Đặt vấn đề Sự tồn tại của xã hội loài người liên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật. Tuy nhiên con người đang lạm dụng quá mức việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên này và kết quả là tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật, môi trường bị suy thoái, gây ra mất cân bằng sinh thái, đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật trong đó có loài người của chúng ta. Sức khỏe của hành tinh phụ thuộc vào sự đa dạng của các loài sinh vật. Vì vậy việc bảo tồn đa dạng sinh học được coi là nhiệm vụ rất cấp bách hiện nay và cũng là trách nhiệm của toàn nhân loại.
Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên Việt Nam cũng đang phải đối mặt với một thực trạng rất đáng lo ngại đó là sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường và tài nguyên đa dạng sinh học, đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật và cuối cùng là ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH ở Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn và hiện nay cả nước có khoảng 128 khu bảo tồn. Mặc dù các loài thực vật được bảo tồn cao như vậy, nhưng những nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam hiện nay còn rất thiếu.
Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả đặc điểm hình thái, định danh loài mà chưa đi sâu nghiên cứu nhiều về các đặc tính sinh học, sinh thái học, gây trồng và bảo tồn loài. Khu bải tồn thiên nhiên Phia Đén-Phia Oắc là nới rất đa dạng về các loài thực vật quý hiếm. Pơ mu là một trong số những loài đang cố nguy cơ bị tuyệt chủng cao. Do đó tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A.
Henry e 2 et thomas, 1991) làm cơ sở cho việc bảo tồn loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng”. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của cây Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et Thomas,1991.) tại khu bảo tồn Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng. - Đưa ra một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Pơ mu.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi làm quen được với công việc nghiên cứu khoa học, bên cạnh đó còn củng cố được lượng kiến thức chuyên môn đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng những lý thuyết đã học trong nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành. Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học. Qua quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tại khu bảo tồn Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng, tôi đã tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong việc gieo ươm cây giống.
Đây sẽ là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh học của một số cây Pơ mu nhằm đề xuất một số biện pháp bảo tồn loài. Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát triển cây Pơ mu quý này góp phần vào phát triển nền kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh cũng như toàn bộ khu vực miền núi phía bắc. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của nghiên cứu Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đa dạng sinh học đang ngày càng suy giảm làm cho số lượng các loài động thực vật giảm từng ngày từng giờ, đặc biệt là các loài động, thực vật quý hiếm. Có những loài thực vật rất phong phú nhưng hiện nay một số loài trong họ vẫn có nguy cơ bị tuyệt chủng. Hoàng đàn (Cupressaceae) là một trong số những họ thực vật đa dạng nhất của Việt Nam nhưng hiện nay số lượng cây trong họ Hoàng đàn ngày càng suy giảm do vậy cần nâng cao công tác bảo tồn. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên.
Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái. Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation). Nhóm các loài tuyệt chủng. + Tuyệt chủng (EX.
+ Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW) + Cực kì nguy cấp (CR+ Nguy cấp (EN + Sắp nguy cấp (VU Nhóm các loài ít nguy cấp: LR Nghị định 32/2006/NĐ-CP e 4 +) Nhóm I: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số luợng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao. Thực vật rừng, động vật rừng gồm 2 nhóm A thực vật và B động vật rừng: Nhóm IA, IIA gồm các loài thực vật rừng. Nhóm IB, IIB gồm các loài động vật rừng (Nguồn nghị định 32/2006/NĐ- CP) [5]. Dựa vào phân cấp bảo tồn loài và đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén.
Có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, một trong những loài thực vật cần được bảo tồn gấp đó chính là loài Pơ mu tại khu bảo tồn, đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện đề tài. Đối với bất kì công tác bảo tồn một loài động thực vật nào đó thì việc đi tìm hiểu kĩ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất. Ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén và người dân địa phương, tôi đi tìm hiểu tình hình phân bố một số loài Pơ mu, thống kê số lượng, tình hình sinh trưởng và đặc điểm sinh thái học của chúng tại địa bàn nghiên cứu. Đây là cơ sở thứ hai để tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Nhưng do giới hạn của đề tài và năng lực của bản thân còn hạn chế nên tôi chưa thể phân tích đánh giá một cách cụ thể mà chỉ tiến hành “tìm hiểu” và đánh giá khái quát để đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát triển loài. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 2. Lịch sử phát triển và tình hình nghiên cứu trên thế giới Loài Pơ mu đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng về mặt phân loại thực vật và phân bố trên thế giới: Chi Pơ mu (danh pháp khoa học: Fokienia) là một e 5 chi trong họ Hoàng đàn(Cupressaceae). Trong các đặc trưng của nó, chi Fokienia là trung gian giữa hai chi Chamaecyparis và Caloecedrus, mặc dù về mặt di truyền học thì nó gần gũi hơn với chi thứ nhất.
Chi này chỉ có một loài còn sống là cây Pơ mu (Fokienia hodgnsii (Dunn) A.Thomas), trong các tài liệu bằng tiếng nước ngoài như trong tiếng anh gọi là Fujian cypress (tạm dịch là Bách Phúc Kiến) và một loài chỉ còn ở dạng hóa thạch là Fokienia ravenscragensis [6]. Loài hóa thạch Fokienia ravenscragensis đã được miêu tả là có từ thời kỳ đầu của thế Paleocen(60-65 Ma). Loài này có ở miền Tây Nam Saskatchewan và vùng phụ cận Alberta, Canada [6]. Về phân bố sinh thái, yêu cầu nơi sống (Habitat) của cây Pơ mu cho thấy (Fokienia hodginsii) là loài cây có nguồn gốc thực vật từ Đông Nam Trung Quốc đến Bắc Việt Nam và Bắc Lào.
Về yêu cầu sinh thái trong gieo trồng cây Pơ Mu cũng được nghiên cứu ở Trung Quốc, cây còn yêu cầu chế độ nhiệt ẩm khá khô vào mùa xuân, cần bóng che ở giai đoạn non. Trong gây trồng nếu tưới quá nhiều cây sẽ chết. Cây cao 12m trong điều kiện tự nhiên khi trồng với mật độ 2x 1,8m trong 10 năm đầu [7].2 Nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu vầ cây Pơ mu trong nước trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại thực vật mô tả phân bô sinh thái phân tích gái trị công dụng của nó về dược liệu và trong đời sống, và mới đây là một số nghiên cứu thị trường loài Pơ mu. Trong sách “Cây cỏ Việt Nam”[4] trong đó có giới thiệu về cây Pơ mu(Fokienia hodginsii) là cây đại mộc cao 20m nhánh dẹp.
Lá ở nhánh trẻ là vảy dẹp,mỏng,đầu nhọn, lá ở nhánh già nhỏ hơn, cong vào thân. Chùy tròn, to, 1,5- 2,2 cm, vảy hình khiên, hột 2, vàng rơm sậm, cao 6 mm, hai cánh một e 6 to, một nhỏ. Chùy cái gần 2 năm mới chín.700m; Gỗ làm hòm,đồ mỹ nghệ. Trần Hợp (2002) trong quyển “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” của tác giả đã mô tả cây Pơ mu (Fokienia hodginsii) cao tới 30-35 m, đường kính 1m.
Thân thẳng , có bạnh to. Vỏ xám xanh, bong thành mảnh. Mùi thôm dịu. cành nhỏ dẹt.
Lá hình vảy, cây non hay cành không mang nón có lá to hai bên xòe rộng, còn ở cành già hay cành mang nón lá nhỏ hơn, mặt dưới lá màu trắng xanh. Nón đực mọc ở nách lá dài 1cm. Nón cái mọc ở đầu cành có đế mập nhỏ. Nón hình cầu, khi chin nứt , màu nâu đỏ.Hạt hình trứng tròn, có hai cánh không đều nhau.
Hai lá mầm hình dài, lá mới sinh gần đối, 4 lá mọc vòng [3]. Pơ mu (Fokienia hodginsii) là cây gỗ to, có tán hình tháp, thường xanh, cao 25–30 m hay hơn, đường kính thân tới 1m. Thân thẳng, không có bạnh gốc, cành phân ngang. Vỏ thân màu xám nâu, bong thành mảng khi non, sau nứt dọc, thơm.