Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nằm ở giao điểm của các luồng di cư thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc, Indonesia và Malaysia, tạo nên hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao với khoảng 10% số loài sinh vật của thế giới trên 1% diện tích đất liền. Tuy nhiên, tài nguyên rừng tự nhiên đã suy giảm mạnh qua nhiều thập kỷ: từ 14,3 triệu ha (độ che phủ 43,7%) năm 1943 xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha (độ che phủ 27,8%) vào năm 1990; đến giai đoạn 2010–2013, dù độ che phủ đạt 40,7% nhưng chủ yếu là rừng trồng, diện tích rừng tự nhiên vẫn tiếp tục suy thoái.

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trên địa giới các xã Xuân Lạc, Bản Thi và Đồng Lạc. Đây là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi liền kề Vườn quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, lưu giữ 515 loài thực vật bậc cao (30 loài trong Sách đỏ Việt Nam) và 373 loài động vật (20 loài quý hiếm). Trong số các loài thực vật đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng, loài Vương tùng (Murraya glabra Guillaum.) có giá trị dược liệu và chiết xuất tinh dầu cao, đang chịu sức ép khai thác nghiêm trọng từ các làng bản lân cận.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:

  1. Tìm hiểu sự hiểu biết và tình hình sử dụng của người dân địa phương về loài cây Vương tùng trong khu vực nghiên cứu.
  2. Xác định tình hình phân bố tự nhiên của loài cây Vương tùng trong khu vực nghiên cứu.
  3. Xác định một số đặc điểm sinh học và sinh thái của loài cây Vương tùng, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Vương tùng quý hiếm tại khu bảo tồn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các cá thể loài cây Vương tùng (Murraya glabra Guillaum.) phân bố tự nhiên trong lâm phần.
  • Địa điểm nghiên cứu: Các khu vực rừng tự nhiên thuộc tiểu khu Nặm Thúng, Lũng Lỳ và Nặm Phiêng thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
  • Thời gian thực hiện: Thu thập số liệu thực địa, tổng hợp và hoàn thiện khóa luận từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 5 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống tiêu chuẩn phân hạng bảo tồn của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 1978, 2000), Danh lục Đỏ IUCN và Sách đỏ Việt Nam (phần Thực vật các năm 1996, 2007) với phân hạng của loài Vương tùng là Sắp nguy cấp (VU A1a,c,d). Cơ sở pháp lý và chính sách bảo tồn kế thừa từ Chỉ thị số 194-CT (1986), Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg về chiến lược quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, Nghị định số 18-HĐBT (1992), Nghị định số 48/2002/NĐ-CP và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Cơ sở phân loại thực vật họ Cam (Rutaceae) dựa trên các hệ thống phân loại của Jussieu, De Candolle và các công trình thực vật học của Lecomte, Phạm Hoàng Hộ, Đỗ Tất Lợi.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý số liệu bao gồm:

  1. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Tiến hành phỏng vấn 30 hộ gia đình (20 hộ tại thôn Nà Dạ và 10 hộ tại thôn Bản Eng, xã Xuân Lạc) kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm và người am hiểu tài nguyên rừng địa phương.
  2. Phương pháp điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC):
    • Thiết lập 3 tuyến điều tra qua 3 khu vực: Tuyến 1 (Lũng Lỳ), Tuyến 2 (Nặm Thúng), Tuyến 3 (Nặm Phiêng).
    • Thiết lập tổng số 16 OTC điển hình đại diện cho các trạng thái rừng, diện tích mỗi OTC là 1.000 m² (20 m × 50 m) hoặc 100–200 m² tại những nơi vách đá dốc hiểm trở (cứ chênh lệch 100 m độ cao lập 1 OTC): Tuyến 1 lập 9 OTC, Tuyến 2 lập 4 OTC, Tuyến 3 lập 3 OTC.
    • Điều tra tầng cây cao (đường kính ngang ngực $D_{1,3} \ge 6\text{ cm}$, chiều cao vút ngọn $H_{vn}$).
    • Điều tra tái sinh tự nhiên và tầng cây bụi thảm tươi: Thiết lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (5 m × 5 m) tại 4 góc và tâm của mỗi OTC.
    • Đo độ tàn che tại 5 vị trí trong OTC theo các ODB rồi lấy trị số trung bình.
    • Đo đếm hình thái lá: Đo chiều dài, chiều rộng của 100 lá ở các vị trí dưới tán, giữa tán, đỉnh tán theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc trên 5 cây trưởng thành ($D_{1,3} \ge 6\text{ cm}$) và 10 cây tái sinh.
    • Đào và mô tả phẫu diện đất theo hướng phẫu diện quay dọc Đông - Tây, ghi nhận độ dày tầng đất, màu sắc, độ ẩm, độ xốp, tỷ lệ đá lẫn, đá lộ đầu và thành phần cơ giới.
  3. Phương pháp xử lý số liệu cấu trúc lâm phần:
    • Tổ thành tầng cây cao được tính theo Chỉ số giá trị quan trọng ($IVI$): $$IVI_i (%) = \frac{A_i + D_i + RF_i}{3}$$ Trong đó $A_i$ là độ phong phú tương đối, $D_i$ là độ ưu thế tương đối theo tiết diện ngang ($G$), $RF_i$ là tần suất xuất hiện tương đối. Các loài có $IVI \ge 5%$ được đưa vào công thức tổ thành sinh thái.
    • Tổ thành tầng tái sinh xác định theo hệ số $K_i = (N_i / N) \times 10$; mật độ tái sinh tính quy đổi theo số cây/ha.
    • Đánh giá tác động nhân vi: Cho điểm từ 0 đến 3 theo các tiêu chí (xói mòn, ăn gặm, chặt cây, động vật nuôi, đốt phát rừng, khai thác lâm sản ngoài gỗ) trên các tuyến điều tra cách khu dân cư 500 m.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại các vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam; giới thiệu vị trí chiến lược của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc trong việc kết nối hành lang sinh thái Ba Bể - Na Hang; nêu rõ 3 mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp dữ liệu phục vụ bảo tồn nguồn gen loài cây Vương tùng.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở khoa học về sinh học, sinh thái và bảo tồn loài nguy cấp; rà soát lịch sử phân loại thực vật trên thế giới và Việt Nam; tổng quan đặc điểm thực vật học của chi Murraya và loài Murraya glabra; tổng hợp điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu (nhiệt độ trung bình năm 20,1°C, lượng mưa trung bình 153 mm phân bố không đều, địa hình núi đá dốc từ 25° đến trên 45°); thống kê điều kiện dân sinh xã hội tại 2 xã Xuân Lạc và Bản Thi với 986 hộ, 4.750 nhân khẩu, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 45,13%.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết vị trí địa lý 3 khu vực nghiên cứu (Lũng Lỳ, Nặm Thúng, Nặm Phiêng); thiết lập quy trình điều tra xã hội học bằng bảng hỏi PRA; mô tả phương pháp bố trí 3 tuyến điều tra và 16 OTC tầng cây cao; quy cách thiết lập ô dạng bản 25 m² khảo sát tái sinh và thảm mục; tiêu chuẩn đào và đánh giá phẫu diện đất rừng núi đá vôi; hệ thống công thức toán học tính toán chỉ số $IVI$, hệ số tổ thành tầng cây cao và cây con tái sinh.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu thập từ thực địa, phân tích sâu các khía cạnh sinh học, sinh thái, phân bố và áp lực khai thác của con người:

Sự hiểu biết và tình hình sử dụng của người dân địa phương: Kết quả phỏng vấn 30 hộ gia đình cho thấy 100% người dân biết về loài Vương tùng với các tên gọi địa phương như Cơm nguội, Củ khỉ, Nguyệt quế nhẵn, Nhâm hôi. Có 90% số phiếu ghi nhận người dân khai thác rễ, lá để bán cho thương lái; 10% số phiếu ghi nhận vừa bán vừa sử dụng trị bệnh tại chỗ (sắc uống chữa cảm mạo, tê thấp, đau nhức xương khớp với liều 8–16 g/ngày); 0% hộ gia đình có hoạt động gây trồng.

Đặc điểm hình thái học: Cây trưởng thành là dạng cây gỗ nhỏ mọc thành bụi cao 2–4 m, cành non màu đỏ tím; lá kép lông chim lẻ mọc so le dài 10–25 cm, mang 3–9 lá chét hình mũi mác, đầu lá thuôn nhọn; hoa tự chùm sim ở nách lá hoặc đầu cành, hoa màu trắng có 8 nhị; quả hình cầu hoặc hình bầu dục đường kính 7–9 mm, khi chín có màu đỏ, vỏ quả chứa nhiều túi tiết tinh dầu thơm.

Vị trí lá chét trên lá kép Chiều dài (cm) [Nhỏ nhất - Lớn nhất] Chiều dài trung bình (cm) Chiều rộng (cm) [Nhỏ nhất - Lớn nhất] Chiều rộng trung bình (cm)
Dưới lá kép 9,0 – 35,0 24,00 8,0 – 16,0 10,50
Giữa lá kép 12,0 – 40,0 29,00 9,5 – 20,0 13,25
Đỉnh lá kép 11,0 – 38,0 27,20 9,0 – 18,5 12,00

Cấu trúc tầng cây cao và sinh thái lâm phần: Trong tổng số 16 OTC điều tra, loài Vương tùng chỉ xuất hiện tại 2 ô tiêu chuẩn là OTC 07 và OTC 15 với mật độ rất thấp (mỗi ô chỉ ghi nhận 1 cá thể trưởng thành).

OTC Mật độ (cây/OTC) Số loài tham gia Công thức tổ thành tầng cây cao ($IVI \ge 5%$)
07 37 12 $31,71\text{Ng} + 16,25\text{Nh} + 12,75\text{Gvn} + 10,72\text{Tr} + 7,49\text{Tbb} + 5,47\text{Nr} - 2,28\text{Vt} + 12,8\text{Lk}$
15 58 19 $15,49\text{Ng} + 11,06\text{Tbb} + 9,56\text{Nh} + 8,38\text{Nr} + 7,31\text{Mt} + 6,39\text{Gvn} + 6,18\text{Sn} + 5,24\text{T} + 5,21\text{Tr} - 1,5\text{Vt} + 23,66\text{Lk}$

(Ký hiệu loài: Ng: Nghiến, Nh: Nhọc, Gvn: Găng việt nam, Tr: Trai, Tbb: Thích bắc bộ, Nr: Nhãn rừng, Mt: Muồng trắng, Sn: Sung nếp, T: Trâm, Vt: Vương tùng, Lk: Loài khác).

Loài Vương tùng phân bố ở lâm phần có độ tàn che trung bình đạt 0,7 (dao động từ 0,55 đến 0,85).

Đặc điểm tái sinh tự nhiên và thảm thực bì tầng dưới: Tái sinh của loài Vương tùng cực kỳ hạn chế. Trong 16 OTC, chỉ có duy nhất OTC 07 ghi nhận được 3 cá thể cây tái sinh mọc từ hạt quanh gốc cây mẹ, chất lượng sinh trưởng yếu; OTC 15 hoàn toàn không có cây tái sinh.

Lâm phần Tổng số cây tái sinh Số cây Vương tùng Công thức tổ thành tái sinh ($K \ge 0,5$)
OTC 07 23 3 $1,74\text{Ng} + 1,3\text{Nr} + 1,3\text{Tbb} + 1,3\text{Nh} + 1,3\text{Vt} + 3,04\text{Lk}$
OTC 15 29 0 $3,1\text{Ng} + 2,14\text{Tr} + 1,72\text{Nr} + 1,03\text{Nh} + 1,03\text{Tc} + 0,69\text{M}$

Thảm tươi và cây bụi dưới tán có độ che phủ trung bình 10,95% (OTC 07 đạt 9,0%, OTC 15 đạt 12,9%), bao gồm các loài cây bụi như Ta me, Chân chim gai, Lộc mại lá to, Lấu núi, Gióng xanh, Thường sơn; các loài dây leo và thảm tươi gồm Giảo cổ lam, Quyển bá, Dương xỉ, Tắc kè đá, Dây mã tiền.

Đặc tính đất và điều kiện lập địa: Cây Vương tùng phân bố trên các sườn núi đá vôi dốc trung bình 43°, độ cao tuyệt đối từ 700 m đến 750 m so với mực nước biển, thuộc trạng thái rừng phục hồi sau khai thác IIIA2.

Chỉ tiêu đất Ô tiêu chuẩn 07 Ô tiêu chuẩn 15
Tỷ lệ đá lộ đầu 90% 60%
Tỷ lệ đá lẫn Tầng A: 35% – Tầng B: 60% Tầng A: 10% – Tầng B: 15%
Chiều dày tầng đất Tầng $A_0$: 1 cm; Tầng A: 10 cm; Tầng B: 30 cm Tầng $A_0$: 1 cm; Tầng A: 20 cm; Tầng B: 40 cm
Màu sắc đất Tầng A nâu đỏ – Tầng B nâu vàng Tầng A nâu đỏ – Tầng B nâu vàng
Độ ẩm và độ xốp Ẩm, xốp Ẩm, xốp
Thành phần cơ giới Thịt nhẹ pha đá Thịt nhẹ

Áp lực tác động nhân vi: Khảo sát tại các tuyến điều tra cách bản làng 500 m cho thấy hoạt động của con người gây sức ép liên tục lên sinh cảnh sống của loài cây Vương tùng.

Tuyến điều tra Chặt cưa cây Khai thác LSNG Đốt/phát rừng Gia súc thả rông Yếu tố khác
Tuyến 1 (Lũng Lỳ) 2,14 1,00 1,29 1,43 0,57
Tuyến 2 (Nặm Thúng) 1,00 0,78 0,00 0,44 0,56
Tuyến 3 (Nặm Phiêng) 1,70 1,00 0,70 1,00 0,40
Trung bình 1,61 0,93 0,66 0,96 0,51

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả điều tra thực nghiệm về số lượng cá thể, hiện trạng tái sinh và lập địa phân bố; đề xuất các giải pháp bảo tồn nguyên vị tại hai vị trí xuất hiện cây mẹ, biện pháp nghiên cứu nhân giống nhân tạo và kiến nghị giải pháp kiểm soát khai thác rừng đặc dụng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã xác lập hệ thống dữ liệu thực địa về loài cây Vương tùng tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc:

  • Đánh giá định lượng tính hiếm của loài: Trong 16 ô tiêu chuẩn thiết lập trên 3 tuyến điều tra, chỉ bắt gặp 2 cá thể Vương tùng trưởng thành tại OTC 07 và OTC 15 (chỉ số $IVI$ lần lượt là 2,28% và 1,5%). Khả năng tái sinh tự nhiên rất thấp, chỉ tìm thấy 3 cá thể tái sinh từ hạt tại OTC 07 và không có cây tái sinh nào tại OTC 15.
  • Xác định sinh cảnh đặc trưng: Loài chỉ phân bố ở đai độ cao từ 700 m đến 750 m trên sườn núi đá vôi dốc trung bình 43°, trong trạng thái rừng phục hồi IIIA2 có độ tàn che tầng cao trung bình 0,7; đất có tỷ lệ đá lộ đầu cao (60–90%), tầng đất mỏng (10–40 cm) nhưng ẩm và xốp.
  • Nhận diện nguy cơ suy giảm: 90% người dân được phỏng vấn khẳng định có khai thác lá và rễ để bán, hoạt động chặt cưa cây và thả rông gia súc diễn ra phổ biến (điểm tác động trung bình đạt 1,61 và 0,96).
  • Hệ thống giải pháp đề xuất của tác giả:
    • Bảo tồn nguyên vị (in-situ): Khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt 2 cá thể cây mẹ tại OTC 07 và OTC 15; cấm tuyệt đối việc chặt hạ, đào rễ, bứt lá; ngăn chặn hoạt động chăn thả gia súc và đốt nương rẫy vùng lõi.
    • Bảo tồn chuyển vị (ex-situ) và phát triển: Thu hái quả chín (tháng 8–9) để nghiên cứu gieo ươm nhân giống từ hạt và thử nghiệm nhân giống vô tính bằng giâm hom; tổ chức trồng thử nghiệm bán tự nhiên tại các vùng đệm.
    • Quản lý cộng đồng: Tuyên truyền giá trị bảo tồn nguồn gen cho đồng bào Tày, Dao tại hai xã Xuân Lạc và Bản Thi; hỗ trợ chuyển đổi sinh kế để giảm áp lực khai thác lâm sản ngoài gỗ.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Đây là công trình thực địa đầu tiên cung cấp số liệu định lượng chi tiết về hình thái học, cấu trúc tổ thành lâm phần, tính chất phẫu diện đất và hiện trạng tái sinh thực tế của loài Murraya glabra trên vùng núi đá vôi Nam Xuân Lạc, bổ sung dẫn liệu cụ thể cho Sách đỏ Việt Nam tại tỉnh Bắc Kạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu được ghi nhận trong khóa luận:

  • Thời gian tiến hành điều tra ngoại nghiệp tương đối ngắn (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014) nên chưa theo dõi trọn vẹn được toàn bộ chu kỳ sinh vật học quanh năm của loài, đặc biệt là giai đoạn quả chín già vào tháng 8–9.
  • Số lượng cá thể phát hiện trong tự nhiên quá ít (chỉ 2 cây trưởng thành và 3 cây tái sinh trong 16 OTC), khiến mẫu thống kê sinh trắc học bị giới hạn.
  • Do tỷ lệ đá lộ đầu trên vách núi quá cao (60–90%), việc đào phẫu diện đất chuẩn gặp nhiều cản trở kỹ thuật, một số tầng tích tụ chỉ có thể quan sát và đo đếm mô tả cục bộ trong các kẽ đá.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi điều tra lập tuyến trên toàn bộ diện tích núi đá vôi hiểm trở còn lại của Khu bảo tồn Nam Xuân Lạc và vùng giáp ranh Na Hang (Tuyên Quang), Ba Bể (Bắc Kạn).
  • Thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về kỹ thuật nhân giống sinh sản (tỷ lệ nảy mầm của hạt, xử lý chất kích thích ra rễ trong giâm hom cành).
  • Phân tích hóa học định lượng thành phần hoạt chất tinh dầu (menthone) thu hái từ các cá thể tại địa bàn để xác lập cơ sở dược lý phục vụ phát triển kinh tế bền vững.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học thực vật và Dược liệu học quan tâm đến thực vật núi đá vôi.
  • Ban quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn trong công tác xây dựng quy chế quản lý bảo vệ loài nguy cấp, thiết lập kế hoạch tuần tra khoanh vùng bảo vệ nguồn gen.
  • Các nội dung đáng tham khảo nhất gồm: Hệ thống công thức toán học tính toán chỉ số giá trị quan trọng $IVI$ và tổ thành tái sinh; phương pháp lập tuyến và ô tiêu chuẩn trên địa hình núi đá vôi dốc đứng; bộ số liệu chi tiết về kích thước lá chét và lý tính phẫu diện đất nơi có loài phân bố.

Câu hỏi thường gặp

Loài Vương tùng được ghi nhận phân bố tại những ô tiêu chuẩn nào trong khóa luận?

Trong tổng số 16 ô tiêu chuẩn (OTC) được thiết lập tại 3 tuyến điều tra, loài Vương tùng chỉ xuất hiện tại 2 ô tiêu chuẩn là OTC 07 (khu vực Lũng Lỳ) và OTC 15 (khu vực Nặm Phiêng), mỗi ô chỉ ghi nhận được 1 cá thể cây trưởng thành.

Tình trạng tái sinh tự nhiên của loài cây Vương tùng tại khu bảo tồn ra sao?

Khả năng tái sinh tự nhiên của loài rất kém. Toàn bộ 16 OTC chỉ ghi nhận được 3 cá thể cây tái sinh mọc từ hạt tập trung quanh gốc cá thể mẹ tại OTC 07; tại OTC 15 và 14 OTC còn lại hoàn toàn không phát hiện cây con tái sinh.

Tỷ lệ đá lộ đầu và độ dốc nơi loài Vương tùng sinh sống là bao nhiêu?

Cây Vương tùng phân bố ở những nơi có địa hình rất dốc với độ dốc trung bình 43° trên sườn núi đá vôi ở độ cao 700–750 m. Tỷ lệ đá lộ đầu tại OTC 07 lên tới 90% và tại OTC 15 là 60%, đất chỉ tồn tại trong các hốc đá và kẽ nứt.

Người dân địa phương khai thác bộ phận nào của cây Vương tùng và phục vụ mục đích gì?

Người dân khai thác lá và rễ của cây Vương tùng. Theo điều tra PRA, 90% người dân khai thác để bán cho thương lái; rễ và lá được dùng làm thuốc sắc uống (liều 8–16 g/ngày) chữa cảm mạo, sốt rét, trừ thấp, tiêu thũng, đau khớp hoặc chưng cất tinh dầu trị cảm cúm và đau bụng.

Thành phần hóa học chính trong tinh dầu lá loài cây này là gì?

Theo tài liệu thứ cấp được tác giả trích dẫn trong phần tổng quan, lá Vương tùng chứa khoảng 4,4% tinh dầu (lá non đạt 5,48%, lá già đạt 3,24%), trong đó thành phần chủ yếu là menthone, chiếm tỷ lệ từ 93% đến 99%.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lèng Ngọc Mẫn đã khảo sát và cung cấp các dẫn liệu thực địa về đặc điểm hình thái, sinh thái học, phân bố và hiện trạng tái sinh của loài cây dược liệu quý hiếm Vương tùng (Murraya glabra Guillaum.) tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Kết quả nghiên cứu khẳng định loài đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp tại khu vực do số lượng cá thể trưởng thành còn lại quá ít, tái sinh tự nhiên yếu ớt và chịu áp lực khai thác rễ lá mạnh mẽ từ cộng đồng địa phương. Các số liệu điều tra cấu trúc lâm phần và đề xuất bảo tồn nguyên vị kết hợp nghiên cứu nhân giống nhân tạo trong công trình là cơ sở thực tiễn để phục hồi và bảo vệ nguồn gen thực vật quý hiếm trên núi đá vôi tỉnh Bắc Kạn.