MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết Cây chè (Camelia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có nhiệm kỳ kinh tế dài 30-40 năm nếu được chăm sóc tốt sẽ cho thu hoạch lâu hơn. Trong tự nhiên chè có dạng cây bụi, cây gỗ hoặc gỗ nhỡ. Khi trồng tập trung chè được khống chế chiều cao bằng việc đốn tỉa cành để hái búp và lá non. Cây chè có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện đặc thù của vùng đất dốc, đem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xoá đói giảm nghèo và dần tiến tới làm giàu cho nhân dân trong vùng.
Phát triển cây chè tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần điều hoà sự phân bố dân cư miền núi, ổn định định canh định cư cho đồng bào các dân tộc ít người. Đồng thời cây chè còn có vai trò to lớn trong việc che phủ đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinh thái, một trong những vấn đề đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Hiện nay nước ta đứng thứ 5 về diện tích và xuất khẩu song chất lượng chè Việt Nam chưa cao, Trong những năm gần đây, giá chè không tăng mà còn có xu hướng giảm, Chè Việt Nam xuất khẩu giá chỉ bằng 50-70% so với mặt bằng giá chè chung của thế giới, Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng chè của nước ta: Do chưa có đủ giống tốt đặc biệt là các giống chất lượng cao được đưa ra sản xuất, quy trình công nghệ và thiết bị chế biến còn lạc hậu, chưa xây dựng được vùng chè an toàn, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu. Trong những năm qua Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong công tác chọn tạo giống chè, góp phần đưa diện tích trồng chè giống mới toàn quốc lên 65%.Tuy nhiên, giống chè do chúng ta thiếu những giống chè để có thể chế biến các dạng chè cao cấp, chất lượng cao.
Trong khi đó, sản phẩm chè hảo hạng có thương hiệu uy tín của các nước đều gắn với các giống cụ thể, như: Chè xanh Long Tỉnh của Trung Quốc gắn liền với giống Long Tỉnh 43, chè Ôlong của Đài Loan gắn liền với giống Ôlong Thanh Tâm và Kim Tuyên, chè xanh Nhật Bản gắn liền với giống Yabukita. e 2 Bộ giống chè do Việt Nam chọn tạo hiện nay chủ yếu phù hợp cho chế biến chè đen. Một số giống chế biến được chè xanh nhưng chất lượng chỉ đạt loại khá. Trong khi đó, xu thế phát triển và cạnh tranh chè trên thế giới trong tương lai là sản phẩm chè xanh.
Để khắc phục tình trạng thiếu các giống chè chất lượng cao để đưa vào sản xuất chúng ta đã đẩy mạnh công tác nhập giống chè chất lượng cao từ các nước trồng chè trong khu vực. Trong đó một số giống chè chất lượng cao nhưng khả năng sinh trưởng của các giống chè này ở miền Bắc rất yếu. Chính vì những lý do trên, đòi hỏi chúng ta cần chọn tạo được các giống chè chế biến chất lượng cao tương đương hoặc cao hơn các giống chè của các nước trong khu vực. Có như vậy, chúng ta mới có thể cạnh tranh với các nước và đưa vị thế của sản phẩm chè Việt Nam lên ngang tầm thế giới.
Có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra giống chè mới được áp dụng như: Chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính, phương pháp gây đột biến nhân tạo, chọn lọc cá thể, nhập nội giống ở các nước trong khu vực. Trong đó chọn tạo giống chè bằng phương pháp lai hữu tính, chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định.Mỗi giống chè có những đặc tính riêng, Để kết hợp những đặc tính đó tạo ra giống mới có những tính chất tốt hơn là điều rất cần thiết. Cây chè bản chất là cây giao phấn, việc lựa chọn cây bố và cây mẹ để tiến hành lai theo mục đích chúng ta mong muốn các đặc trưng của cây bố và cây mẹ sẽ chuyển cho thế hệ sau. Hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ tế bào, công nghệ xử lý đột biến invitro đã trở thành công cụ hữu hiệutrong chọn tạo giống cây trồng.
Kỹ thuật gây đột biến invitro đã gây tạo và làm tăng tần số xuất hiện đột biến, rút ngắn thời gian chọn tạo giống với các tính trạng có giá trị kinh tế.Phương pháp lai hữu tính và phương pháp gây đột biến các giống chè được coi là mũi nhọn trong công tác chọn tạo giống chè hiện nay. Trong những năm gần đây, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc bằng phương pháp lai hữu tính và gây đột biến nhân tạo đã chọn tạo ra e 3 được một số dòng, giống chè triển vọng. Tuy nhiên khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu của mỗi giống là khác nhau.Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và năng suất chất lượng của một số dòng, giống chè mới chọn tạo tại Phú Thọ”. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2.
Mục đích của đề tài Nghiên cứu các đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các dòng chè để chọn ra dòng chè có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện sinh thái tại vùng Trung du - Phú Thọ. Yêu cầu - Đánh giá được các đặc điểm hình thái thực vật học, khả năng sinh trưởng phát triển và chống chịu sâu bệnh của các dòng chè chọn tạo. - Đánh giá được năng suất và chất lượng của các dòng chè chọn tạo 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chọn lọc các dòng, giống chè mới có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, năng suất và chất lượng của một số dòng chè mới lai tạo trong điều kiện Phú Thọ sẽ xác định được dòng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, thích hợp cho sản xuất chè chất lượng cao, góp phần đa dạng hóa sản phẩm chè của Phú Thọ nói riêng và của Việt Nam nói chung. e 4 Chương1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài Chè là loại cây giao phấn, nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ đồng đều của cây con rất thấp, có tới 95% cây con không giống cây mẹ về các đặc điểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng.
Đây là đặc điểm có ý nghĩa lớn về tính đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống,. Cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sản xuất cần có thời gian dài và những đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các đặc điểm của giống với những điều kiện ngoại cảnh. Chu kỳ phát triển của cây chè được chia làm hai: Chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ. Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống cây chè, tính từ khi tế bào trứng thụ tinh bắt đầu phân chia cho đến khi cây chè già cỗi, chết.Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) gồm 2 giai đoạn sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng.
Trong giai đoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hình thành búp, lá non và những đợt búp chè mới; các mầm sinh thực phát triển hình thành nụ, hoa và quả. Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện ngoại cảnh, trình độ quản lý chăm sóc. Giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết mỗi vùng. Trong giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng các bộ phận trên mặt đất không xuất hiện các lá non mới, song bộ rễ của cây chè lại sinh trưởng để tạo nên các rễ non mới.
Trong điều kiện ở Phú Hộ, cây chè thường bắt đầu sinh trưởng từ tháng 2 đến tháng 11 và tạm ngừng sinh trưởng từ tháng 12 đến tháng 2 hàng năm. Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm là mục tiêu đầu tiên của tất cả các ngành sản xuất nói chung và ngành sản xuất chè nói riêng. Đặc biệt, khi nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng tăng cao thì chất lượng chè là e 5 chỉ tiêu đặc biệt quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường. Để tạo nên chất lượng chè thành phẩm, yếu tố giống quyết định đến 50%, còn yếu tố độ cao, chăm sóc quyết định 30%, yếu tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20% (Nguyễn Hữu Khải, 2005)[6].
Trong những năm 2000 - 2005, nhằm khắc phục tình trạng thiếu giống chè chất lượng cao, được sự chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và PTNT, công tác chọn tạo giống chè được đẩy mạnh, đồng thời vừa chọn tạo giống chè trong nước, vừa tăng cường việc nhập nội giống từ nước ngoài. Với mục tiêu nhanh chóng chọn tạo ra nhiều giống chè mới có năng suất và chất lượng cao để mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chất lượng thấp ở Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của các dòng chè mới trong điều kiện vùng sinh thái khác nhau chúng ta sẽ đánh giá được khả năng thích ứng cũng như khả năng chống chịu của các dòng chè, từ đó lựa chọn ra các dòng chè có khả năng sinh trưởng tốt để đưa vào sản xuất diện rộng, góp phần vào công tác chọn tạo ra giống chè mới có chất lượng cao. Giá trị dinh dưỡng của chè Có thể nói trên thế giới chè là thức uống có nhiều giá trị dung dưỡng.
Khi tìm hiểu tác dụng của chè đối với sức khỏe một số tác giả người Trung Quốc: Vương Khâu Phi, Bộc Tể Nhật, Dương Hiền Cường- đại học Nông nghiệp Triết Giang chỉ ra rằng một phiến lá nhỏ đã có trên 500 thành phần hóa học, bao gồm 6 nhóm vật chất có công hiệu bảo vệ sức khỏe như các loại vitamin, chất purin loại kiềm, các loại phenol , các tinh chất dầu thơm, các axitamin và chất polysacazoza. Thống kê 92 loại cây cổ thụ, trong cuốn Trung Quốc Trà Kinh tổng kết nội dung bảo vệ sức khỏe của trà gồm 24 hiệu quả: An thần, mắt sáng, giải khát sinh nước bọt, thanh giải nhiệt, tiêu cảm, giải độc, khỏi nhức đầu, chống say nắng, dễ tiêu hóa, làm chắc răng lợi. Nước chè còn chữa được những bệnh như tổn thương do phóng xạ, ung thư, bệnh tim mạch.