Nghiên cứu đặc điểm nhóm bệnh nhân tim mạch nhập viện trong thời kỳ COVID-19

Luận văn phân tích đặc điểm nhóm bệnh nhân tim mạch nhập viện trong giai đoạn Covid-19, giúp hiểu rõ tác động dịch lên sức khỏe tim mạch.

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2023

69
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Bệnh tăng huyết áp

1.2. Dịch tễ tăng huyết áp

1.3. Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp

1.4. Chẩn đoán tăng huyết áp

1.5. Phân loại THA

1.6. Nguyên nhân gây THA

1.7. Phân tầng nguy cơ tim mạch

1.8. Biến chứng của THA hay tổn thương cơ quan đích

1.9. Điều trị tăng huyết áp

1.9.1. Nguyên tắc chung

1.9.2. Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống

1.9.3. Điều trị THA bằng thuốc tại tuyến cơ sở

1.9.4. Các lý do chuyển tuyến trên hoặc chuyên khoa tim mạch

1.9.5. Điều trị THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác ở tuyến trên

1.9.6. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc điều trị tăng huyết áp

1.10. Một số nghiên cứu liên quan

1.10.1. Nghiên cứu trên thế giới

1.10.2. Nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin

2.2.4. Công cụ thu thập số liệu

2.2.5. Kỹ thuật thu thập thông tin

2.2.6. Công cụ thu thập số liệu

2.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu

2.3.1. Nhóm chỉ số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

2.3.2. Nhóm chỉ số thông tin nhập viện

2.3.3. Nhóm chỉ số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

2.3.4. Nhóm chỉ số đặc điểm lâm sàng

2.3.5. Nhóm chỉ số đặc điểm điều trị

2.3.6. Nhóm chỉ số đặc điểm cận lâm sàng

2.4. Thước đo và tiêu chí đánh giá

2.5. Chẩn đoán và phân loại THA theo ISH 2020 và hội tim mạch Việt Nam

2.6. Phân loại BMI theo phân loại Châu Á – Thái Bình Dương

2.7. Phân tích và xử lý số liệu

2.8. Đạo đức nghiên cứu

2.9. Hạn chế nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân THA nhập viện điều trị nội trú tại viện tim mạch trong giai đoạn COVID 19

3.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân lúc vào viện

3.1.3. Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân THA lúc vào viện

3.2. Đánh giá một số yếu tố liên quan đến việc nhập viện của bệnh nhân THA trong giai đoạn COVID

3.2.1. Yếu tố địa dư

3.2.2. Yếu tố nghề nghiệp

3.2.3. Bệnh đồng mắc

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm BN THA nhập viện điều trị nội trú tại Viện tim mạch trong giai đoạn COVID 19

4.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân lúc vào viện

4.1.3. Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân THA lúc vào viện

4.2. Đánh giá một số yếu tố liên quan đến việc nhập viện của bệnh nhân THA trong giai đoạn COVID

4.2.1. Mối liên quan giữa địa chỉ và việc nhập viện của bệnh nhân THA trong giai đoạn COVID

4.2.2. Mối liên quan giữa yếu tố nghề nghiệp và việc nhập viện của bệnh nhân THA trong giai đoạn COVID

4.2.3. Mối liên quan giữa yếu tố bệnh lý và các biến chứng kèm theo với việc nhập viện của bệnh nhân THA trong giai đoạn COVID

4.2.4. Mối liên quan giữa số ngày điều trị với các nhóm ĐTNC khác nhau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu đặc điểm nhóm bệnh nhân tim mạch nhập viện trong giai đoạn COVID 19

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm của nhóm bệnh nhân tim mạch nhập viện tại Bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn COVID-19. Mục tiêu chính là phân tích các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá tác động của đại dịch đến việc quản lý và điều trị bệnh nhân. Dịch tễ họcbệnh lý tim mạch được xem xét kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của nhóm bệnh nhân này.

1.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân nội trú trong giai đoạn COVID-19 có các triệu chứng lâm sàng phức tạp hơn so với thời kỳ trước đại dịch. Các thống kê y tế cho thấy sự gia tăng các biến chứng như đột quỵ và suy tim. Dữ liệu y tế cũng cho thấy sự thay đổi trong các chỉ số cận lâm sàng, đặc biệt là mức lọc cầu thận và các chỉ số sinh hóa khác.

1.2. Tác động của COVID 19 đến quản lý bệnh nhân

Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến y tế công cộng, đặc biệt là việc chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân tim mạch. Các biện pháp giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển đã làm giảm khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Hậu quả COVID-19 bao gồm sự gia tăng tỷ lệ tử vong và biến chứng ở nhóm bệnh nhân này.

II. Phân tích dịch tễ học và bệnh lý tim mạch

Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về dịch tễ học của bệnh tim mạch trong đại dịch COVID-19. Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, và bệnh lý nền được phân tích để xác định nhóm nguy cơ cao. Bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp và bệnh mạch vành được xem xét kỹ lưỡng để đánh giá mức độ nghiêm trọng và tần suất nhập viện.

2.1. Yếu tố nguy cơ và phân tầng nguy cơ

Nghiên cứu xác định các yếu tố nguy cơ chính như tuổi cao, béo phì, và tiền sử bệnh lý. Phân tầng nguy cơ được thực hiện để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Các dữ liệu y tế được sử dụng để xây dựng mô hình dự đoán nguy cơ nhập viện.

2.2. Biến chứng và hậu quả lâu dài

Các biến chứng như đột quỵ, suy tim, và tổn thương cơ quan đích được ghi nhận ở nhóm bệnh nhân này. Hậu quả COVID-19 bao gồm sự gia tăng tỷ lệ tử vong và tàn tật. Nghiên cứu cũng đề cập đến các biện pháp can thiệp để giảm thiểu tác động lâu dài của đại dịch.

III. Ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị

Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị cụ thể để cải thiện quản lý bệnh nhân trong giai đoạn COVID-19. Các biện pháp bao gồm tăng cường chăm sóc sức khỏe từ xa, cải thiện hệ thống y tế công cộng, và nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ. Dữ liệu y tế được sử dụng để hỗ trợ các quyết định lâm sàng và chính sách y tế.

3.1. Cải thiện hệ thống y tế công cộng

Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc cải thiện y tế công cộng để đối phó với các đại dịch trong tương lai. Các biện pháp như tăng cường năng lực bệnh viện, đào tạo nhân viên y tế, và đầu tư vào công nghệ y tế được đề xuất.

3.2. Tăng cường chăm sóc sức khỏe từ xa

Chăm sóc sức khỏe từ xa được xem là giải pháp hiệu quả để quản lý bệnh nhân trong giai đoạn COVID-19. Nghiên cứu đề xuất việc sử dụng các công nghệ như telemedicine để theo dõi và điều trị bệnh nhân từ xa, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm và đảm bảo tính liên tục của việc chăm sóc.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Bệnh tăng huyết áp 1. Định nghĩa Huyết áp: Là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số: (1) HA tâm thu, bình thường từ 90 đến 139 mmHg; (2) HA tối thiểu (HA tâm trương), bình thường từ 60 đến 89 mmHg [23].

Tăng huyết áp: Tăng huyết áp thường không gây triệu chứng gì đặc biệt, do đó để chẩn đoán THA nhất thiết phải đo huyết áp định kỳ, thường xuyên. Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg hoặc khi đang điều trị bằng một thuốc hạ áp [12]. Theo Cẩm nang Điều trị Nội khoa (Nhà xuất bản Y học), tăng huyết áp là khi: (i) HA đo tại cơ sở y tế ≥ 140/90 mmHg hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ ≥ 135/85 mmHg; hoặc (ii) huyết áp không tăng nhưng có bằng chứng THA như đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim, tai biến mạch máu não do tăng huyết áp [13]. Tăng huyết áp “áo choàng trắng* là khi HA thường xuyên tăng tại bệnh viện hoặc phòng khám trong khi huyết áp đo hằng ngày tại nhà hoặc HA trung bình khi đo 24 giờ lại bình thường.

Tỷ lệ hiện mắc THA “áo choàng trắng” là 10-30%, chiếm một tỷ lệ không ít ở những người THA. THA áo choàng trắng tăng theo tuổi và tỷ lệ này giảm đi < 10% đối với người THA độ 2, độ 3 khi đo tại phòng khám. Tăng huyết áp áo choàng trắng có thể là khởi đầu của THA thực sự nhưng không làm tăng nguy cơ tim mạch tổng thể. Cần nghi ngờ THA “áo choàng trắng” là đo HA tại phòng khám thấy tăng (≥ 140/90 mmHg) hoặc kháng trị trong khi không có tổn thương tổn thương cơ quan đích do THA và huyết áp trung bình đo trên theo dõi huyết áp 24 giờ < 130/80 mmHg [14].

Tăng huyết áp “ẩn” ít gặp hơn và khó phát hiện hơn THA “áo choàng trắng”, là tình trạng trái ngược lại: HA đo bình thường tại phòng khám nhưng cao khi đo bằng phương pháp khác như đo HA 24 giờ hoặc tại nhà. Nhóm bệnh nhân thường này thường có tổn thương cơ quan đích và nguy cơ tim mạch tương tự như những đối tượng có THA khác[14]. Dịch tễ tăng huyết áp - Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên thế giới Từ năm 2000, các báo cáo quốc gia đã chỉ ra rằng tỷ lệ tăng huyết áp đang gia tăng ở các nước thu nhập thấp và trung bình, trong khi đó là ổn định hoặc giảm ở các nước thu nhập cao và THA là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Phòng ngừa, phát hiện, điều trị và kiểm soát tình trạng này nên được ưu tiên cao [15].

Tuy nhiên, các ước tính hiện tại về gánh nặng do tăng huyết áp gây nên vẫn là mối quan ngại đối với sức khỏe cộng đồng ở tất cả các khu vực trên thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện nay bệnh tim mạch đang là nguyên nhân hàng đầu của tử vong không những ở các quốc gia đã phát triển mà ngay cả quốc gia đang phát triển. Tử vong do bệnh tim mạch chiếm 1/3 tử vong chung của toàn thế giới (17/50 triệu ca tử vong) trong đó 80% tập trung ở các quốc gia đang phát triển. Một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch chính đã được khẳng định là THA, tỷ lệ THA trên thế giới từ 10- 30% đối với người trên 18 tuổi.

Tăng huyết áp đã ảnh hưởng đến một tỷ người trên toàn thế giới, dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ. Các nhà nghiên cứu ước tính rằng huyết áp tăng lên hiện nay giết chết khoảng 9,4 triệu người mỗi năm [16] - Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam Ở Việt Nam (2012), tỷ lệ tăng huyết áp chung là 25,1%, ở nam là 28,3% và 23,1% ở nữ. Trong số tăng huyết áp có 48,4% đã biết về tình trạng THA của họ, 29,6% đã điều trị và 10,7% đạt được HA mục tiêu. Tăng huyết áp ở thành thị 2,7%, cao hơn đáng kể so với nông thôn 17,3%.

Trong số những người đã iết bị THA, có 61,1% đã điều trị và trong số các bệnh tăng huyết áp được điều trị có 36,3 % đã kiểm soát tốt [2]. Như vậy, tăng huyết áp là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam. Tỷ lệ THA trong số người lớn là khá cao, trong khi tỷ lệ nhận thức đúng, tham gia điều trị và kiểm soát THA còn thấp. Theo thông báo của Bộ Y tế tại Hội nghị về công tác phòng, chống bệnh không lây nhiễm, ở Việt Nam, các BKLN đã chiếm đến 66% tổng gánh nặng bệnh tật và 73% tổng số ca tử vong hằng năm.

Có đến 60% người mắc tăng huyết áp chưa được phát hiện bệnh, chỉ có 14% bệnh nhân THA và gần 0% người có nguy cơ tim mạch được quản lý, dự phòng và dùng thuốc theo quy định, có một tỷ lệ lớn về THA được phát hiện tình cờ qua các cuộc điều tra [17], tình trạng bỏ sót chẩn đoán THA đã và đang xảy ra [18]. Cùng với sự gia tăng các yếu tố nguy cơ thì tỷ lệ người mắc bệnh được phát hiện và quản lý tại cộng đồng còn rất thấp. Đặc biệt trong giai đoạn COVID-19, THA là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ 4 biến nhất ở bệnh nhân COVID-19, gây tăng đáng kể nguy cơ nhập viện và tử vong. THA không được điều trị hoặc không được kiểm soát có nguy cơ khiến bệnh nhân bị nhiễm bệnh trở nên ốm nặng.

Do đó việc quản lý bệnh nhân THA trong giai đoạn COVID-19 nói riêng và trong giai đoạn dịch bệnh nói chung cần được quan tâm. Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp Các bệnh không lây nhiễm thường không xác định được nguyên nhân cụ thể mà chỉ có các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển gọi là yếu tố liên quan. Theo Tổ chức Y tế thế giới, yếu tố liên quan là bất cứ thuộc tính, đặc điểm nào làm tăng khả năng mắc bệnh không lây nhiễm. Các yếu tố liên quan của bệnh không lây nhiễm gồm: Hành vi lối sống, môi trường và các yếu tố sinh học [16].

Nếu không có các giải pháp ngăn ngừa các nguy cơ trung gian mà vẫn tiếp tục phơi nhiễm với các YTLQ sẽ dẫn tới các B LN như tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh phổi mạn tính. Và hậu quả tất yếu của những bệnh này là tử vong và tàn tật [19]. Trong giai đoạn COVID-19 các chính sách và quy định về y tế công cộng liên quan đã làm giảm hoạt động thể chất, thay đổi chế độ ăn uống và giảm tương tác xã hội, điều này có thể làm trầm trọng thêm các biểu hiện lâm sàng và làm tăng bệnh không lây nhiễm đi kèm 1. Chẩn đoán tăng huyết áp Dựa vào đo HA chính xác bằng đo HA tại phòng khám và HA ngoài phòng khám (HA tại nhà, HA liên tục), khai thác tiền sử cá nhân và tiền sử gia đình, khám thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng nhằm xác định nguyên nhân THA thứ phát hay THA tiên phát, đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch, tổn thương cơ quan đích, và bệnh cảnh lâm sàng đi kèm để phân tầng nguy cơ [20].

Theo Hội Tăng huyết áp thế giới – ISH 2020, ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo huyết áp [21]. Các ngưỡng chẩn đoán THA theo từng cách đo theo ISH 2020 HATT/ HATTr, mmHg Các bộ y tế đo theo đúng quy trình ≥140 và/ hoặc ≥90 Đo bằng máy đo huyết áp tự động 24h Trung bình 24h ≥130 và/ hoặc ≥80 Trung bình ban ngày (hoặc lúc thức) ≥135 và/ hoặc ≥85 Trung bình ban đêm (hoặc lúc ngủ) ≥120 và/ hoặc ≥70 Theo dõi huyết áp tại nhà (đo nhiều lần) ≥135 và/ hoặc ≥85 5 Tăng huyết áp tâm thu đơn độc được xác định là huyết áp tâm thu (HATT) tăng ( ≥ 140mmHg) và huyết áp tâm trương (HATTr) không tăng (< 90 mmHg), thường gặp ở người trẻ và người cao tuổi [21]. Phân loại THA Phân độ THA: Phân độ THA của bệnh nhân theo chỉ số huyết áp tâm thu hoặc huyết áp tâm trương cao hơn. Theo Hội Tăng huyết áp thế giới – ISH 2020, phân độ THA như sau [21]: Bảng 1.

Phân loại THA theo ISH 2020 Huyết áp tâm Huyết áp tâm Phân loại thu (mmHg) trương (mmHg) Huyết áp tối ưu <130 Và <85 Huyết áp bình thường cao 130-139 Và/ hoặc 85-89 Tăng huyết áp giai đoạn 1 140-159 Và/ hoặc 90-99 Tăng huyết áp giai đoạn 2 ≥160 Và/ hoặc ≥100 Bảng 1. Phân loại các mức độ THA của Việt Nam [10] Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm Huyết áp (mmHg) trương (mmHg) Tối ưu < 120 Và < 80 Bình thường 120-129 Và/ hoặc 80-84 Bình thường cao 130-139 Và/ hoặc 85-89 THA độ 1 140-159 Và/ hoặc 90-99 THA độ 2 160-179 Và/ hoặc 100-109 THA độ 3 ≥ 180 Và/ hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và ≤ 90 Các tiêu chuẩn trên chỉ dùng cho những người hiện tại không dùng các thuốc hạ áp và không trong tình trạng bệnh cấp tính. Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của huyết áp tâm thu.

Nguyên nhân gây THA [14] Phần lớn THA ở người trưởng thành không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát hay THA thứ phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát) Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ