Đặt vấn đề Việt Nam được xem là một trong những nước tại Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới. Các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, biển, núi đá vôi, v.v… Những nét đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoãng dã đặc hữu, có giá trị, trong đó có những loài không tìm thấy bất cứ nơi nào trên thế giới. Việt Nam được biết đến với nhiều nguồn gen hoang dã, đặc biệt là cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới, v.v… Đa dạng sinh học ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện khác nhau về sinh thái, kinh tế và xã hội. Giá trị sinh thái và môi trường thể hiện ở sự đa dạng sinh học giúp bảo vệ tài nguyên đất và nước, điều hòa khí hậu, phân hủy chất thải và hấp thụ CO2.
Giá trị kinh tế thể hiện rõ ở sự đóng góp của các ngành liên hệ mật thiết đến đa dạng sinh học đối với nền kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và du lịch. Giá trị nhân văn của đa dạng sinh học là góp phần giáo dục con người, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hội. Tuy là một nước đa dạng sinh học cao nhưng cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng về hệ sinh thái nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động của con người gây ra: Việc chuyển đổi từ đất rừng sang đất trồng cây công nghiệp, lương thực vẫn diễn ra hàng năm. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng như: Đường, đập, thủy điện, các khu công nghiệp đã gây ra suy thoái rừng nghiêm trọng, chia cắt, hình thành rào cản sự di cư và làm mất đi sinh cảnh tự nhiên.
Việc khai thác gỗ trái phép, lâm sản n 2 ngoài gỗ, đặc biệt là săn bắt, buôn bán các loài động vật hoang dã cũng như đánh bắt các loài thủy sản bằng phương pháp hủy diệt,…vẫn tồn tại và nó trở thành thách thức đối với các nhà quản lý bảo tồn đa dạng sinh học. Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới. Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã và đang làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng. Sự mất mát về đa dạng sinh học hiện nay là đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa và có nguy cơ bị tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý.
Do đó, việc quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học là thực sự cần thiết và cấp bách. Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của đa dạng sinh học, năm 1993 Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về đa dạng sinh học. Năm 1995, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Việt Nam”. Năm 2007, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai.
Ở Việt Nam, Xoan đào sinh trưởng ở độ cao từ 700 đến 1000m so với mặt nước biển. Phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi phía Bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Ninh… và một số khu vực khác của Tây Nguyên. Tại Kom Tum, Xoan đào phát triển tốt ở một số huyện như: Sa Thầy, Kon Rẫy, Kon Plong. Xoan đào còn rất ít cá thể ở khu vực rừng miền Đông Nam Bộ.
Xoan đào sinh trưởng nhanh, tăng trưởng bình quân năm đạt đường kính 2 - 2,5cm và đạt chiều cao 1,2 - 2m. Gỗ Xoan đào được dùng làm ván lạng, ván bóc và các đồ nội thất gia đình như cửa gỗ, bàn ghế, tủ bếp… Đặc biệt hiện nay gỗ Xoan đào được dùng làm ván lạng cho veneer rất phổ biến, loại gỗ này đang rất được ưa chuộng trên thị trường. Chất liệu veneer Xoan đào n 3 đang trở thành xu hướng và sự lựa chọn của rất nhiều gia đình Việt. Lá non và vỏ cây có thể dùng để chiết xuất tinh dầu.
Là loại gỗ có độ bền và độ ổn định cao, thiết kế được nhiều kiểu dáng, mẫu mã hiện đại, sau khi đã được xử lý kỹ thuật thì độ chịu ẩm và khả năng kháng mối mọt tốt hơn. Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam năm 2012 đạt 3,8 tỷ USD - đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á, thứ Nhất Đông Nam Á - trong đó các mặt hàng chế biến từ gỗ Xoan đào khá lớn. Xoan đào cho giá trị kinh tế rất cao. Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp đang bị thiếu hụt trầm trọng nguyên liệu gỗ phục vụ xây dựng phát triển đô thị, khu công nghiệp, dân dụng.
Xoan đào cũng thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), nên có tính chịu hạn cao, thích hợp với vùng đất nghèo dinh dưỡng, khô hạn. Nhiều diện tích rừng do một số nguyên nhân khác nhau nên sự phân bố Xoan đào ngày càng bị thu hẹp nhanh chóng. Người dân còn nghèo đói, trình độ dân trí thấp nên chưa thực sự thấy được tầm quan trọng của việc bảo vệ và gây trồng loài cây này. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Yên Nhuận - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn”, nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng giải pháp và phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại xã Yên Nhuận.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Xác định được phân bố tự nhiên và đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Xoan đào tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Mục tiêu cụ thể Phân bố tự nhiên: Xác định được những đặc điểm hình thái của loài Xoan đào. Xác định được một số đặc điểm sinh thái của loài Xoan đào tại khu vực nghiên cứu.
Ý nghĩa đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân. Bổ sung các thông tin khoa học và là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý. Ý nghĩa trong thực tiễn: Nghiên cứu loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl), làm cơ sở đề xuất hướng bảo tồn và phát triển loài tại xã Yên Nhuận. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Trên thế giới 2. Nghiên cứu về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường.
Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi. Richards (1968) [14] cho rằng “quần xã thực vật gồm những loài cây có hình dạng khác nhau, dạng sống khác nhau nhưng tạo ra một hoàn cảnh sinh thái nhất định và có một cấu trúc bên ngoài và được sắp xếp một cách tự nhiên và hợp lý trong không gian”. Theo ông cách sắp xếp được xem xét theo hướng thẳng đứng và hướng nằm ngang. Từ cách sắp xếp này có thể phân biệt các quần xã thực vật khác và có thể mô tả bằng các biểu đồ.
Phương pháp này có thể nhận diện nhanh một kiểu rừng qua các biểu đồ mặt cắt. Trên cơ sở này, các nhà lâm sinh có thể lựa chọn các biện pháp kỹ thuật để điều chỉnh mật độ cây rừng nhằm đưa rừng phát triển ổn định. Điều này nói n 6 lên rừng mưa nhiệt đới có những đặc trưng nhất định về loài cây gỗ chịu ẩm, nhiều tầng tán và các dạng sống khác rất phức tạp trong một kiểu rừng. Phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [29] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó.
Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm. Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm. Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản: 1. Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất 2.
Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất 3. Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn 4. Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn 5. Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm Với kiểu phân chia dạng sống này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt được các kiểu thảm thực vật ở vùng ôn đới, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên.
Tuy nhiên đối với rừng nhiệt đới rất khó áp dụng. Khi đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng Kraft (1884), đã chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp sinh trưởng hoặc cấp “ưu thế” và cấp “chèn ép”. Các chỉ tiêu Kraft sử dụng là: Vị trí tán cây trong tán rừng (chiều cao), độ lớn và hình dạng tán lá, khả năng ra hoa, tình trạng sinh lực…Mỗi chỉ tiêu có một hệ thống tiêu chuẩn để nhận biết và đánh giá (Stephen và ctv, 1986) [31]. Phương pháp này phản ánh được tình hình phân hóa cây rừng rõ ràng trong các lớp không gian, chiều cao của các cấp so với chiều cao trung bình.
Nhưng giải pháp này chỉ áp dụng cho rừng trồng đồng tuổi có sự cạnh tranh về không n 7 gian dinh dưỡng ở cùng loài cây, cùng tuổi. Rừng tự nhiên có cấu trúc phức tạp có nhiều thế hệ tuổi khác nhau nên khó áp dụng.