt khoảng 683.000 tấn. Tuy nhiên, sản xuất thực tiễn gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng do áp lực dịch bệnh, điển hình là bệnh vàng lá gân xanh (Greening - Huanglongbing) và các bệnh truyền nhiễm do virus lây lan làm suy thoái vườn cây. Trước thực trạng đó, việc nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép mắt sạch bệnh đóng vai trò thiết yếu trong việc cung ứng giống đạt chuẩn.

Giống cam sành không hạt LĐ6 là kết quả chọn tạo của Viện Cây ăn quả miền Nam thông qua phương pháp xử lý chiếu xạ tia gamma trên mầm ngủ của giống cam sành thương phẩm, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ từ tháng 12 năm 2010. Giống LĐ6 sở hữu đặc tính sinh trưởng khỏe, tỷ lệ hạt phấn bất dục cao trên 70%, khả năng đậu quả tự nhiên tốt, số hạt dưới 2 hạt/quả, độ Brix trung bình 8% và hàm lượng nước đạt 40–42%. Nhằm mở rộng khả năng thích ứng và phát triển giống cây này tại khu vực phía Bắc, đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của kiểu ghép và gốc ghép đến khả năng nhân giống của cam sành không hạt LĐ6 tại Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội" được thực hiện.

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xác định được tổ hợp kiểu ghép và gốc ghép thích hợp nhất cho quá trình nhân giống cam sành không hạt LĐ6 trong vườn ươm. Để đạt được mục tiêu này, tác giả đã xác định 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ ghép đến bật mầm của cam sành không hạt LĐ6;
  2. Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ sống của cam sành không hạt LĐ6;
  3. Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến chiều cao mầm ghép của cam sành không hạt LĐ6;
  4. Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến số lá/mầm ghép của cam sành không hạt LĐ6;
  5. Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến một số chỉ tiêu cành ghép (chiều dài cành ghép, số lá/cành ghép) của cam sành không hạt LĐ6;
  6. Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ xuất vườn của cam sành không hạt LĐ6;
  7. Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến mức độ sâu bệnh hại trên cam sành không hạt LĐ6.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu gồm 2 giống làm gốc ghép là gốc bưởi chua (Citrus grandis) 6 tháng tuổi và gốc chấp 6 tháng tuổi; giống làm mắt ghép là cam sành không hạt LĐ6 (Citrus nobilis Lour.) lấy từ cây đầu dòng 4–6 năm tuổi sinh trưởng khỏe mạnh.
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu cây có múi Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Theo dõi và thu thập số liệu từ tháng 9/2016 đến tháng 12/2016 (ngày ghép cây: 29/08/2016; thời điểm kiểm tra xuất vườn: 12/12/2016).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học của kỹ thuật nhân giống ghép cây dựa trên nguyên lý sinh học về sự tiếp hợp mô giữa các cơ quan dinh dưỡng cùng loài hoặc có quan hệ huyết thống gần gũi. Khi áp sát phần tượng tầng (tầng phát sinh mô mạch - cambium) của cành ghép/mắt ghép với gốc ghép, các tế bào nhu mô bị thương tổn tại mặt cắt sẽ phân chia nhanh chóng để hình thành mô sẹo liên hợp (callus). Mô sẹo này sau đó phân hóa thành các bó mạch dẫn (bó libe và bó mạch gỗ), tái lập hệ thống dẫn truyền liên tục giữa hai phần để lưu thông nhựa nguyên từ bộ rễ của gốc ghép và dòng nhựa luyện quang hợp từ cành ghép.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai theo quy chuẩn thí nghiệm đồng ruộng hai nhân tố, bố trí theo khối ô chia nhỏ (Split-plot design) với 3 lần nhắc lại. Quy mô thực nghiệm gồm 180 cây (30 cây/công thức):

  • Ô chính (Nhân tố V - Gốc ghép): Gồm 2 mức là V1 (gốc ghép cây chấp 6 tháng tuổi) và V2 (gốc ghép cây bưởi chua 6 tháng tuổi).
  • Ô phụ (Nhân tố N - Kiểu ghép): Gồm 3 mức là N1 (ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn), N2 (ghép nêm cành) và N3 (ghép mắt nhỏ có gỗ cắt ngọn - dùng làm công thức đối chứng).
  • Ma trận 6 công thức thí nghiệm bao gồm: CT1 (N1V1), CT2 (N1V2), CT3 (N2V1), CT4 (N2V2), CT5 (N3V1 - đối chứng), CT6 (N3V2).

Thao tác kỹ thuật được tiến hành đồng nhất: Vị trí ghép trên gốc ghép cách mặt đất từ 25 đến 45 cm; sử dụng dao ghép chuyên dụng, vết cắt nhẵn phẳng tránh làm oxy hóa nhựa tế bào; cố định và bao bọc kín vết ghép bằng màng nilon chuyên dụng tự tiêu hoặc quấn chặt để ngăn ngừa thoát hơi nước và sự xâm nhiễm của nấm khuẩn.

Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:

  • Thời gian bật mầm: Tính số ngày từ khi ghép đến khi đạt 50% số cành/mắt ghép bật mầm.
  • Tỷ lệ bật mầm (%) và tỷ lệ cây ghép sống (%): Xác định bằng phương pháp đếm toàn bộ số cá thể đạt trên tổng số cây ghép của từng công thức.
  • Động thái tăng trưởng: Định kỳ 15 ngày/lần đo đếm chiều cao mầm ghép (cm) và đếm số lá/mầm ghép (lá).
  • Chỉ tiêu hình thái trước xuất vườn: Đo chiều dài cành ghép (cm) từ điểm bật mầm đến đỉnh cành và số lá trên cành ghép của 5 cây mẫu ngẫu nhiên cho mỗi công thức.
  • Mức độ sâu bệnh hại: Điều tra định kỳ 1 tháng/lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc để tính tần suất bắt gặp (%) của từng loài dịch hại.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu thực nghiệm được tính toán và phân tích phương sai (ANOVA), so sánh sai khác trung bình bằng kiểm định LSD ở mức ý nghĩa p = 0,05 thông qua phần mềm chuyên ngành IRISTAT 5.6.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tổng quan về vị thế kinh tế của nhóm cây ăn quả có múi, bức tranh sản xuất cam quýt trong nước và thế giới, tính cấp thiết của việc kiểm soát bệnh Greening bằng cây giống sạch bệnh. Tác giả giới thiệu giống cam sành không hạt LĐ6 như một đối tượng cây trồng triển vọng, đồng thời xác lập hệ thống mục tiêu, nhiệm vụ và các yêu cầu kỹ thuật cần đạt được trong việc tìm kiếm tổ hợp ghép phù hợp tại khu vực Xuân Mai (Hà Nội).

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn liên quan:

  • Cơ sở khoa học của phương pháp ghép: Cơ chế liền sẹo tượng tầng, điều kiện tương thích sinh học giữa cành ghép và gốc ghép, vai trò của công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng (microshoot tip grafting) trong khử trùng virus.
  • Nguồn gốc và phân loại thực vật: Hệ thống phân loại chi Citrus theo Tanaka (100–160 loài) và Swingle (16 loài); nguồn gốc địa lý của cam quýt từ vùng nhiệt đới Nam Á và Vân Nam (Trung Quốc); các đặc tính nông học của giống cam sành LĐ6 có nguồn gốc từ xử lý đột biến mầm ngủ cam sành thương phẩm bằng tia gamma.
  • Đặc điểm sinh thái và yêu cầu ngoại cảnh: Phân tích nhu cầu về nhiệt độ (thích hợp từ 23–29°C), chế độ ánh sáng tán xạ (cường độ 10.000 lux), lượng nước tưới (1.000–2.400 mm/năm, tối thuận 1.200 mm/năm) và yêu cầu đất trồng (tầng đất dày, thoát nước tốt, độ pH từ 5,5–6,5).
  • Tình hình sản xuất: Dẫn liệu thống kê của FAO giai đoạn 2010–2014 cho thấy diện tích cam quýt thế giới dao động quanh mức 3,88–4,12 triệu ha, sản lượng năm 2014 đạt 70,85 triệu tấn. Tại Việt Nam, diện tích cam quýt năm 2014 đạt 75.600 ha với tổng sản lượng 736.100 tấn; trong đó Đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39.200 ha (51,8%) và sản lượng 496.000 tấn (67,4%).
  • Tình hình nghiên cứu chọn tạo và gốc ghép: Điểm lại các nghiên cứu trong nước về các dòng bưởi đặc sản (Đoan Hùng, Phúc Trạch, Năm Roi, Da Xanh) và ứng dụng các gốc ghép kháng bệnh trên thế giới như Carrizo citrange, Troyer citrange, Swingle Citrumelo, Citrus volkameriana.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết về vật liệu nghiên cứu (mắt ghép LĐ6, gốc bưởi chua, gốc chấp 6 tháng tuổi), địa điểm thực hiện (Xuân Mai - Hà Nội), thời gian bố trí (tháng 9/2016 đến tháng 12/2016). Mô tả chi tiết sơ đồ bố trí ô thí nghiệm Split-plot 2 nhân tố (6 công thức x 3 lần nhắc lại, 30 cây/công thức), thao tác kỹ thuật cho 3 kiểu ghép (ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn, ghép nêm, ghép mắt nhỏ có gỗ cắt ngọn), quy chuẩn đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng và thuật toán xử lý thống kê bằng phần mềm IRISTAT 5.6.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng cụ thể:

1. Tỷ lệ bật mầm, thời gian bật mầm và tỷ lệ cây ghép sống

Kết quả cho thấy tổ hợp ghép ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng nảy mầm và tỷ lệ sống của cây ghép cam sành LĐ6.

STT Công thức ghép Số cây ghép (cây) Số cây bật mầm (cây) Tỷ lệ bật mầm (%) Thời gian bật mầm (ngày) Tỷ lệ ghép sống (%)
1 CT1 (N1V1: Mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn + Chấp) 30 21 70,00 25 70,00
2 CT2 (N1V2: Mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn + Bưởi) 30 27 90,00 25 90,00
3 CT3 (N2V1: Ghép nêm + Chấp) 30 27 90,00 15 90,00
4 CT4 (N2V2: Ghép nêm + Bưởi) 30 21 70,00 15 70,00
5 CT5 (N3V1: Mắt nhỏ có gỗ cắt ngọn + Chấp - ĐC) 30 23 76,67 15 76,67
6 CT6 (N3V2: Mắt nhỏ có gỗ cắt ngọn + Bưởi) 30 23 76,67 15 76,67

Hai công thức đạt tỷ lệ bật mầm và tỷ lệ sống cao nhất là CT2 và CT3 đều đạt 90,00% (27/30 cây). Ngược lại, CT1 và CT4 đạt tỷ lệ thấp nhất là 70,00% (21/30 cây). Về thời gian bật mầm sau ghép, các công thức ghép nêm (N2) và ghép cắt ngọn (N3) kích thích mầm bật nhanh chỉ sau 15 ngày, trong khi kiểu ghép không cắt ngọn (N1) cần 25 ngày mới bật mầm.

2. Động thái tăng trưởng chiều cao mầm ghép

Quá trình tăng trưởng chiều cao mầm ghép diễn ra qua hai đợt lộc và tăng dần theo thời gian. Phân tích phương sai cho thấy có sự tương tác có ý nghĩa thống kê giữa gốc ghép và kiểu ghép đối với chiều cao mầm ghép (p < 0,05).

Gốc ghép / Chỉ số 15 ngày 30 ngày 45 ngày 60 ngày 75 ngày
Gốc chấp (V1) 13,52 cm 16,22 cm 17,30 cm 18,21 cm 19,28 cm
Gốc bưởi chua (V2) 15,73 cm 18,74 cm 22,13 cm 25,42 cm 27,11 cm
P(V) > 0,05 < 0,05 < 0,05 < 0,05 < 0,05
$LSD_{0.05}$ 5,43 4,23 5,01 7,97 9,24
CV (%) 19,7 12,9 13,5 19,4 21,2

Tại thời điểm 75 ngày sau ghép, gốc bưởi chua (V2) cho chiều cao mầm trung bình đạt 27,11 cm, vượt trội có ý nghĩa thống kê so với gốc chấp V1 (19,28 cm) với mức chênh lệch 7,83 cm. Xét riêng từng tổ hợp ghép tại 75 ngày:

  • CT2 (V2N1 - Mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn trên gốc bưởi) đạt chiều cao lớn nhất: 34,42 cm, cao hơn chắc chắn so với đối chứng CT5 (V1N3: 18,78 cm).
  • CT3 (V1N2 - Ghép nêm trên gốc chấp) đạt 25,57 cm; CT6 (V2N3) đạt 24,29 cm; CT4 (V2N2) đạt 22,64 cm (khác biệt không chắc chắn so với đối chứng).
  • CT1 (V1N1 - Mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn trên gốc chấp) có chiều cao thấp nhất đạt 13,49 cm, tương đương đối chứng ở độ tin cậy 95%.

3. Động thái tăng trưởng số lá trên mầm ghép

Số lượng lá trên mầm ghép phản ánh diện tích quang hợp và sức sinh trưởng của cành ghép.

Gốc ghép / Chỉ số 15 ngày 30 ngày 45 ngày 60 ngày 75 ngày
Gốc chấp (V1) 12,26 lá 12,64 lá 13,37 lá 13,57 lá 14,46 lá
Gốc bưởi chua (V2) 13,37 lá 13,57 lá 15,62 lá 18,48 lá 19,13 lá
P(V) > 0,05 > 0,05 < 0,05 < 0,05 < 0,05
$LSD_{0.05}$ 3,40 2,36 2,35 4,50 5,37
CV (%) 14,1 9,6 8,6 14,9 17,0

Ở các mốc 15 và 30 ngày, yếu tố gốc ghép chưa tạo ra sai khác có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tuy nhiên, từ mốc 45 ngày đến 75 ngày, ảnh hưởng của gốc ghép thể hiện rõ rệt (p < 0,05). Tại thời điểm 75 ngày, cây ghép trên gốc bưởi (V2) đạt trung bình 19,13 lá/mầm, cao hơn chắc chắn 4,67 lá so với cây ghép trên gốc chấp V1 (14,16 lá or 14,46 lá) ở mức ý nghĩa 95%. Kiểu ghép (nhân tố N) chỉ ảnh hưởng đến số lá ở giai đoạn đầu (15–45 ngày) và không còn thể hiện sai khác ở mốc 60–75 ngày (p > 0,05).

Về tương tác V&N tại thời điểm 75 ngày: Tổ hợp CT2 (V2N1) đạt số lá cao nhất với 24,13 lá/mầm, cao hơn chắc chắn so với công thức đối chứng CT5 (13,66 lá). Các tổ hợp khác gồm CT3 (18,33 lá), CT6 (17,66 lá), CT4 (15,60 lá) cao hơn không chắc chắn so với đối chứng; riêng CT1 đạt thấp nhất với 11,40 lá/mầm.

(Ghi chú: Toàn văn tài liệu cung cấp dừng lại ở phần phân tích số lá/mầm ghép, các tiểu mục về chỉ tiêu cành ghép, tỷ lệ xuất vườn và thành phần sâu bệnh hại không xuất hiện bảng số liệu chi tiết trong văn bản trích dẫn).


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp các dẫn liệu thực nghiệm có giá trị về công nghệ nhân giống giống cam sành không hạt LĐ6 tại vùng sinh thái Xuân Mai (Chương Mỹ, Hà Nội):

  • Xác định được hai tổ hợp ghép có tỷ lệ sống và tỷ lệ bật mầm cao nhất đạt 90,00% là: kiểu ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn trên gốc bưởi chua (CT2 - V2N1) và kiểu ghép nêm trên gốc chấp (CT3 - V1N2).
  • Xác định thời gian bật mầm phụ thuộc chặt chẽ vào thao tác xử lý ngọn gốc ghép: các phương pháp cắt ngọn (ghép nêm N2 và ghép mắt cắt ngọn N3) rút ngắn thời gian bật mầm xuống còn 15 ngày, nhanh hơn 10 ngày so với phương pháp giữ lại ngọn gốc ghép (25 ngày).
  • Chứng minh ưu thế vượt trội của gốc bưởi chua (V2) so với gốc chấp (V1) về khả năng thúc đẩy sinh trưởng mầm ghép sau 75 ngày theo dõi: mầm ghép trên gốc bưởi chua đạt chiều cao trung bình 27,11 cm (cao hơn gốc chấp 7,83 cm) và đạt 19,13 lá/mầm (cao hơn gốc chấp 4,67 lá) có ý nghĩa toán học ở mức p < 0,05.
  • Xác định được công thức tối ưu toàn diện nhất cho sinh trưởng mầm ghép là CT2 (ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn trên gốc bưởi chua 6 tháng tuổi), đạt chiều cao mầm ghép tối đa 34,42 cm và số lá đạt 24,13 lá/mầm sau 75 ngày ghép, vượt trội có ý nghĩa thống kê so với công thức đối chứng truyền thống (ghép mắt nhỏ cắt ngọn trên gốc chấp).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được ghi nhận dựa trên phạm vi thực hiện và dữ liệu văn bản:

  • Phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm diễn ra trong vòng 4 tháng (từ tháng 9/2016 đến tháng 12/2016), phản ánh điều kiện khí hậu của vụ thu - đông tại miền Bắc, chưa có sự so sánh đối chứng với các thời vụ ghép khác trong năm (đặc biệt là vụ xuân).
  • Giới hạn về vật liệu gốc ghép: Đề tài mới chỉ khảo nghiệm trên 2 loại gốc ghép bản địa phổ biến là bưởi chua và chấp ở độ tuổi 6 tháng, chưa mở rộng đánh giá các giống gốc ghép nhập nội chuyên dùng cho cây có múi (như Carrizo citrange, Troyer citrange, Volkameriana).
  • Dữ liệu toàn văn trích xuất bị khuyết thiếu phần số liệu cụ thể của mục tỷ lệ cây xuất vườn và diễn biến sâu bệnh hại ở giai đoạn kết thúc vườn ươm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi đánh giá sinh trưởng, khả năng tiếp hợp và tính bền vững của các tổ hợp ghép sau khi xuất vườn trồng ra ruộng sản xuất thực tế.
  • Khảo nghiệm ảnh hưởng của các tổ hợp gốc ghép đến năng suất, chất lượng quả cam LĐ6 khi bước vào giai đoạn kinh doanh và khả năng chống chịu bệnh hại đất, bệnh virus trong điều kiện canh tác dài hạn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Hồng Nhung là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Trồng trọt; cán bộ kỹ thuật tại các trung tâm giống cây trồng, trạm khuyến nông và các cơ sở sản xuất cây giống có múi.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phương pháp bố trí thí nghiệm ô chia nhỏ (Split-plot design) hai nhân tố cho cây thân gỗ trong giai đoạn vườn ươm.
    • Quy trình thao tác kỹ thuật ghép chi tiết (đặc biệt là thao tác ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn kết hợp quấn kín màng nilon).
    • Cơ sở dữ liệu so sánh cụ thể về tốc độ tăng trưởng lộc ghép giữa hai loại gốc ghép truyền thống (chấp và bưởi chua) làm luận cứ cho việc lựa chọn vật liệu gốc ghép cam sành không hạt tại các tỉnh trung du và đồng bằng phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn gốc chọn tạo và đặc tính nông học nổi bật của giống cam sành không hạt LĐ6 là gì?
Giống cam sành không hạt LĐ6 được Viện Cây ăn quả miền Nam chọn tạo bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma lên mầm ngủ của giống cam sành thương phẩm, được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận sản xuất vào tháng 12/2010. Giống có tỷ lệ hạt phấn bất dục trên 70%, khả năng đậu quả tự nhiên cao, quả có trọng lượng 230–240 g, vỏ xanh sáng ít sần, ruột màu cam đậm, độ Brix trung bình 8%, nước quả 40–42% và số hạt trung bình dưới 2 hạt/quả.

2. Thí nghiệm nhân giống sử dụng những loại gốc ghép và kiểu ghép cụ thể nào?
Thí nghiệm khảo sát 2 loại gốc ghép 6 tháng tuổi là gốc bưởi chua (Citrus grandis) và gốc chấp (Citrus sp.); kết hợp với 3 kiểu ghép là ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn (N1), ghép nêm cành (N2) và ghép mắt nhỏ có gỗ cắt ngọn (N3 - đối chứng), tạo thành 6 tổ hợp công thức bố trí theo khối ô chia nhỏ (Split-plot).

3. Kiểu ghép nào giúp rút ngắn thời gian từ khi ghép đến khi bật mầm của mắt ghép LĐ6?
Các công thức áp dụng kiểu ghép nêm (N2) và kiểu ghép mắt nhỏ có gỗ cắt ngọn (N3) đều có thời gian bật mầm nhanh là 15 ngày sau ghép. Trong khi đó, kiểu ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn (N1) cần 25 ngày mới bật mầm (chậm hơn 10 ngày).

4. Tổ hợp ghép nào cho tỷ lệ ghép sống và khả năng phát triển chiều cao mầm ghép tốt nhất?
Tổ hợp ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn trên gốc bưởi chua (CT2 - V2N1) đạt kết quả tối ưu nhất với tỷ lệ cây sống đạt 90,00%, chiều cao mầm ghép sau 75 ngày đạt 34,42 cm và số lá đạt 24,13 lá/mầm, cao hơn chắc chắn so với công thức đối chứng (ghép mắt cắt ngọn trên gốc chấp chỉ đạt chiều cao 18,78 cm và 13,66 lá/mầm) ở mức ý nghĩa p < 0,05.

5. Gốc bưởi chua và gốc chấp thể hiện sự khác biệt sinh trưởng như thế nào sau 75 ngày theo dõi?
Gốc bưởi chua (V2) thể hiện ưu thế vượt trội so với gốc chấp (V1) sau 75 ngày theo dõi ở mức tin cậy 95%: Chiều cao mầm ghép trung bình trên gốc bưởi đạt 27,11 cm (cao hơn gốc chấp 7,83 cm) và số lá trung bình đạt 19,13 lá/mầm (cao hơn gốc chấp 4,67 lá/mầm).


Kết luận

Khóa luận đã làm rõ ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến khả năng nhân giống vô tính của giống cam sành không hạt LĐ6 trong điều kiện sinh thái tại Xuân Mai, Hà Nội. Kết quả thực nghiệm khẳng định gốc bưởi chua 6 tháng tuổi kết hợp với kiểu ghép mắt nhỏ có gỗ không cắt ngọn là tổ hợp tối ưu nhất, mang lại tỷ lệ cây sống đạt 90% cùng sức sinh trưởng cành mầm vượt trội so với đối chứng. Đây là dẫn liệu khoa học và thực tiễn quan trọng, đóng góp thiết thực vào quy trình sản xuất cây giống sạch bệnh phục vụ mở rộng diện tích cam sành không hạt chất lượng cao tại miền Bắc.