Đặt vấn đề Trên thế giới hàng năm có khoảng 550 đến 600 triệu vịt đƣợc chăn nuôi, trong đó ở châu Á chiếm tới 80 – 86 % tổng đàn vịt. Việt Nam là một trong những nƣớc có đàn thủy cầm lớn, thƣờng đứng thứ 2 – 3 của thế giới. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê 12/2016, năm 2016 nƣớc ta có 361,7 triệu gia cầm, trong đó có 84,5 triệu thủy cầm, 71,3 triệu vịt [54]. Trong các giống vịt hƣớng trứng cho năng suất trứng cao đang nuôi ở Việt Nam hiện nay, giống vịt Cỏ, Khaki Campbell, CV Layer 2000, Triết Giang là những giống truyền thống lâu năm, mỗi giống có những ƣu điểm và nhƣợc điểm nhất định.
Nhằm làm phong phú về giống và nhiều chọn lựa cho ngƣời chăn nuôi vịt chuyên trứng, ngày 14/6/2011 giống vịt TC – Viện chăn nuôi đƣợc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận là một giống. Vịt TC đƣợc lai giữa vịt Triết Giang và vịt Cỏ cánh sẻ và đã qua nhiều thế hệ chọn lọc tạo thành nhóm giống, ổn định về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất và đây là một giống vịt chuyên trứng với năng suất cao phù hợp với điều kiện khí hậu chăn nuôi tại Việt Nam. Theo Nguyễn Đức Trọng và cs (2010) [27] cho biết con lai F1 TC có tuổi đẻ đầu sớm bình quân là 17 tuần tuổi và là một giống vịt siêu trứng có sản lƣợng trứng 283 quả/mái/52 tuần đẻ. Thái Nguyên là tỉnh tập trung nhiều sinh viên các trƣờng đại học, cao đẳng và công nhân làm việc tại các khu công nghiệp lớn có vốn FDI, nhu cầu về thực phẩm lớn trong đó có trứng vịt thƣơng phẩm khá lớn, thƣờng phải nhập từ các tỉnh khác về.
Tại Thái Nguyên, vịt TC chƣa đƣợc nuôi phổ biến cũng nhƣ chƣa có số liệu công bố về khả năng sản xuất của chúng, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng, phát dục và giai đoạn đầu sinh sản của vịt chuyên trứng TC nuôi tại Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài – Đánh giá khả năng thích nghi, đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trƣởng, sinh sản của vịt TC khi nuôi trên cạn tại Thái Nguyên. – Đánh giá hiệu quả kinh tế khi nuôi vịt TC trong sản xuất. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học – Có số liệu nghiên cứu về đặc điểm ngoại hình, sức sống, sinh trƣởng, sinh sản của vịt TC nuôi hoàn toàn trên cạn tại Thái Nguyên, từ đó góp phần vào làm phong phú số liệu sức sản xuất của giống vịt này. – Có thể so sánh sức sản xuất với các giống vịt chuyên trứng khác đã từng nuôi cùng phƣơng thức ở Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn – Kết quả của đề tài là cơ sở để đƣa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm phát triển giống vịt này với điều kiện ở nơi không có nƣớc cho vịt bơi, tắm. – Góp phần vào việc phát triển chăn nuôi vịt chuyên trứng TC ở Thái Nguyên nói riêng và Miền Bắc nói chung.
– Bản thân là sinh viên đƣợc làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm ngoại hình của thủy cầm * Màu sắc lông: Màu sắc lông của thủy cầm nói riêng và gia cầm nói chung là đặc điểm ngoại hình quan trọng để phân biệt giống, dòng.
Hiện nay màu sắc lông đối với một số gia cầm còn để phân biệt trống mái khi mới nở (autosexing), các giống gia cầm bản địa, nguyên thủy thƣờng có màu sắc lông đa dạng, phong phú và pha tạp, còn các giống gia cầm hiện đại năng suất cao ngày nay thƣờng có màu sắc lông thuần nhất, đặc trƣng. Các giống gia cầm và thủy cầm hƣớng thịt thƣờng có màu lông trắng tuyền hoặc màu sáng và có giá trị hơn lông màu vì khi giết thịt không để lại gốc lông, không làm giảm sự hấp dẫn của thịt, giống gia cầm hƣớng trứng thì thƣờng có màu lông nâu. Màu sắc của lông là do sắc tố melamin dạng hạt và dạng que cũng nhƣ các sắc tố của lipit dễ hòa tan tạo thành. Màu sắc của melamin thay đổi từ màu vàng, nâu, đến màu đen.
Sắc tố lipit có màu vàng, đỏ, xanh da trời hay xanh lá cây. Phần lông lộ ra bên ngoài thƣờng có nhiều màu sắc hơn phần lông bị lấp bên trong, mặt lông phía trên thƣờng sắc sỡ hơn mặt lông phía dƣới. Màu sắc khác nhau của lông là do mật độ khác nhau của các hạt sắc tố. Màu đục của lông gà và vịt là do những tấm mỏng phân bố trong các nhánh tơ dƣới dạng những vảy sừng.
Ở các loài và giống gia cầm khác nhau có màu lông khác nhau. Ở chúng thƣờng có màu đơn lẻ trắng, đen, đỏ, vàng, tía, xanh da trời. Lông lổ đổ gọi là màu đƣợc tạo ra từ những lông trắng và đen. Dựa vào màu sắc và dạng lông có thể xác định tính biệt của vài loài gia cầm.
Màu sắc lông của vài loài gia cầm thay đổi theo tuổi, tính biệt, mùa vụ, điều kiện sống (Freye H. * Hình dáng của vịt: Hình dáng của vịt cũng là một yếu tố ngoại hình quan trọng để phân biệt tính năng sản xuất chuyên biệt của chúng. Vịt hƣớng thịt có c 4 hình dáng to, hình chữ nhật, dáng đứng thƣờng gần song song với mặt đất; vịt hƣớng trứng thƣờng có hình dáng nhỏ, gọn, thanh, mảnh và dáng đứng thƣờng tạo với mặt đất một góc gần 70 – 75o. Vịt kiêm dụng thƣờng có dáng tạo với mặt đất một góc khoảng 45o.
* Mỏ và chân: Mỏ và chân là sản phẩm của da, đƣợc tạo ra từ lớp sừng, tại đó tập trung nhiều nhánh thần kinh, mạch quản. Đối với vịt, mỏ còn chứa nhiều xúc giác, nhờ đó mà chúng có thể kiếm mồi dƣới nƣớc. Màng bơi là phần cấu tạo không có lông của da giữa các ngón chân. Màu của chân thƣờng phù hợp với màu của mỏ, và chúng đặc trƣng cho từng giống thủy cầm.
Sinh trưởng 2. Khái niệm Sinh trƣởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lƣợng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trƣớc. Sự sinh trƣởng chính là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trƣởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng, 1992 [18]).
(1990) [46], đã định nghĩa sinh trƣởng là sự tổng hợp các bộ phận nhƣ thịt, xƣơng, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trƣởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dƣỡng. Sự tăng trƣởng thực sự khi các tế bào mô cơ có tăng thêm về khối lƣợng, số lƣợng và các chiều đo. Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trƣởng, nó đƣợc đƣợc gọi là sự tăng trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích lũy nƣớc, không có sự phát triển của thân, mô cơ.
Sự sinh trƣởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng đƣợc thụ tinh cho đến lúc cơ thể trƣởng thành và đƣợc chia hai giai đoạn chính: Giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ). Nhƣ vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trƣởng gồm hai quá trình: Tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó c 5 sự phát triển là chính. Theo Phùng Đức Tiến (1996) [35], trong quá trình sinh trƣởng thì trƣớc hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng (1992) [18] cho biết: Theo Driesch H.
(1990) thì sự tăng thể khối của cơ thể là là do các tế bào trong cơ thể tăng về số lƣợng và kích thƣớc. Theo tài liệu của Chambers J. (1990) [46] thì Mozan (1997) định nghĩa sinh trƣởng là tổng hợp sinh trƣởng của các bộ phận nhƣ thịt, xƣơng, da. Sinh trƣởng là một quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp duy trì từ khi phôi đƣợc hình thành cho đến khi con vật đã trƣởng thành và đƣợc chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai.
Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trƣởng thành. Để có đƣợc số đo chính xác về sinh trƣởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng (Chambers J. Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng Sinh trƣởng là một quá trình sinh lý phức tạp, khá dài, từ lúc thụ tinh đến khi trƣởng thành. Do vậy, việc xác định chính xác toàn bộ quá trình sinh trƣởng không phải dễ dàng.
Tuy nhiên các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hƣớng sử dụng cách đo đơn giản và thực tế, đó là khả năng sinh trƣởng theo 3 hƣớng là chiều cao, thể tích và khối lƣợng. Khối lƣợng cơ thể: Về mặt sinh học, sinh trƣởng đƣợc xem nhƣ là quá trình tổng hợp, tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Do vậy, có thể lấy việc tăng khối lƣợng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trƣởng của gia súc, gia cầm. Khối lƣợng cơ thể gia súc, gia cầm là những tính trạng di truyền số c 6 lƣợng.
Sinh trƣởng có khả năng di truyền cao và liên quan chặt chẽ với những đặc điểm trao đổi chất đặc trƣng cho từng giống và từng cá thể gia cầm. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng (1992) [18] cho rằng, sinh trƣởng là cƣờng độ tăng các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Trong chăn nuôi gia cầm ngƣời ta thƣờng dùng 3 chỉ tiêu để mô tả sinh trƣởng là sinh trƣởng tích lũy, sinh trƣởng tuyệt đối và sinh trƣởng tƣơng đối. – Sinh trƣởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lƣợng, kích thƣớc và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát.
Sinh trƣởng tuyệt đối thƣờng đƣợc tính bằng gam/con/ngày hoặc gam/con/tuần. Đồ thị sinh trƣởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị sinh trƣởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn (T. – Sinh trƣởng tƣơng đối là tỷ lệ % tăng lên của khối lƣợng, kích thƣớc và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.N 2, 1977 [25]), đơn vị tính là %.
Đồ thị sinh trƣởng tƣơng đối có dạng Hypebol. Sinh trƣởng tƣơng đối giảm dần qua các tuần tuổi. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng (1992) [18] cho biết có mối quan hệ ở cơ thể gia cầm giữa sinh trƣởng và một số tính trạng liên quan.