CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Bệnh tăng huyết áp 1. Định nghĩa Huyết áp: Là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số: (1) HA tâm thu, bình thường từ 90 đến 139 mmHg; (2) HA tối thiểu (HA tâm trương), bình thường từ 60 đến 89 mmHg [23].
Tăng huyết áp: Tăng huyết áp thường không gây triệu chứng gì đặc biệt, do đó để chẩn đoán THA nhất thiết phải đo huyết áp định kỳ, thường xuyên. Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg hoặc khi đang điều trị bằng một thuốc hạ áp [12]. Theo Cẩm nang Điều trị Nội khoa (Nhà xuất bản Y học), tăng huyết áp là khi: (i) HA đo tại cơ sở y tế ≥ 140/90 mmHg hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ ≥ 135/85 mmHg; hoặc (ii) huyết áp không tăng nhưng có bằng chứng THA như đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim, tai biến mạch máu não do tăng huyết áp [13]. Tăng huyết áp “áo choàng trắng* là khi HA thường xuyên tăng tại bệnh viện hoặc phòng khám trong khi huyết áp đo hằng ngày tại nhà hoặc HA trung bình khi đo 24 giờ lại bình thường.
Tỷ lệ hiện mắc THA “áo choàng trắng” là 10-30%, chiếm một tỷ lệ không ít ở những người THA. THA áo choàng trắng tăng theo tuổi và tỷ lệ này giảm đi < 10% đối với người THA độ 2, độ 3 khi đo tại phòng khám. Tăng huyết áp áo choàng trắng có thể là khởi đầu của THA thực sự nhưng không làm tăng nguy cơ tim mạch tổng thể. Cần nghi ngờ THA “áo choàng trắng” là đo HA tại phòng khám thấy tăng (≥ 140/90 mmHg) hoặc kháng trị trong khi không có tổn thương tổn thương cơ quan đích do THA và huyết áp trung bình đo trên theo dõi huyết áp 24 giờ < 130/80 mmHg [14].
Tăng huyết áp “ẩn” ít gặp hơn và khó phát hiện hơn THA “áo choàng trắng”, là tình trạng trái ngược lại: HA đo bình thường tại phòng khám nhưng cao khi đo bằng phương pháp khác như đo HA 24 giờ hoặc tại nhà. Nhóm bệnh nhân thường này thường có tổn thương cơ quan đích và nguy cơ tim mạch tương tự như những đối tượng có THA khác[14]. Dịch tễ tăng huyết áp - Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên thế giới Từ năm 2000, các báo cáo quốc gia đã chỉ ra rằng tỷ lệ tăng huyết áp đang gia tăng ở các nước thu nhập thấp và trung bình, trong khi đó là ổn định hoặc giảm ở các nước thu nhập cao và THA là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Phòng ngừa, phát hiện, điều trị và kiểm soát tình trạng này nên được ưu tiên cao [15].
Tuy nhiên, các ước tính hiện tại về gánh nặng do tăng huyết áp gây nên vẫn là mối quan ngại đối với sức khỏe cộng đồng ở tất cả các khu vực trên thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện nay bệnh tim mạch đang là nguyên nhân hàng đầu của tử vong không những ở các quốc gia đã phát triển mà ngay cả quốc gia đang phát triển. Tử vong do bệnh tim mạch chiếm 1/3 tử vong chung của toàn thế giới (17/50 triệu ca tử vong) trong đó 80% tập trung ở các quốc gia đang phát triển. Một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch chính đã được khẳng định là THA, tỷ lệ THA trên thế giới từ 10- 30% đối với người trên 18 tuổi.
Tăng huyết áp đã ảnh hưởng đến một tỷ người trên toàn thế giới, dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ. Các nhà nghiên cứu ước tính rằng huyết áp tăng lên hiện nay giết chết khoảng 9,4 triệu người mỗi năm [16] - Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam Ở Việt Nam (2012), tỷ lệ tăng huyết áp chung là 25,1%, ở nam là 28,3% và 23,1% ở nữ. Trong số tăng huyết áp có 48,4% đã biết về tình trạng THA của họ, 29,6% đã điều trị và 10,7% đạt được HA mục tiêu. Tăng huyết áp ở thành thị 2,7%, cao hơn đáng kể so với nông thôn 17,3%.
Trong số những người đã iết bị THA, có 61,1% đã điều trị và trong số các bệnh tăng huyết áp được điều trị có 36,3 % đã kiểm soát tốt [2]. Như vậy, tăng huyết áp là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam. Tỷ lệ THA trong số người lớn là khá cao, trong khi tỷ lệ nhận thức đúng, tham gia điều trị và kiểm soát THA còn thấp. Theo thông báo của Bộ Y tế tại Hội nghị về công tác phòng, chống bệnh không lây nhiễm, ở Việt Nam, các BKLN đã chiếm đến 66% tổng gánh nặng bệnh tật và 73% tổng số ca tử vong hằng năm.
Có đến 60% người mắc tăng huyết áp chưa được phát hiện bệnh, chỉ có 14% bệnh nhân THA và gần 0% người có nguy cơ tim mạch được quản lý, dự phòng và dùng thuốc theo quy định, có một tỷ lệ lớn về THA được phát hiện tình cờ qua các cuộc điều tra [17], tình trạng bỏ sót chẩn đoán THA đã và đang xảy ra [18]. Cùng với sự gia tăng các yếu tố nguy cơ thì tỷ lệ người mắc bệnh được phát hiện và quản lý tại cộng đồng còn rất thấp. Đặc biệt trong giai đoạn COVID-19, THA là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ 4 biến nhất ở bệnh nhân COVID-19, gây tăng đáng kể nguy cơ nhập viện và tử vong. THA không được điều trị hoặc không được kiểm soát có nguy cơ khiến bệnh nhân bị nhiễm bệnh trở nên ốm nặng.
Do đó việc quản lý bệnh nhân THA trong giai đoạn COVID-19 nói riêng và trong giai đoạn dịch bệnh nói chung cần được quan tâm. Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp Các bệnh không lây nhiễm thường không xác định được nguyên nhân cụ thể mà chỉ có các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển gọi là yếu tố liên quan. Theo Tổ chức Y tế thế giới, yếu tố liên quan là bất cứ thuộc tính, đặc điểm nào làm tăng khả năng mắc bệnh không lây nhiễm. Các yếu tố liên quan của bệnh không lây nhiễm gồm: Hành vi lối sống, môi trường và các yếu tố sinh học [16].
Nếu không có các giải pháp ngăn ngừa các nguy cơ trung gian mà vẫn tiếp tục phơi nhiễm với các YTLQ sẽ dẫn tới các B LN như tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh phổi mạn tính. Và hậu quả tất yếu của những bệnh này là tử vong và tàn tật [19]. Trong giai đoạn COVID-19 các chính sách và quy định về y tế công cộng liên quan đã làm giảm hoạt động thể chất, thay đổi chế độ ăn uống và giảm tương tác xã hội, điều này có thể làm trầm trọng thêm các biểu hiện lâm sàng và làm tăng bệnh không lây nhiễm đi kèm 1. Chẩn đoán tăng huyết áp Dựa vào đo HA chính xác bằng đo HA tại phòng khám và HA ngoài phòng khám (HA tại nhà, HA liên tục), khai thác tiền sử cá nhân và tiền sử gia đình, khám thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng nhằm xác định nguyên nhân THA thứ phát hay THA tiên phát, đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch, tổn thương cơ quan đích, và bệnh cảnh lâm sàng đi kèm để phân tầng nguy cơ [20].
Theo Hội Tăng huyết áp thế giới – ISH 2020, ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo huyết áp [21]. Các ngưỡng chẩn đoán THA theo từng cách đo theo ISH 2020 HATT/ HATTr, mmHg Các bộ y tế đo theo đúng quy trình ≥140 và/ hoặc ≥90 Đo bằng máy đo huyết áp tự động 24h Trung bình 24h ≥130 và/ hoặc ≥80 Trung bình ban ngày (hoặc lúc thức) ≥135 và/ hoặc ≥85 Trung bình ban đêm (hoặc lúc ngủ) ≥120 và/ hoặc ≥70 Theo dõi huyết áp tại nhà (đo nhiều lần) ≥135 và/ hoặc ≥85 5 Tăng huyết áp tâm thu đơn độc được xác định là huyết áp tâm thu (HATT) tăng ( ≥ 140mmHg) và huyết áp tâm trương (HATTr) không tăng (< 90 mmHg), thường gặp ở người trẻ và người cao tuổi [21]. Phân loại THA Phân độ THA: Phân độ THA của bệnh nhân theo chỉ số huyết áp tâm thu hoặc huyết áp tâm trương cao hơn. Theo Hội Tăng huyết áp thế giới – ISH 2020, phân độ THA như sau [21]: Bảng 1.
Phân loại THA theo ISH 2020 Huyết áp tâm Huyết áp tâm Phân loại thu (mmHg) trương (mmHg) Huyết áp tối ưu <130 Và <85 Huyết áp bình thường cao 130-139 Và/ hoặc 85-89 Tăng huyết áp giai đoạn 1 140-159 Và/ hoặc 90-99 Tăng huyết áp giai đoạn 2 ≥160 Và/ hoặc ≥100 Bảng 1. Phân loại các mức độ THA của Việt Nam [10] Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm Huyết áp (mmHg) trương (mmHg) Tối ưu < 120 Và < 80 Bình thường 120-129 Và/ hoặc 80-84 Bình thường cao 130-139 Và/ hoặc 85-89 THA độ 1 140-159 Và/ hoặc 90-99 THA độ 2 160-179 Và/ hoặc 100-109 THA độ 3 ≥ 180 Và/ hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và ≤ 90 Các tiêu chuẩn trên chỉ dùng cho những người hiện tại không dùng các thuốc hạ áp và không trong tình trạng bệnh cấp tính. Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của huyết áp tâm thu.
Nguyên nhân gây THA [14] Phần lớn THA ở người trưởng thành không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát hay THA thứ phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát) Bảng 1.