Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về nhân giống Chọn giống là một trong những khâu quan trọng nhất, quyết định đến năng suất và chất lượng rừng trồng. Tại Kenya đã thành công nhân giống các loài Yushania alpina và Oxytenanthera abyssinica bằng phương pháp nuôi cấy mô (Bernard Kingomo 2007) [27].
Verma and Arya (1998) [31] đã nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sinh trưởng, sinh khối và khả năng hút dinh dưỡng của cây Dendrocalamus asper, thành phần ruột bầu với tỷ lệ cát: đất (tỷ lệ 1:1) làm giảm khả năng ra rễ và hàm lượng P trong rễ. Trong khi ở các thí nghiệm bón bổ sung phân hữu cơ thì các chỉ tiêu nghiên cứu như chiều cao, sinh khối khô và khả năng ra rễ của Dendrocalamus asper đều tốt hơn. Ngoài ra phương pháp nhân giống bằng hạt đã được thực hiện tại Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ cho các loài cây Dendrocalamus brandisii, Dendrocalamus membranaceus, Dendrocalamus strictus (Bernard Kingomo, 2007) [27] và Dai Qihui, 1998) [28]. Kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác - Chọn lập địa trồng Theo Alrasjid (2003) [33], Luồng được coi là một trong những loài cây sử dụng “tham lam” dinh dưỡng của đất.
Vì vậy, muốn duy trì sức sản xuất của đất rừng thì phải sử dụng phân bón trong thâm canh rừng trồng Luồng. Theo Sutiyono (2004) [37] khi nghiên cứu dinh dưỡng đất của rừng Dendrocalamus asper Back cho thấy ở các tầng từ 0 - 20cm và từ 20 - 40cm dưới tán rừng độ chua, hàm lượng mùn, nitơ, kali, các ion K+, Na+, Ca2+, Mg2+ và các cation trao đổi đều rất thấp ở cả 2 tầng đất. Tre, Luồng thường ưa thích các loại đất sét và sét pha cát, tuy nhiên dù loại đất nào thì cũng phải thoát nước tốt vì măng Tre, Luồng không chịu được ngập nước, độ pH thích hợp cho tre, Luồng từ 4,5 - 6 (Bernard, 2007) [27]. Theo Dai Qihui (1998) [28] nên chọn nơi có độ dày tầng đất cao, đất còn tốt, thoát nước tốt, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nên trồng ở các thung lũng, dọc bờ sông, suối, cũng có thể trồng ở chân và sườn đồi. Nếu trồng nơi đất khô, xấu thì Luồng có thể sống nhưng sinh măng, thân sẽ nhỏ và mang lại hiệu quả kinh tế thấp và dễ bị thoái hóa. - Chuẩn bị đất trồng Tuỳ theo từng loại giống Tre, Luồng mà cây con đem trồng có các phương thức xử lý đất và thực bì khác nhau trước khi trồng. Kích thước và cự ly hố tuỳ thuộc vào phương pháp trồng và loài cây.
Đối với các loài to như Luồng thì hố đào thường có kích thước (60 x 60 x 50) cm. Nơi có lượng mưa trung bình thấp thì nên đào hố to hơn so với nơi có lượng mưa cao. Đất được lấp 1 tháng trước khi trồng (Bernard, 2007) [27]. Theo Dai Qihui (1998) [38] có 3 phương pháp làm đất như sau: (i) xử lý toàn diện: cuốc đất sâu 20 cm, sau đó đào hố theo kích thước và cự ly theo thiết kế.
(ii) trồng theo băng: cày đất theo băng có chiều rộng 1-2 m và sâu 20 cm, cự ly giữa các băng cày 1 - 2 m. Mật độ trồng với các loài có đường kính thân cây nhỏ hơn 6 cm là 1666 cụm/ha, đối với những loài có đường kính thân cây to hơn thì mật độ trồng khoảng 833 cây/ha (3 m x 4 m) hoặc 625 cây/ha (4 m x 4 m). Đối với một số loài to như Dendrocalamus giganteus cự ly giữa các khóm là 10 m x 10 m (tương đương 100 khóm/ha) hoặc Dendrocalamus hamiltonii cự ly giữa các khóm là 7 m x 7 m (tương đương 205 khóm/ha). Các nhà kỹ thuật cũng khuyến cáo nên đào rãnh và lên líp để trồng Tre, Luồng.
Việc đào rãnh và lên líp có một số thuận lợi như trồng trên líp sẽ phát triển nhanh vì đất xốp, các năm sau có thể đào thêm đất trong rãnh và bổ sung vào líp. Kích thước hố có thể (60 x 60 x 60) cm. Bón lot 5 kg phân chuồng, 0,1 kg urê, 0,1 kg super lân và 0,05 kg kali (TIFAC, 2004) [30]. Cự ly giữa các cây từ 6 m đến 8 m cũng được áp dụng trong trồng Tre, Luồng ở Australia.
- Trồng cây Theo Dai Qihui (1998) [27] dù cây con từ hạt hay từ nhân giống sinh dưỡng thì trước khi trồng nên cắt ngọn chỉ để lại 2 - 3 đốt. Đặt cây ở tư thế thẳng đứng, lấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đất phủ lên gốc 3 - 4 cm đối với cây con từ hạt. Với cây đem trồng bằng gốc phủ đất cách cổ rễ 10 cm. - Bón phân Đối với cây trồng lấy măng, để sản xuất 100 kg măng tươi, cây cần 500-700 g N, 100 -150 g P và 200 - 250 g K từ đất.
Như vậy, nếu thu hoạch 15.000 kg măng tươi cần bổ sung mỗi năm từ 75 - 100 kg N, 15 - 22,5 kg P và 30 - 37,5 kg K. Việc bón phân cần chia làm nhiều lần trong năm.500 kg/ha phân chuồng cũng có thể bổ sung lượng dinh dưỡng cần thiết trên. Đối với Tre, Luồng trồng lấy thân, để sản xuất 1.000 kg thân Tre, Luồng cần 2,5 - 3,5 kg N, 0,3 - 0,4 kg P và 3 - 4 kg K từ đất Dai Qihui (1998) [27]. Như vậy, trên cơ sở đó, sau khi khai thác cần bón một lượng phân tương ứng với lượng dinh dưỡng đã mất đi từ thân.
- Sâu bệnh hại Sâu bệnh hại cũng là một trong những nguyên nhân làm cho các rừng Tre, Luồng bị suy thoái. Vì vậy, việc xác định được các loài sâu, bệnh hại có vai trò quan trọng trong việc tìm ra giải pháp phòng chống thích hợp. Nghiên cứu về sâu bệnh hại Tre, Luồng, Xu Tiansen (1998) [32] cho biết, thông thường Tre, Luồng hay gặp các loại sâu, bệnh sau: Châu chấu ăn lá, ốc sên, bướm ống, sâu đục măng, sâu hút nhựa, sâu ăn búp măng, tuỳ vào đặc điểm từng loại sâu mà có các biện pháp phòng trừ thích hợp như sau: (i) Biện pháp lâm sinh: Làm cỏ, xới đất không những làm cho cây hút dinh dưỡng dễ hơn mà còn có thể chống lại sâu, ví dụ đối với loài sâu Oraura vulgaris có thể giảm 30 - 50 % sau khi làm cỏ và giảm 70 - 90 % sau khi xới đất; (ii) Biện pháp sinh học: Dùng các thiên địch để diệt sâu hại như chim, nhện, kiến ong,. (iii) Biện pháp hoá học dùng các loại thuốc như Trichlorfon 5 % để phun, hoặc phụn khói,.
Dinh dưỡng đất dưới rừng Tre, Luồng Không sử dụng phân bón trong trồng Tre, Luồng sẽ làm giảm sút nhanh chóng sức sản xuất của đất, dẫn đến rừng trồng Tre, Luồng sẽ nhanh bị thoái hóa Alrasjid (2003) [33]. Những nghiên cứu về vật rơi rụng và dinh dưỡng hoàn trả cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đất trong rừng Bambusa bambos đã được Shanmughavel (2000) [36] thực hiện ở các độ tuổi khác nhau tại Ấn Độ. Trung bình vật rơi rụng trong các rừng 4 tuổi, 5 tuổi và 6 tuổi tương ứng là 15,4 tấn/ha, 17 tấn/ha và 20,3 tấn/ha. Trong đó lá rụng chiếm 58 % và cành rụng chiếm 42 %.
Hàm lượng N, P, K, Ca, và Mg hoàn trả cho đất ở rừng 4 tuổi là 120, 10, 101, 60 và 66 kg/ha, đối với rừng 5 tuổi hàm lượng của các nguyên tố trên tương ứng là 141, 13, 121, 72 và 79 kg/ha, và đối với rừng 6 tuổi hàm lượng dinh dưỡng của các nguyên tố trên là 184, 16, 183, 91 và 96 kg/ha. Hơn nữa, một nghiên cứu về chu trình dinh dưỡng trong rừng Bambusa bambos cũng đã được nghiên cứu. Lượng dinh dưỡng trong cây đứng gia tăng theo tuổi của cây, vì vậy lượng dinh dưỡng trả lại cho đất không đủ so với lượng dinh dưỡng mà cây lấy đi. Việc bổ sung phân bón cho rừng là cần thiết nhằm tránh việc đất bị thoái hóa, đặc biệt khi khai thác Tre, Luồng ở cường độ cao sẽ thì lượng dinh dưỡng hoàn trả cho đất càng bị giảm đi, dẫn đến đất bị thoái hoá Shanmughavel and Francis (1997) [35].
Khả năng bảo vệ đất, nước của rừng Luồng Rừng Luồng thường là rừng thường xanh, có tán dày, hệ rễ phát triển, vật rơi rụng nhiều, vì vậy khả năng giữ đất, nước của một số loài Tre, Luồng cao hơn so với một số loại rừng như rừng lá kim, rừng lá rộng. Đặc biệt khi rừng hỗn giao giữa Tre, Luồng với các loài cây lá rộng thì khả năng giữ đất, giữ nước là tốt nhất. Trong khi đó khả năng giữa nước ở tầng mùn và khả năng cố định đất của rễ của rừng Trúc thuần loài lại tốt hơn sơ với rừng thuần loài và rừng lá kim. Đặc điểm sinh thái của cây Luồng Cây Luồng có tên khoa học là Dendrocalamus membranaceus Munro (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000) [7].
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu mới đây, các chuyên gia Trung Quốc (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) thì cây Luồng Thanh Hóa có tên khoa học là Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Là loài tre mọc cụm (kiểu hợp trục, bũi, khóm,…) thuộc họ phụ tre trúc (Bambusoideae), bộ hòa thảo (Graminaler) [15]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Luồng có thân thẳng, tròn đều, độ thon nhỏ, không có gai, vách thành của thân dày. Cây có đường kính trung bình từ 10 - 12 cm, chiều dài thân từ 8 - 20 m.
So với các loại tre phổ biến thì Luồng có những đặc điểm khác hơn như: Lá rộng, ngắn và xanh đậm hơn, thân thẳng, đường kính giảm đều, không có gai, ít cành và mẫu cành nhỏ, vách thân dày hơn Nguyễn Ngọc Bình (1964) [2]. Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng và phân bố của Luồng, Lê Quang Liên (1993) [12] cho thấy Luồng là loài cây sinh trưởng nhanh, sau 2 năm có thể khai thác làm nguyên liệu giấy hoặc hoặc sử dụng vào các mục đích khác. Luồng phân bố chủ yếu ở tỉnh Thanh Hóa, tập trung chủ yếu ở các huyện: Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước, Cẩm Thủy, Quan Hóa, Quan Sơn,… Ngoài ra, còn thấy Luồng phân bố ở một số tỉnh như Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh,… Hiện nay, Luồng đã được dẫn trồng ở nhiều nơi như Phú Thọ, Yên Bái, Đồng Nai và sinh trưởng, phát triển tốt ở những nơi trồng mới. Cũng theo Lê Quang Liên (1995) [13] Luồng sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi có tầng đất dày (trên 60 cm), đất xốp màu mỡ, nhất là đất ven đồi, ven suối, ven khe,… Nhu cầu về kali trong đất của Luồng rất lớn, hàm lượng K2O dễ tiêu trong đất có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của rừng Luồng.