Đặt vấn đề Sự cộng sinh giữa nấm về rễ cây trồng được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1885 do A.Frank – nhà bệnh cây lâm nghiệp người Đức. Nhưng phải đến năm 80 của thế kỷ 20 mới được tập trung nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất (Lê Thị Thủy, 2012). Nấm cộng sinh ở rễ là một trường hợp cộng sinh giữa nấm và bộ rễ của các loài thực vật. Nấm rễ cộng sinh có vai trò trong hệ thống rễ của cây, đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng của thực vật, sinh học và hóa học đất (Nguyễn Vũ Phong & cs.
Nấm sống trên các mô rễ của cây chủ, nấm không có rễ cây thì không thể phát triển được, cây không có nấm thì sinh trưởng yếu ớt và ngược lại. Nấm cộng sinh ở rễ phổ biến trong các hệ thống nông nghiệp và đặc biệt phù hợp canh tác hữu cơ vì chúng có thể hoạt động như phân bón tự nhiên giúp tăng năng suất cho cây trồng. Tuy nhiên, những nghiên cứu về sự tương tác của nấm cộng sinh ở rễ đến cây trồng trong nông nghiệp vẫn còn hạn chế và không nhất quán (Trần Hoàng Siêu, 2022). Tại Việt Nam, cây chè đã trở thành một trong những cây công nghiệp quan trọng giúp phát triển kinh tế ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều lao động (Trần Thị Mai Anh, 2012).
Bên cạnh vai trò là một loại thức uống phổ biến từ thời xa xưa, ngày nay chè ngày càng được ưa chuộng bởi những đặc tính hữu hiệu như kháng ung thư và chống lão hóa. Theo đánh giá của Hiệp hội chè Việt Nam, những năm gần đây, năng suất và sản lượng chè Việt Nam liên tục tăng nhờ chuyển biến tích cực về giống, kỹ thuật canh tác và tổ chức sản xuất (Nguyễn Xuân Hưng, 2017). Tuy nhiên, hiện nay người tiêu dùng ngày càng khắt khe về lựa chọn sản phẩm an toàn, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Do đó, nhiều cơ sở canh tác, sản xuất chè trên địa bàn nhiều tỉnh đã chuyển hướng sản xuất sản phẩm chè theo hướng an toàn hữu cơ (Trần Đại Nghĩa & cs.
Đây là một trong những giải pháp nhằm bảo 1 vệ sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng, góp phần quan trọng nâng cao thu nhập và hướng tới một nền nông nghiệp xanh, phát triển bền vững. Việc nghiên cứu, áp dụng kĩ thuật để phát triển nấm cộng sinh trên rễ cây nhằm bổ sung nguồn cung cấp hữu cơ cho cây chè, giúp cây vượt qua được những điều kiện bất lợi về độ ẩm, dinh dưỡng, giúp tăng năng suất cây trồng, duy trì, bảo vệ, nâng cao độ phì nhiêu của đất, giải pháp cho việc chuyển hướng sản xuất sản phẩm chè hữu cơ của người trồng chè, đồng thời bổ sung kiến thức vào những nghiên cứu về nấm cộng sinh trên rễ cây chè là tiền đề cho việc thực hiện đề tài “Phân lập và nghiên cứu đặc điểm một số nấm cộng sinh trên rễ cây Chè”. Mục đích nghiên cứu Tuyển chọn được một số chủng nấm cộng sinh trên rễ cây chè có khả năng sinh tổng hợp các chất kích thích sinh trưởng thực vật cao, tạo nguồn vật liệu ban đầu góp phần vào nghành công nghiệp trồng chè theo hướng hữu cơ. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài tuyển chọn và xác định một số đặc điểm kích thích sinh trưởng thực vật của một số chủng nấm cộng sinh trên rễ cây chè, đồng thời được sử dụng như tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sâu hơn về nấm cộng sinh ở rễ cây chè. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài tạo nguồn vật liệu với các chủng giống nấm cộng sinh tiềm năng, nhằm mục đích nghiên cứu, sản xuất chế phẩm sinh học có hiệu quả. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, giảm thiểu lượng phân bón hóa học, bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Giới thiệu về cây Chè Cây chè (hay trà xanh) có tên khoa học là Camellia sinensis (L) O. Kuntze, tên gọi khác là The sinensis l., Thea assamica Mast (Mai Nhật Nam, 2022). Theo truyền thuyết, cây chè lần đầu tiên được phát hiện bởi người Trung Quốc. Đầu tiên được sử dụng như một dược liệu, sau trở thành một thứ đồ uống mang đậm tính dân tộc của Trung Quốc.
Ngày nay, chè được trồng ở nhiều nơi trên thế giới trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á, chiếm 80 – 90% tổng diền tích chè của thế giới. Trong đó nổi tiếng là Ấn Độ, Trung Quốc, Kenya, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam. Tại Việt Nam, chè được trồng trong khoảng 30 tỉnh, trong đó vùng trung du miền núi phía Bắc chiếm khoảng trên 60%, Tây Nguyên khoảng 14%, còn lại là các vùng khác (Mai Nhật Nam, 2022). Đặc điểm thực vật của cây Chè Cây chè là cây công nghiệp lâu năm, sống cố định trên một mảnh đất trong nhiều năm, thậm chí lên hàng trăm năm, lá và chồi của cây được sử dụng để sản xuất trà.
Cây chè có chu kì kinh tế dài nhưng nhanh cho sản phẩm thu hoạch, cho nên việc nghiên cứu đặc điểm thực vật học của cây chè như rễ, thân, lá, hoa, quả, hạt của cây chè rất quan trọng, là cơ sở cho việc chọn đất, biện pháp canh tác và tác động giúp cây chè phát triển khỏe mạnh, cho năng suất cao nhất (Trần Thị Hoàng Mai, 2010). Cây Chè - Camellia sinensis (L.Ktze (Thea sinensis L.) 3 Cây chè có thân và cảnh theo dạng thân thảng và tròn, phân nhánh liên tục thành một hệ thống cành và chồi. Thân, cành và lá tạo thành tán cây, tán chè mọc tự nhiên thường có dạng vòm đều. Hoa chè bắt đầu nở khi cây đạt 2 – 3 năm tuổi, hoa mọc từ chồi sinh thực ở nách lá.
Hoa chè là hoa lương tính, tràng có 5 – 9 cánh màu trắng hoặc màu phớt hồng. Quả chè là loại quả có hình tròn, tam giác hoặc hình vuông, thường có 1 – 4 hạt, quả chè thường mọc thành từng chùm, ban đầu có màu xanh, về sau dần chuyển thành màu nâu hoặc đen. Lá chè mọc cách nhau trên cành, mỗi đốt có một lá. Hình dạng và kích thước lá khác nhau tùy vào từng giống (Mai Nhật Nam, 2022).
Giá trị sử dụng của cây chè Chè là một trong những cây công nghiệp quan trọng và tạo ra nhiều việc làm ở tất cả các vùng trồng chè trên thế giới. Bên cạnh vai trò là một loại thức uống phổ biến, chè ngày càng được ưa chuộng bởi đặc tính kháng ung thư và chống lão hóa. Giá trị dinh dưỡng của chè Chè là sản phẩm chế biến từ búp (tôm) và các lá non thu hái từ cây chè. Nếu uống nước hãm chè với một lượng vừa phải thì rất tốt đối với cơ thể vì trong nước hãm chè có đầy đủ các loại vitamin, muối khoáng, protein, amino acid, gluxit và một số chất hữu cơ khác… Các nhà khoa học ở trung tâm dinh dưỡng Unilever (Vlaerdingen, Hà Lan) cho biết, nhiều bệnh viện đã đưa chè vào danh sách những thực phẩm có tính năng bảo vệ sức khỏe.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết sau khi uống đều đặn mỗi ngày 3 chén nước chè, “khối lượng” và phạm vi hoạt động của gốc tự do oxy hóa trong huyết thanh của cơ thể đã giảm đi rõ rệt (Nanjo & cs. Ngoài tác dụng giải khát, tăng cường chất dinh dưỡng thì chè xanh còn có tác dụng ngăn ngừa nhiều loại bệnh nhờ các chất có hoạt tính sinh học cao trong lá chè. Từ đó, chè đã trở thành thành phần quan trọng tromg chế biến thức ăn, đồ uống hay các loại bánh kem, bánh sandwich làm từ chè xanh. Các sản 4 phẩm không chỉ được ưa chuộng ở Việt Nam mà còn có thị trường tiêu thụ tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Mỹ, Úc.
Giá trị dược tính của chè Nhiều nghiên cứu cho thấy chè được sử dụng để điều trị mụn cóc sinh dục, tăng cường sự tỉnh táo tinh thần, phòng chống ung thư, giúp giảm cân, giảm mức lipid trong huyết thanh, ngăn ngừa bệnh mạch vành, tăng cường trí nhớ, giảm đau xương khớp, điều trị các chứng mãn kinh và góp phần kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên, trong chè cũng có nhiều độc tính, ví dụ là các tác dụng bất lợi có liên quan đến tác động của caffein như mất ngủ, lo âu, nhịp tim nhanh và run nhẹ. Có trường hợp hiếm hoi báo cáo tình trạng nhiễm độc gan do có sự can thiệp của trà xanh (Mai Nhật Nam, 2022). Theo y học cổ truyền, chè có công dụng lợi tiểu, định thần, thanh nhiệt, giải khát, tiêu cơm, làm mát cơ thể.
Chủ trị các chứng như tâm trí rối loạn, nóng người, tả lỵ, mụn nhọt, chóng mặt, ăn không tiêu (Mai Nhật Nam, 2022). Giá trị nghệ thuật trong việc thưởng thức trà Thưởng trà là một thú vui tao nhã, tìm kiếm sự tĩnh tại, thư thái. Một tách trà, hay văn hóa thưởng thức trà gói trọn những nét tinh hoa, sự tinh tế, phong cách và những giá trị lâu đời của một đất nước. Từ rất lâu đời, uống trà đã trở thành một nét văn hóa truyền thống của người Việt.
Tổng quan về nấm cộng sinh trên rễ cây Đối với thực vật, khi sinh trưởng tại một vùng đất “nghèo”, có nồng độ chất dinh dưỡng thấp, tốc độ khuếch tán hoặc đổ ẩm của đất thấp thì cây sẽ khó phát triển và còi cọc. Tuy nhiên, những điều kiện này lại rất phổ biến, cho nên hầu hết các loài thực vật đều dựa vào nấm để tạo điều kiện hấp thu khoáng chất từ đất. Nấm cộng sinh với rễ cây, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển chất dinh dưỡng. Đây là quần hợp nấm – thực vật được biết nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thực vật cũng như nhiều hệ sinh thái, hơn 90% các loài thực vật có quan hệ với nấm theo hình thức nấm rễ và phụ thuộc vào mối quan hệ này để tồn tại.
Trong mối quan hệ này, nấm được 5 tích hợp hoàn toàn vào cấu trúc vật lý của rễ cây, xâm chiếm mô rễ sống trong quá trình tăng trưởng tích cực của cây (Trần Thị Như Hằng & cs. Quá trình sống và cộng sinh chính là quá trình vận chuyển các chất dinh dưỡng và khoáng từ nấm đến thực vật. Trong hầu hết các trường hợp, cũng có sự vận chuyển đáng kể các chất chuyển hóa từ thực vật đến nấm (Phạm Phước Nhẫn, 2014).