CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí phân loại và một số đặc điểm sinh học của tôm hùm bông (Panulirus ornatus) 1. Vị trí phân loại Tôm hùm là tên gọi chung cho nhóm giáp xác 10 chân thuộc 4 họ Palinuridae, Scyllaridae, Nephropidae và Synaxidae. Theo Phillip và Wiliams, đến những năm 1980 đã khẳng định họ tôm hùm gai Palinuridae gồm có 49 loài thuộc 8 giống, nhưng chỉ có 33 loài thuộc 3 giống có ý nghĩa kinh tế quan trọng cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản [20].
Ở vùng biển Việt Nam, Nguyễn Văn Chung và cộng sự (1995) đã mô tả vùng phân bố của 17 loài tôm hùm, trong đó có 7 loài thuộc giống Panulirus, phân bố chủ yếu ở vùng biển miền Trung, kéo dài từ vĩ tuyến 18 0N đến 110N [5]. Vị trí phân loại tôm hùm bông như sau: Ngành chân đốt (Arthropoda) Lớp giáp xác (Crustacea) Bộ mười chân (Decapoda) Họ tôm hùm gai (Palinuridae) Giống Panulirus Loài tôm hùm bông - Panulirus ornatus (Fabricius, 1798) 1. Đặc điểm hình thái Nguyễn Thị Bích Thúy (1998) đã mô tả tôm hùm bông (Panulirus ornatus), còn được gọi là tôm hùm sao như sau: toàn thân có màu xanh nước 4 biển rất hài hòa. Kích thước cơ thể lớn, có cá thể đạt tới 9kg.
Đôi râu 2 dài gấp 1,5 lần chiều dài cơ thể, 5 đôi chân bò có những vòng ngang màu nâu đậm. Các đốt bụng không có rãnh ngang. Vỏ lưng mỗi đốt bụng có dải màu xanh thẫm và có 1-2 chấm màu kem nghiêng về 2 bên, 2 cặp gai ở phiến gốc râu 1 có cặp sau bé hơn cặp trước, đôi gai hốc mắt rất dài và nhọn [20] (Hình 1.1: Hình thái tôm hùm bông (Panulirus ornatus) 5 Theo quan điểm hình thái học, cơ thể tôm hùm thuộc giống Panulirus chia thành phần đầu ngực và phần bụng. Phần đầu ngực gồm 14 đốt, mỗi đốt có một đôi phần phụ ngực; 6 đốt đầu tiên tạo nên phần đầu và 8 đốt còn lại tạo nên phần ngực.
Các phần phụ trên phần đầu ngực gồm có: 5 đôi chân bò; 1 đôi mắt kép có thể cử động, bất động, hoặc co ngắn lại; có 2 đôi anten, anten thứ nhất có phân nhánh, anten thứ hai rất dài và có nhiều gai nhỏ; phần miệng có hàm trên, hàm dưới và các mảng chân hàm. Phần bụng gồm có 6 đốt, các đốt được bảo vệ bằng lớp vỏ kitin ở cả phần lưng, phần bên và phần bụng. Từ đốt bụng thứ 2 đến thứ 5 có 4 đôi chân bơi, đốt bụng thứ 6 biến thành chân đuôi và telson rất cứng và chắc chắn [20], [22]. Đặc điểm sinh học phân bố Phân bố của tôm hùm được quyết định bởi tính di truyền và quá trình thích nghi của loài đối với các điều kiện tự nhiên, môi trường ở từng vùng biển.
Đối với tôm hùm, chu kỳ sống trải qua nhiều lần thay đổi môi trường sống khác nhau, mỗi giai đoạn của chúng gắn với một điều kiện sinh thái nhất định và tạo nên một quần thể riêng biệt [7], [20]. - Giai đoạn ấu trùng Phyllosoma sống trôi nổi như sinh vật phù du trên biển và đại dương, vì thế khả năng phát tán của chúng rất lớn do tác động của sóng, gió, dòng chảy. Hầu như suốt thời kỳ này, chúng luôn di chuyển và hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện thủy văn môi trường biển khơi [20]. - Sau khi ấu trùng Phyllosoma trải qua 12-15 lần lột xác biến thái, chúng chuyển sang giai đoạn hậu ấu trùng Puerulus và bắt đầu sống định cư.
Môi trường phân bố của ấu trùng Puerulus phụ thuộc vào điều kiện sinh thái của các vũng, vịnh hoặc đầm. Tôm thường phân bố ở những vùng biển ít sóng gió, nguồn thức ăn phong phú. Giai đoạn hậu ấu trùng Puerulus có thể bơi chủ động. Chúng thích bám trên rong, vách đá hoặc các giá thể [20].
6 - Sau khoảng 4 lần lột xác và biến thái, ấu trùng Puerulus trở thành tôm hùm con (juvenile) có màu sắc và hình thái giống tôm trưởng thành. Chúng sống định cư trong các vũng, vịnh, đầm phá ven biển. Tập tính sống bầy đàn thể hiện rất rõ. Chúng thường nấp trong các khe, hốc đá hoặc bám chắc vào những hõm, lỗ nhỏ của ghềnh đá [7], [20].
- Tôm trưởng thành có xu hướng di chuyển ra ngoài khơi, nơi có điều kiện sinh thái thuận lợi cho sự phát triển và sinh sản của loài. Cá thể trưởng thành thường ẩn mình cả ngày trong rạn san hô hoặc hốc đá. Chúng chỉ bò ra ngoài để kiếm mồi ở gần chỗ chú ẩn như rạn san hô và thảm cỏ biển vào buổi tối [20]. Chu kỳ sống của tôm hùm [17].
Tôm hùm gai phân bố ở cả vùng biển nhiệt đới và ôn đới. Tuy nhiên, ở vùng biển nhiệt đới có số lượng loài phân bố nhiều nhất và sản lượng khai thác được cũng cao nhất. Môi trường sống của tôm hùm từ vùng triều tới vùng biển có độ sâu khoảng 3000m, chúng thường ẩn nấp trong các hang 7 hốc có nền đáy là đá, san hô, bùn, cát hoặc thảm thực vật như tảo bẹ trong nước. Hầu hết các loài tôm hùm có giá trị thương mại không phân bố cùng vị trí.
Những loài thuộc giống Jasus thường phân bố ở vùng biển nông, ôn đới (dưới 50m). Trong khi đó, các loài thuộc giống Panulirus lại phân bố ở vùng biển nông, nhiệt đới. Số loài còn lại thuộc các giống Justitia, Palinurus, Linuparus, Palinustus, Puerulus, Projasus sống ở vùng biển có độ sâu từ 50m đến 1000m [4]. Trên thế giới, tôm hùm bông phân bố tại vùng Tây ấn Độ Dương, từ vùng biển đỏ và đông Châu Phi đến phía nam Nhật Bản, có mặt tại đảo Solomon, Papua New Guinea, vùng phía bắc, tây, tây nam, đông bắc và phía đông của Úc, New Caledonia và Fiji.
Năm 1988, tôm hùm bông còn tìm thấy tại Israel thuộc phía đông Mediterranean [22] (Hình 1. Vị trí phân bố của tôm hùm bông trên thế giới 8 Ở Việt Nam, 07 loài tôm hùm có giá trị kinh tế thuộc giống Panulirus phân bố chủ yếu ở vùng biển miền trung từ Quảng Bình đến Bà Rịa - Vũng Tàu. Mỗi một loài thích nghi với điều kiện nhiệt độ, độ mặn và hệ sinh thái khác nhau. Dựa vào phân tích đặc điểm hình thái, địa hình, trầm tích tầng mặt, những dẫn liệu về ngư trường khai thác, phân tích định lượng các chỉ tiêu nhiệt độ, độ mặn của nước biển có thể phân chia vùng phân bố của tôm hùm gai ở vùng biển miền Trung thành 3 vùng nhỏ [20] (Hình 1.
Vị trí phân bố của tôm hùm gai ở vùng biển miền Trung Việt Nam Vùng 1: Bao gồm biển ven bờ mũi Ròn (phía bắc Quảng Bình) đến mũi An Lương (phía bắc Quảng Ngãi). Đây là vùng rộng nhất, đáy biển có độ dốc thấp và ít bị phân cắt.000 ha nền đáy rạn ghềnh và rạn 9 ngầm là nơi trú ẩn tốt của tôm hùm. Nhiệt độ và độ mặn trung bình đo ở độ sâu 10 m là 23,5-27,0oC và 29,5 -31.0 ‰ vào mùa hè, 18,0-21,5oC và 33,9- 34,0 ‰ vào mùa đông. Có 4 loài tôm hùm P.
ornatus phân bố ở vùng biển này. stimpsoni là loài cận nhiệt đới chiếm ưu thế, với khoảng 85% sản lượng khai thác, sản lượng khai thác của 3 loài còn lại chỉ chiếm khoảng 15% [20]. Vùng 2: Từ mũi An Lương (Quảng Ngãi) đến mũi Sừng Trâu (Ninh Thuận). Đây là vùng biển có phần thềm lục địa nhỏ nhất và địa hình đáy biển phức tạp hơn so với các vùng biển khác.
Diện tích nền đáy rạn ghềnh và rạn ngầm nơi trú ẩn của các loài sống đáy ở vùng này là thấp nhất (30. Nhưng đây là vùng có nhiều loài tôm hùm phân bố nhất (6 loài) và sản lượng khai thác đạt khoảng 1/3 tổng sản lượng ở miền Trung. Trong đó tôm hùm sỏi có tỷ lệ ít nhất, chiếm khoảng 10% sản lượng khai thác [20]. Vùng 3: Từ mũi Sừng Trâu (Ninh Thuận) đến Phan Thiết (Bình Thuận).Vùng biển này được chia làm hai tiểu vùng nhỏ: Vùng biển sâu gần bờ và vùng ngoài khơi quanh các đảo.
Diện tích nền đáy rạn ghềnh và rạn ngầm ở vùng này cao nhất (70.000 ha) so với vùng 1 và vùng 2. Vùng 3 không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ thấp vào mùa đông, nhiệt độ trung bình đo ở độ sâu 10 trong năm dao động từ 25,5 -29,0OC. Tôm hùm bông (P. ornatus) là loài chiếm ưu thế, với khoảng 80% sản lượng tôm hùm khai thác được toàn vùng và đạt 1/4 sản lượng khai thác tôm hùm ở biển miền Trung.
Tiếp đến là tôm hùm đá, tôm hùm đỏ, còn tôm hùm sỏi bắt gặp rất ít chỉ khoảng 5% [20]. Đặc điểm dinh dưỡng Trong tự nhiên, tôm hùm là động vật ăn tạp, thường đi kiếm ăn và ăn mồi nhiều vào chiều tối, chúng thích các loại mồi sống như tôm, cua, ghẹ đang lột xác, sò, vẹm hoặc cá rạn. 10 Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho tôm hùm sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, chúng chỉ sử dụng 7-10% lượng thức ăn vào trong cơ thể, còn lại chi phí cho các quá trình hoạt động sống khác.
Nhu cầu dinh dưỡng của tôm hùm khác nhau tùy từng giai đoạn phát triển, tôm càng nhỏ nhu cầu dinh dưỡng càng cao, ở giai đoạn trước lột xác 2-5 ngày tôm ăn rất mạnh và ngược lại ở giai đoạn lột xác chúng sẽ ăn ít lại [16]. Đặc điểm sinh trưởng Sinh trưởng của tôm hùm được đặc trưng bởi quá trình lột xác, qua đó có sự tăng lên về kích thước và trọng lượng. Chu kỳ lột xác của mỗi loài tôm hùm phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ nước, ánh sáng, độ mặn, thức ăn,. hay các yếu tố nội tại của cơ thể như sự điều tiết của các hormon lột xác hay hormon ức chế lột xác,.
Song các yếu tố này luôn có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau. Chu kỳ lột xác giữa các loài hay giữa các giai đoạn khác nhau là hoàn toàn không giống nhau [16]. Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của tôm hùm, đặc biệt ở giai đoạn tôm con, những thay đổi đột ngột của môi trường thường dẫn đến tôm chết. Chẳng hạn như khi nhiệt độ tăng lên 3 - 50C, hoặc nồng độ muối tăng lên 8 - 10‰ hầu như tôm con đều bị chết.
Ở nồng độ muối thấp 20 - 25‰ kéo dài 2 - 3 ngày, gây nên tình trạng chết từ từ ở tôm con. Giai đoạn trưởng thành khi độ mặn giảm xuống 20‰ tôm hùm rất yếu và không bắt mồi [16]. Đặc điếm sinh sản Các loài tôm hùm khác nhau thì kích cỡ tham gia sinh sản lần đầu và mùa vụ sinh sản cũng khác nhau.