ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa (Oryza Sativa) là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và vùng cận nhiệt đới khu vực Đông Nam Á. Theo số liệu thống kê của FAO năm 2006 trên thế giới có 114 nước trồng lúa, phân bố ở tất cả các Châu lục trên thế giới. Ở Việt Nam cây lúa là cây cung cấp lương thực chính. Lúa đóng góp tới trên 90% sản lượng lương thực của cả nước và là ngành sản xuất truyền thống trong nông nghiệp.
Trong những năm qua cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc, chọn tạo giống mới có năng suất cao, chất lượng đã làm cho nền nông nghiệp của nước ta có những bước phát triển nhanh, liên tục và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đặc biệt, kết quả sản xuất lương thực đã góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, phát triển kinh tế và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Hơn 20 năm trước, Việt Nam là một quốc gia thiếu lương thực triền miên, đến nay không những đảm bảo đủ lương thực cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu từ 3 - 4 triệu tấn gạo/năm. Đứng hàng thứ 2 trên thế giới về các nước xuất khẩu gạo.
Có được những thành tựu trên là kết quả của việc đổi mới cơ chế chính sách, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp (thuỷ lợi, giao thông, phân bón.) và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, trong đó sử dụng các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt là yếu tố quan trọng góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp nước ta trong thời gian qua. Tỉnh Phú Thọ thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, có diện tích tự nhiên là 352. Địa hình bị chia cắt thành các tiểu vùng chủ yếu như: Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của tỉnh; tiểu vùng gò, đồi thấp, 2 xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy. Về khí hậu, tỉnh Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1. Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87%. Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng [16]. Trong những năm qua UBND tỉnh Phú Thọ đã có những chủ trương để phát triển nông nghiệp một cách bền vững, đẩy mạnh phát triển sản xuất lương thực cả về số lượng và chất lượng trên cơ sở đầu tư thâm canh, cải thiện điều kiện canh tác.
Những vùng khó khăn tiếp tục gieo cấy các giống lúa lai năng suất cao còn những vùng khác mở rộng diện tích các giống lúa chất lượng cao để nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện chất lượng lương thực đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Dựa vào tình hình thực tế địa phương và chủ trương phát triển nông nghiệp của tỉnh, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, năng suất của một số giống lúa chất lượng trong vụ xuân năm 2011 tại huyện Lâm Thao và thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ”. Mục tiêu đề tài: Nghiên cứu đề tài nhằm lựa chọn được một số giống lúa có chất lượng tốt, năng suất cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Lâm Thao, thị xã Phú Thọ, góp phần làm phong phú bộ giống lúa chất lượng của tỉnh và thay thế các giống cũ có năng suất thấp, chất lượng kém. Yêu cầu của đề tài.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng thích ứng của các giống thí nghiệm. - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm. - Đánh giá khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của các giống thí nghiệm. - Đánh giá chất lượng gạo bằng phương pháp đo đếm cảm quan.
3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới và Việt Nam: 2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới: Lúa là cây lương thực quan trọng nhất đối với hàng tỷ người dân châu Á. Cùng với sự phát triển của loài người nghề trồng lúa đã được hình thành và phát triển.
Các nhà khoa học dự báo rằng thời gian tới ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, philipin,… nhu cầu tiêu dùng gạo sẽ tăng nhanh hơn khả năng sản xuất lúa gạo ở những nước này. Vì vậy, sản xuất lúa gạo trong vùng phải tăng lên gấp bội để đáp ứng nhu cầu lương thực. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về lương thực, sản xuất lúa gạo trong vài thập kỷ gần đây đã có mức tăng trưởng đáng kể, nhưng phân bố không đều do các trở ngại về tiếp cận lương thực, thu nhập quốc gia và thu nhập của hộ gia đình không đủ để mua lương thực, sự bất ổn giữa cung cầu, thiệt hại do thiên tai mang lại là những nhân tố khiến cho vấn đề lương thực trở nên cấp thiết hơn lúc nào hết. Tuy tổng sản lượng lúa không ngừng được gia tăng, năm sau cao hơn năm trước nhưng dân số tăng nhanh hơn, nhất là ở các nước đang phát triển, nên lương thực vẫn là vấn đề cấp bách cần quan tâm trong những năm trước mắt cũng như lâu dài.1 cho thấy trên thế giới từ năm 2000 đến nay diện tích canh tác, năng suất lúa có xu hướng tăng dần.
Điều này cho thấy “cuộc cách mạng xanh” đã có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa thế giới. Những tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể. Theo FAO STAT, 2006 thì sản xuất lúa gạo tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng (diện tích trồng lúa 4 133,2 triệu ha, sản lượng 477,3 triệu tấn). Trong đó, Ấn Độ là nước có diện tích lúa lớn nhất (42,5 triệu ha), tiếp đến là Trung Quốc (trên 29,4 triệu ha).
Châu Á có 8 nước có sản lượng lúa cao nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonêsia, Bănglađét, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản. Tình hình sản xuất lúa từ năm 2000 đến nay.300,06 43,29 685,240 Nguồn: FAO STAT năm 2011. Theo FAO STAT, 2005 Ấn Độ là nước có diện tích lúa lớn nhất, ngoài ra cũng là một nước khá thành công trong chọn lọc các giống lúa lai có chất lượng gạo thương phẩm cao, hạt gạo dài, trong, có mùi thơm. Ấn Độ cũng là nước đi đầu trong cuộc cách mạng xanh về đưa các tiến bộ kỹ thuật nhất là giông mới vào sản xuất làm nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo.
Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập năm 1946 tại Cuttuck Bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó Ấn Độ cũng là nước có giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế 5 giới như giống lúa: Basmati, Brimphun có giá trị rất cao trên thị trường tiêu thụ. Ấn Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạt được những thành công nhất định, một số tổ hợp lai được sử dụng rộng rãi như: IR580 25A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI161, ORI136, 2RI158, 3RI160, 3RI086,…[20]. Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế lai của lúa vào sản xuất và có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa lai đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân đạt 63,47 tạ/ha, sản lượng đạt 186,73 triệu tấn (cao nhất thế giới) [21].
Vào năm 1974 các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời các tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ 3 dòng được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975, đánh dấu bước ngoặt to lớn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc nói riêng và trên toàn thế giới nói chung [7]. Những năm cuối thế kỷ XX đầu XXI Trung Quốc tập trung vào việc lai tạo các giống lúa lai 2 dòng và đang hướng tới tạo ra các giống lúa lai 1 dòng siêu cao sản có thể đạt năng suất 18 tấn/ha/vụ [22]. Có thể nói rằng Trung Quốc là nước tiên phong trọng việc nghiên cứu ứng dụng lúa lai đưa lúa lai vào sản xuất đại trà, nhờ đó đã làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của Trung Quốc, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một nước đông dân nhất thế giới. Các giống lúa lai của Trung Quốc được tạo ra trong thời gian gần đây đều có tình ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh.
Các giống lúa như: Bồi tạp sơn thanh, Nhị ưu 838, Sán ưu quế, Bắc thơm, CV1, D.ưu 527,… Ngày nay, Trung Quốc đã hình thành hệ thống nghiên cứu lúa lai đến tận các tỉnh, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu và kỹ thuật viên đông, xây dựng hệ thống sản xuất kiểm tra, khảo nghiệm và chỉ đạo thâm canh lúa lai thương phẩm. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích đất canh tác của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều còn là trở ngài lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc [8]. Ở Nhật Bản công tác giống lúa cũng được chú trọng nhất là giống lúa chất lượng cao. Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, Nhật Bản đã tập trung vào công 6 tác nghiên cứu giống lúa.
Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo và đưa vào sản xuất các giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt như: Koshihi, Kari, Sasanisiki, Koeensho,… đặc biệt ở Nhật đã lai tạo được 2 giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao, như giống: Miyazaki 1 và Miyazaki 2, cho đến nay các giống này vẫn giữ được vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng protein cao đến 13%, hàm lượng lysin cũng rất cao [6]. Thái Lan là nước có đất đai màu mỡ, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước [8].