Tổng quan nghiên cứu

Theo các báo cáo thống kê ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, toàn quốc hiện có hơn 4.321 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã đã được cấp phép, quản lý khoảng 97 loài động vật khác nhau nhằm phục vụ mục đích thương mại và bảo tồn nguồn gen. Tuy nhiên, trước áp lực săn bắt trái phép ngày càng gia tăng, quần thể Dúi mốc lớn (danh pháp khoa học: Rhizomys pruinosus) trong tự nhiên đang đứng trước nguy cơ suy thoái và cạn kiệt nguồn lợi. Thịt dúi mốc lớn vốn là loại thực phẩm đặc sản giàu đạm, có giá trị kinh tế vượt trội, song nghề nuôi nhân tạo tại Việt Nam vẫn chủ yếu mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ và tỷ lệ thất bại cao do thiếu hiểu biết sâu sắc về đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh sản.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh học thực nghiệm tập trung giải quyết các mục tiêu khoa học cụ thể: Xác định các chỉ tiêu hình thái, tập tính hoạt động, khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống của dúi mốc lớn trong điều kiện nuôi nhốt; đánh giá tác động của tổ hợp kích dục tố huyết thanh ngựa chửa PMSG kết hợp gonadotropin màng đệm ở người hCG đến năng suất sinh sản; đồng thời hoàn thiện mô hình kỹ thuật chăn nuôi quy mô hộ gia đình.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm liên tục trong 13 tháng, từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 7 năm 2021, tại địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trên đàn mẫu gồm 40 cá thể dúi mốc lớn. Về mặt khoa học, công trình cung cấp hệ thống dữ liệu sinh học thực nghiệm toàn diện đầu tiên về loài gặm nhấm này tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Về mặt thực tiễn, các giải pháp kỹ thuật từ luận văn giúp nâng tỷ lệ sống của đàn nuôi lên trên 95% và chuẩn hóa phác đồ can thiệp hormone sinh sản, mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững cho người chăn nuôi và giảm thiểu áp lực khai thác rừng tự nhiên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nội tiết học sinh sản động vật có vú và lý thuyết sinh thái học cá thể bộ Gặm nhấm. Về mặt sinh lý học, hoạt động sinh sản của động vật hoang dã chịu sự điều hòa chặt chẽ của trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục. Khi chuyển từ môi trường tự nhiên vào điều kiện nuôi nhốt, sự thay đổi vi khí hậu và stress tâm lý thường gây ức chế phản xạ rụng trứng và giảm tỷ lệ thụ thai tự nhiên.

Mô hình nghiên cứu ứng dụng liệu pháp can thiệp ngoại sinh bằng sự phối hợp giữa hai kích dục tố chuyên biệt: Equine Chorionic Gonadotropin (eCG hay PMSG) và Human Chorionic Gonadotropin (hCG) theo tỷ lệ hoạt tính 2:1. PMSG có thời gian bán rã kéo dài từ 5 đến 45,6 giờ tùy loài động vật, mang hoạt tính tương tự hormone kích thích nang trứng FSH giúp thúc đẩy bao noãn phát triển; trong khi hCG mang hoạt tính tương tự hormone tạo hoàng thể LH giúp kích hoạt sự chín của noãn bào, gây rụng trứng đồng loạt và duy trì thể vàng tiết progesterone.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm sinh học định lượng then chốt bao gồm: Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối (A, tính bằng gam/con/ngày), Tốc độ sinh trưởng tương đối (R%), Chu kỳ động dục, Tỷ lệ thụ thai và Tỷ lệ sống tích lũy. Hệ thống khái niệm này cho phép lượng hóa chính xác mức độ thích nghi sinh thái và hiệu suất sinh sản của loài thú hoang dã trong môi trường nhân tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp bố trí mẫu ngẫu nhiên hoàn toàn. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 40 cá thể dúi mốc lớn (15 con đực và 25 con cái), được phân chia thành hai nhóm nguồn gốc: 22 cá thể dúi thuần mua từ trại giống huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi và 18 cá thể dúi tự nhiên thu gom từ người dân địa phương tại cùng địa bàn. Tất cả các cá thể được lựa chọn đồng nhất ở độ tuổi khoảng 4 tháng với khối lượng ban đầu dao động từ 300 đến 350 gam. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo nguồn gốc và giới tính giúp loại bỏ các sai số hệ thống do biến dị cá thể.

Toàn bộ 40 cá thể được nuôi dưỡng trong các ô chuồng riêng biệt được đánh số định danh, bảo đảm tương đồng tuyệt đối về nguồn thức ăn thô xanh (tre, mía, cỏ voi, bắp hạt) và điều kiện chăm sóc. Dữ liệu khối lượng cơ thể được đo đạc định kỳ 20 ngày một lần vào khung giờ cố định từ 15 đến 16 giờ bằng cân đồng hồ chuẩn có mức sai số cho phép dưới 20 gam. Động thái tăng trọng được phân tích theo phương pháp toán sinh học để xác định sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối qua từng giai đoạn nuôi.

Đối với thí nghiệm can thiệp sinh sản, 25 cá thể cái bước vào tuổi trưởng thành sinh dục được chia thành lô đối chứng (không tiêm hormone) và lô thí nghiệm. Lô thí nghiệm được tiêm bắp chế phẩm Gestavet chứa 15 IU PMSG kết hợp 7,5 IU hCG vào 8 giờ sáng, sau đó 24 giờ tiến hành ghép đôi với dúi đực khỏe mạnh trong 7 ngày liên tục. Toàn bộ cơ sở dữ liệu được xử lý thống kê sinh học bằng kiểm định t-Student thông qua phần mềm MS Excel 2013 ở mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về khả năng thích nghi và tỷ lệ sống sót, tỷ lệ sống tích lũy của dúi thuần đạt mức 95,45%, cao hơn đáng kể so với dúi có nguồn gốc tự nhiên chỉ đạt 77,78% (chênh lệch 17,68%). Toàn bộ đàn thực nghiệm ghi nhận 5 cá thể bị chết, trong đó có 2 cá thể tự nhiên bị chết ở giai đoạn 3 do tật dài răng cửa cản trở việc ăn uống và 3 cá thể chết do không thích ứng kịp với môi trường nuôi nhốt.

Thứ hai, về động thái tăng trưởng khối lượng, khối lượng trung bình của đàn dúi tăng đều đặn từ 321,71 ± 17,32 gam ở thời điểm bắt đầu lên 995,71 ± 113,95 gam sau 180 ngày nuôi (đạt 10 tháng tuổi). Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân qua 9 giai đoạn nuôi đạt 3,74 gam/con/ngày, đạt đỉnh cao nhất ở giai đoạn 3 sang giai đoạn 4 với mức tăng 4,90 gam/con/ngày và đạt thấp nhất ở giai đoạn 4 sang giai đoạn 5 với mức tăng 3,14 gam/con/ngày.

Thứ ba, về sự khác biệt theo nguồn gốc giống, ở giai đoạn 1, dúi thuần tăng trọng vượt trội với tốc độ tuyệt đối 4,57 gam/con/ngày và tốc độ tương đối 24,90%, trong khi dúi tự nhiên chỉ đạt tương ứng 2,21 gam/con/ngày và 12,86% (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05). Tuy nhiên, từ giai đoạn 2 đến giai đoạn 9, sau khi đã thích nghi hoàn toàn với chuồng nuôi và chế độ dinh dưỡng, dúi tự nhiên có sự tăng trưởng bù mạnh mẽ và đạt khối lượng cuối kỳ 1.015,00 gam, tương đương với mức 982,86 gam của dúi thuần (p > 0,05).

Thứ tư, về hiệu quả can thiệp hormone, việc tiêm phối hợp 15 IU PMSG và 7,5 IU hCG đã kích thích biểu hiện động dục rõ rệt ở dúi cái sau 24 giờ tiêm (cơ quan sinh dục phồng đỏ, tiết dịch nhờn), rút ngắn thời gian chờ phối giống, nâng cao tỷ lệ mang thai và giúp tỷ lệ sống của con non sơ sinh sau 48 giờ đạt trên 85%.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn đầu bắt nguồn sâu xa từ đặc tính giải phẫu và tập tính sinh thái của bộ Gặm nhấm. Dúi mốc lớn ngoài tự nhiên sử dụng bộ răng cửa sắc khỏe để đào bới hang sâu từ 20 đến 25 cm và cắn rễ cây cứng, giúp mài mòn răng liên tục. Trong môi trường nuôi nhốt, nếu không được cung cấp đủ vật liệu mài răng, răng cửa của dúi tự nhiên dễ mọc dài bất thường, đâm vào vòm miệng gây đau đớn, bỏ ăn và dẫn đến suy kiệt. Điều này giải thích vì sao dúi thuần đã qua chọn lọc và quen thuộc với điều kiện chuồng trại lại có độ đồng đều và tỷ lệ sống cao hơn hẳn ở giai đoạn khởi đầu.

So sánh với các nghiên cứu trước đây trên cùng đối tượng dúi mốc lớn tại Việt Nam, khối lượng trưởng thành 995,71 gam ở 10 tháng tuổi hoàn toàn phù hợp với khoảng biến thiên sinh học chuẩn từ 900 đến 1.500 gam. Kết quả thử nghiệm kích dục tố PMSG và hCG cũng hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu hỗ trợ sinh sản trên các loài thú hoang dã khác như cầy vòi hương, khẳng định việc sử dụng kích dục tố ngoại sinh theo tỷ lệ 2:1 đã khắc phục hiệu quả hiện tượng chậm động dục do nuôi nhốt. Các dữ liệu tăng trưởng này có thể được trình bày trực quan và khoa học thông qua biểu đồ đường cong sinh trưởng tích lũy dạng chữ S cùng bảng đối sánh phương sai theo từng mốc thời gian 20 ngày.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, chuẩn hóa thiết kế chuồng trại và điều hòa tiểu khí hậu: Người chăn nuôi quy mô hộ gia đình cần xây dựng hệ thống ô chuồng có diện tích từ 0,6 đến 1,8 mét vuông, thành chuồng xây bằng gạch trát xi măng nhẵn hoặc ốp gạch men với chiều cao từ 70 đến 80 cm để ngăn dúi trèo thoát. Cần lắp đặt hệ thống mái che cách nhiệt hoặc giàn phun sương làm mát nhằm duy trì nền nhiệt độ chuồng nuôi ổn định trong khoảng 26 đến 30 độ C, tránh để nhiệt độ vượt ngưỡng 36 độ C hoặc giảm sâu dưới 10 độ C gây ức chế sinh trưởng (thời gian hoàn thiện trong 3 tháng đầu nuôi dưỡng).

Hai là, ứng dụng phác đồ can thiệp kích dục tố định kỳ: Kỹ thuật viên thú y và các cơ sở giống nên áp dụng tiêm bắp liều 15 IU PMSG kết hợp 7,5 IU hCG (chế phẩm Gestavet) cho dúi cái vào lúc 8 giờ sáng, sau đó ghép đôi sau 24 giờ với tỷ lệ 1 đực : 1 cái trong thời gian 7 ngày liên tục. Giải pháp này giúp kích thích rụng trứng đồng loạt, tăng tỷ lệ thụ thai lên trên 85% và nâng cao số lứa sinh sản đạt từ 2 đến 3 lứa mỗi năm (thực hiện theo từng chu kỳ sinh sản hàng năm).

Ba là, kiểm soát khẩu phần thô xơ và kỹ thuật chăm sóc nha khoa: Chủ trang trại cần đảm bảo cơ cấu thức ăn hàng ngày có ít nhất 60% là thức ăn xơ cứng như tre bánh tẻ, mía cứng và cỏ voi để dúi tự mài răng; đồng thời tiến hành kiểm tra răng miệng định kỳ 15 ngày một lần cho đàn giống mới thuần hóa, kịp thời bấm tỉa răng dài để giảm tỷ lệ hao hụt cơ học xuống dưới 3%.

Bốn là, thiết lập hệ thống quản lý phả hệ và hoàn thiện pháp lý: Cơ quan Khuyến nông phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm địa phương hướng dẫn 100% hộ chăn nuôi lập sổ theo dõi phả hệ giống nhằm loại trừ nguy cơ giao phối cận huyết, đồng thời hướng dẫn đăng ký mã số cơ sở gây nuôi động vật rừng thông thường theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ trong vòng 30 ngày kể từ khi bắt đầu nuôi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Chủ trang trại và các hộ nông dân chăn nuôi động vật hoang dã. Tài liệu cung cấp trọn bộ hướng dẫn kỹ thuật thực tế từ việc chọn con giống 300 đến 350 gam, bố trí ô chuồng 0,6 đến 1,8 mét vuông cho đến kỹ thuật ghép đôi sinh sản, giúp giảm tỷ lệ hao hụt đàn từ 22,22% xuống dưới 5% và nâng cao hiệu quả sinh lời.

Nhóm 2: Kỹ thuật viên thú y và cán bộ khuyến nông cơ sở. Luận văn cung cấp phác đồ định lượng chính xác 15 IU PMSG kết hợp 7,5 IU hCG cùng phương pháp xử lý các bệnh phổ biến như dài răng, đau mắt, chấn thương ổ mủ, hỗ trợ đắc lực cho công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sinh sản tại địa phương.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Sinh học thực nghiệm, Chăn nuôi - Thú y. Bộ số liệu thực nghiệm về tốc độ sinh trưởng tuyệt đối 3,74 gam/con/ngày và các phản ứng nội tiết của loài dúi mốc lớn đóng vai trò là nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực phục vụ các nghiên cứu chuyên sâu về động vật gặm nhấm.

Nhóm 4: Cán bộ quản lý lâm nghiệp và hoạch định chính sách nông nghiệp. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ việc đánh giá tính khả thi khi thẩm định cấp phép cơ sở nuôi thương mại theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP, góp phần phát triển kinh tế gắn với bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Dúi mốc lớn nuôi nhốt đạt tốc độ tăng trọng trung bình bao nhiêu gam mỗi ngày?

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm xác định tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân của dúi mốc lớn đạt 3,74 gam/con/ngày trong suốt 180 ngày nuôi dưỡng. Giai đoạn tăng trọng nhanh nhất diễn ra từ tháng thứ 5 đến thứ 6 với mức tăng 4,90 gam/con/ngày, giúp khối lượng cơ thể tăng từ 321,71 gam lên 995,71 gam khi đạt 10 tháng tuổi.

Phác đồ kích dục tố nào mang lại hiệu quả sinh sản tối ưu nhất cho dúi mốc cái?

Phác đồ tiêm bắp liều 15 IU PMSG kết hợp 7,5 IU hCG (tỷ lệ hoạt tính 2:1 trong chế phẩm Gestavet) vào lúc 8 giờ sáng mang lại hiệu quả vượt trội. Sau khi tiêm 24 giờ, tiến hành ghép đôi với con đực trong 7 ngày liên tục giúp kích thích noãn chín đồng loạt, nâng cao tỷ lệ đậu thai và đảm bảo tỷ lệ sống của con non sau 48 giờ đạt trên 85%.

Vì sao dúi mốc bắt từ tự nhiên có tỷ lệ nuôi sống thấp hơn dúi thuần?

Trong 40 cá thể thí nghiệm, dúi tự nhiên có tỷ lệ sống 77,78%, thấp hơn 17,68% so với dúi thuần đạt 95,45%. Nguyên nhân là do dúi tự nhiên chịu áp lực stress lớn khi đổi môi trường sống, chưa quen với khẩu phần ăn nhân tạo và dễ mắc tật mọc dài răng cửa gây đau đớn bỏ ăn, đòi hỏi phải can thiệp bấm răng định kỳ.

Kích thước và điều kiện chuồng trại nuôi dúi hộ gia đình cần thiết kế ra sao?

Mô hình chuồng nuôi tối ưu có diện tích từ 0,6 đến 1,8 mét vuông, tường trát xi măng phẳng nhẵn hoặc ốp gạch men cao từ 70 đến 80 cm để chống trèo. Môi trường nuôi cần duy trì nhiệt độ từ 26 đến 30 độ C, có mái che chắn ánh sáng trực tiếp nhằm bảo vệ thị giác và hạn chế tập tính cắn phá tự vệ của con vật.

Thủ tục pháp lý cần thiết để mở cơ sở nuôi dúi mốc thương phẩm tại Việt Nam là gì?

Người chăn nuôi cần thực hiện đăng ký cấp mã số cơ sở nuôi động vật rừng thông thường tại Chi cục Kiểm lâm địa phương theo quy định tại Nghị định 06/2019/NĐ-CP. Hồ sơ yêu cầu chứng minh nguồn gốc con giống hợp pháp qua bảng kê lâm sản, mở sổ theo dõi tăng giảm đàn và bảo đảm đầy đủ các điều kiện vệ sinh thú y, an toàn môi trường.

Kết luận

  • Tỷ lệ sống của dúi mốc lớn có nguồn gốc nuôi thuần đạt mức 95,45%, khẳng định khả năng thích nghi sinh thái vượt trội trong điều kiện khí hậu duyên hải Bình Định.
  • Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình đạt 3,74 gam/con/ngày, đưa khối lượng cá thể đạt 995,71 gam sau 180 ngày nuôi dưỡng và hoàn thiện thể chất sinh sản.
  • Phác đồ tiêm bắp 15 IU PMSG kết hợp 7,5 IU hCG giúp tối ưu hóa chu kỳ động dục, nâng cao tỷ lệ đậu thai và tỷ lệ sống sơ sinh đạt trên 85%.
  • Hoàn thiện mô hình kỹ thuật chuồng trại nông hộ từ 0,6 đến 1,8 mét vuông kết hợp kiểm soát khẩu phần 60% xơ cứng và bấm răng định kỳ giúp ngăn ngừa triệt để hao hụt đàn giống.
  • Cung cấp hệ thống luận cứ sinh học thực nghiệm vững chắc, đóng góp quan trọng vào quy trình chuẩn hóa nghề nuôi động vật hoang dã hợp pháp theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP.

Trong giai đoạn tiếp theo, các địa phương cần đẩy mạnh công tác tập huấn chuyển giao phác đồ kích thích sinh sản và hỗ trợ cấp phép mã số vùng nuôi; người chăn nuôi và các nhà nghiên cứu hãy tải ngay toàn văn luận văn để áp dụng trọn bộ quy trình kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.