Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên rừng giữ vai trò thiết yếu trong việc duy trì cân bằng sinh thái, hấp thụ khí quyển và bảo tồn tính đa dạng sinh vật học. Tại Việt Nam, số liệu thống kê chỉ ra rằng năm 1945 tổng diện tích rừng tự nhiên đạt 14 triệu ha (độ che phủ 43%), song đến năm 1990 chỉ còn 9,175 triệu ha (độ che phủ 27,2%) do hậu quả chiến tranh, khai thác bừa bãi và tập quán du canh nương rẫy. Nhờ các chính sách quản lý, tiêu biểu là Chỉ thị số 286/TTg năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc đóng cửa khai thác gỗ rừng tự nhiên, tốc độ phục hồi rừng đã tăng lên; đến năm 2003, diện tích rừng đạt 12 triệu ha (độ che phủ 36,1%), bao gồm 10 triệu ha rừng tự nhiên và 2 triệu ha rừng trồng.

Xã Phú Xuyên nằm ở phía Tây Bắc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, là địa phương sở hữu nguồn tài nguyên lâm sản phong phú, có diện tích rừng giáp ranh Vườn Quốc gia Tam Đảo và nhiều trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt. Nhằm phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen, làm giàu rừng và quản lý lâm nghiệp bền vững, việc điều tra toàn diện các đặc tính sinh học của các loài cây bản địa có giá trị cao là yêu cầu cấp thiết. Cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) là loài thân gỗ lớn thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), gỗ bền đẹp thuộc nhóm VI, đa tác dụng nhưng các công trình nghiên cứu về loài này tại địa phương còn tản mạn, chưa đầy đủ dữ liệu định lượng.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ:

  1. Điều tra và phân tích được một số đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên, cấu trúc tổ thành, mật độ của cây Xoan đào tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển cây Xoan đào ở khu vực xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm lâm học, sinh thái, cấu trúc quần xã, đặc điểm tái sinh và phân bố tự nhiên của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl).
  • Phạm vi không gian: Rừng tự nhiên phục hồi tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (đai độ cao phân bố tuyệt đối từ 500–600 m trở xuống).
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, đề tài vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978), coi thảm thực vật rừng là tấm gương phản chiếu tổng hợp các điều kiện hoàn cảnh tự nhiên qua sinh vật để hình thành quần xã thực vật. Khung phân loại trạng thái rừng áp dụng hệ thống phân chia của Loeschau nhằm nhận diện các giai đoạn phục hồi thứ sinh (tập trung vào trạng thái IIA – rừng phục hồi sau nương rẫy với tầng cây tiên phong ưa sáng).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sinh thái ngoài thực địa và xử lý dữ liệu được tác giả thiết lập theo các quy chuẩn lâm học thống nhất:

  • Thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn: Bố trí 9 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời và bán định vị đại diện tại 3 vị trí địa hình khác nhau (chân núi, sườn núi, đỉnh núi).
  • Điều tra tầng cây gỗ lớn: Trong mỗi OTC, tiến hành nhận diện tên loài của các cá thể có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) $\ge 6\text{ cm}$; đo $D_{1.3}$ qua chu vi thân; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng thước sào chia vạch 20 cm (sai số $\pm 10\text{ cm}$); đo đường kính tán lá ($D_t$) theo hai hướng Đông – Tây và Nam – Bắc bằng thước dây (sai số $\pm 10\text{ cm}$); đánh giá chất lượng cây đứng theo 3 cấp (Tốt, Trung bình, Xấu).
  • Điều tra tầng cây tái sinh: Thiết lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích $25\text{ m}^2$ ($5\times 5\text{ m}$) trong mỗi OTC (4 ô tại 4 góc và 1 ô tại trung tâm, tổng cộng 45 ODB). Đồng thời thiết lập 8 ODB kích thước $25\text{ m}^2$ xung quanh mỗi cây mẹ trội (4 ô trong tán, 4 ô ngoài tán). Các chỉ tiêu theo dõi gồm tên loài, nguồn gốc (hạt hoặc chồi), chất lượng sinh trưởng (T, TB, X) và phân cấp chiều cao theo 8 cấp ($<0,3\text{ m}$; $0,3\text{--}0,5\text{ m}$; $0,5\text{--}1,0\text{ m}$; $1,0\text{--}1,5\text{ m}$; $1,5\text{--}2,0\text{ m}$; $2,0\text{--}2,5\text{ m}$; $2,5\text{--}3,0\text{ m}$; $>3,0\text{ m}$).
  • Điều tra lớp cây bụi, thảm tươi và dây leo: Đánh giá theo 2 đường chéo của ô thứ cấp ($25\text{ m}^2$), xác định tên loài, chiều cao, độ che phủ (%) và phân cấp độ nhiều theo thang cấp độ: Soc (che phủ 75–100%), Cop1 (50–75%), Cop2 (25–50%), Cop3 (5–25%), Sp ($<5%$), Sol (rải rác), Un (cá biệt), Gr (mọc từng khóm).
  • Điều tra đất đai: Đào các phẫu diện kích thước $1,2 \times 0,8 \times 1,0\text{ m}$ gần khu vực có Xoan đào phân bố; mô tả màu sắc, thành phần cơ giới, tỷ lệ đá lẫn, kết cấu và độ chặt theo "Sổ tay điều tra quy hoạch rừng" (1995).
  • Đo độ tàn che: Sử dụng máy đo độ tàn che tại 3 vị trí trong OTC, tính toán với hệ số hiệu chỉnh $k = 1,04$.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
    • Hệ số tổ thành loài tính theo chỉ số giá trị quan trọng IVI% (Curtis, 1959): $\text{IV}_i% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$ (trong đó $N_i%$ là tỷ lệ số cá thể, $G_i%$ là tỷ lệ tiết diện ngang; loài có $\text{IV}% > 5%$ được xác định là loài có ý nghĩa sinh thái).
    • Đánh giá đa dạng sinh thái bằng chỉ số Simpson ($D = 1 - \sum \frac{n_i(n_i-1)}{N(N-1)}$) và chỉ số Shannon – Wiener ($H' = -\sum \frac{n_i}{N} \ln\frac{n_i}{N}$).
    • Nắn phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính và chiều cao ($N/D_{1.3}$, $N/H_{vn}$) bằng hàm Weibull và hàm khoảng cách; xác lập tương quan sinh trưởng ($H_{vn}/D_{1.3}$, $D_t/D_{1.3}$) trên phần mềm SPSS 13.0 theo phương pháp của Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi (1996).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc bảo vệ tài nguyên rừng tự nhiên tại Việt Nam, nêu rõ vị trí địa lý của xã Phú Xuyên với nguồn tài nguyên lâm sản phong phú. Đặt ra mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định đặc tính lâm học, cấu trúc và phân bố của Xoan đào phục vụ phục hồi rừng sau khai thác kiệt. Nêu rõ ý nghĩa khoa học và thực tiễn sản xuất trong việc cung cấp luận cứ bảo tồn và làm giàu rừng tại địa bàn nghiên cứu.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tổng hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế về cấu trúc rừng mưa nhiệt đới (Richards, Melekhov, Lamprecht, Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phương, Đặng Kim Vui) và quy luật tái sinh tự nhiên (Van Steenis, Ramakrishnan, Nguyễn Duy Chuyên, Vũ Tiến Hinh). Trình bày tổng quan thực vật học loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl, tên đồng nghĩa Prunus arborea, họ Rosaceae): cây gỗ lớn cao tới 40 m ở tự nhiên, đường kính tới 75 cm, phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á. Nêu số liệu cơ bản về tự nhiên – kinh tế – xã hội xã Phú Xuyên năm 2012: tổng diện tích 2.320,06 ha (đất lâm nghiệp 1.272,5 ha, trong đó rừng đặc dụng Vườn Quốc gia Tam Đảo quản lý 945,5 ha, rừng sản xuất 327 ha; dân số 7.048 người với 1.897 hộ, lao động nông lâm nghiệp chiếm 80,6%).

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết khung logic nghiên cứu, hệ thống các chỉ tiêu lâm học cần theo dõi, quy trình lập 9 ô tiêu chuẩn ($1.000\text{ m}^2$) và 45 ô dạng bản ($25\text{ m}^2$) tái sinh, phương pháp đào và mô tả phẫu diện đất. Trình bày các công thức toán học lâm sinh sử dụng để tính mật độ ($N/\text{ha}$), độ tàn che, chỉ số IVI%, độ đa dạng loài ($D, H'$) và các phương trình giải tích hồi quy trên SPSS 13.0.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Phản ánh toàn diện các dữ liệu thực nghiệm thu thập tại xã Phú Xuyên:

  • Nhận diện trạng thái rừng: Toàn bộ 9 OTC tại ba vị trí địa hình đều thuộc trạng thái rừng phục hồi IIA theo Loeschau (rừng sau nương rẫy, cây tiên phong ưa sáng, cấu trúc một tầng).
  • Đặc điểm hình thái: Thân cây gỗ lớn, cao 20–25 m, đường kính 40–50 cm (cá biệt đạt $>1\text{ m}$), thân hình trụ thẳng, phân cành ở 3/4 chiều cao, góc phân cành rộng 60–70°, cành lớn cong vặn và xà xuống. Vỏ ngoài xanh trắng hoặc nâu nhạt, nứt dọc nông khi già, toàn thân có mùi bọ xít đặc trưng. Cây có $D > 50\text{ cm}$ xuất hiện bạnh vè nhỏ cao tới 1,2 m. Lá đơn nguyên, phiến dày, dài 10–15 cm, rộng 3–4 cm, mặt sau có 10–15 đôi gân thứ cấp nổi rõ so le. Hoa chùm mọc đầu cành hoặc nách lá, màu trắng vàng. Quả hạch hình thận đường kính 2 cm, khi chín màu nâu nhạt, chứa hạt giàu dầu thơm.
  • Vật hậu học: Thời kỳ sinh dưỡng rụng lá mạnh nhất vào tháng 12, ra lá non từ tháng 1 đến tháng 2. Thời kỳ sinh sản ra hoa vào tháng 3–4 (kéo dài khoảng 20 ngày), quả non từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 5, quả già từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9, quả chín rụng từ tháng 10 đến tháng 11 (kéo dài khoảng 15 ngày). Chu kỳ sai quả cách nhau 3–5 năm (tỷ lệ cây ra quả đạt 60–70%). Quả chín có trọng lượng 300–350 quả/kg, độ thuần $>95%$, tỷ lệ nảy mầm ban đầu $<50%$ nhưng giảm nhanh 50–60% sau 1,5 tháng bảo quản.
  • Điều kiện lập địa: Phân bố ở đai cao dưới 600 m, nhiệt độ trung bình năm 22–24°C, lượng mưa 1.500–1.700 mm/năm (tập trung 85% vào mùa mưa), độ ẩm không khí 82–84%. Đất có tầng mặt 0–10 cm kết cấu viên cục, xốp, thịt nhẹ; sâu xuống 20–50 cm chuyển dần sang thịt nặng, kết cấu tảng, chặt; đá lẫn dao động 5–15%.
  • Cấu trúc tầng cây cao: Mật độ lâm phần dao động từ 200 đến 300 cây/ha. Xoan đào xuất hiện tại vị trí chân núi (mật độ 2 cá thể/OTC, $\text{IV}% = 6,66%$) và sườn núi (mật độ 3 cá thể/OTC, $\text{IV}% = 8,06%$). Tại đỉnh núi, Xoan đào không nằm trong nhóm loài ưu thế ($\text{IV} < 5%$).
Vị trí địa hình Mật độ tầng cây cao (cây/ha) $D_{1.3}$ bình quân (cm) $G$ bình quân ($m^2$/ha) Độ tàn che (%) Chỉ số Simpson ($D$) Chỉ số Shannon ($H'$) Loài ưu thế nhất (IV%) Vị trí của Xoan đào
Chân núi 200 – 300 12,68 – 12,83 1,38 – 2,18 60 – 85 — — Kháo (18,04%) Tham gia tổ thành ($\text{IV} = 6,66%$, $N=2$)
Sườn núi 200 – 210 11,99 – 13,90 1,24 – 1,63 75 – 85 0,71 – 0,99 1,68 – 2,32 Kháo (19,50%) Tham gia tổ thành ($\text{IV} = 8,06%$, $N=3$)
Đỉnh núi 200 – 210 — 0,47 – 1,33 65 – 85 0,84 – 0,99 2,02 – 2,37 Kháo (16,85%) Không thuộc nhóm $\text{IV} > 5%$

Ghi chú: Số liệu tổng hợp từ Bảng 4.3 và mô tả điều tra tầng cây cao trong văn bản.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và khuyến nghị

Tóm lược các kết luận khoa học về đặc điểm hình thái, sinh thái, tổ thành của loài Xoan đào tại xã Phú Xuyên. Nêu lên những mặt tồn tại do giới hạn thời gian thực địa và đề xuất khuyến nghị về kỹ thuật thu hái hạt giống, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên và làm giàu rừng bằng loài cây bản địa này.

Kết quả và đóng góp

Văn bản ghi nhận các kết quả thực nghiệm và số liệu cụ thể:

  • Xác định rõ vị trí sinh thái của loài: Xoan đào tại xã Phú Xuyên là loài cây ưa sáng, mọc phân tán trong trạng thái rừng phục hồi IIA sau nương rẫy ở đai độ cao dưới 600 m. Cây phân bố tập trung ở chân và sườn núi ẩm, đất sâu dày thoát nước; mật độ tầng cây cao đạt từ 200–300 cây/ha với độ tàn che trung bình từ 60–85%.
  • Xác lập chỉ số mức độ quan trọng: Tại vị trí sườn núi, Xoan đào đạt $\text{IV} = 8,06%$ (đứng thứ ba sau Kháo 19,50% và Vang 14,85%); tại chân núi đạt $\text{IV} = 6,66%$ (xếp sau Kháo, Sồi bàng, Trám, Côm, Bồ đề). Cả hai vị trí này Xoan đào đều đạt tiêu chuẩn tham gia vào công thức tổ thành tầng cây cao ($\text{IV} > 5%$).
  • Xác định chu kỳ vật hậu và đặc tính hạt giống: Ra hoa tháng 3–4, quả chín tháng 10–11. Quả hạch chứa tinh dầu, trọng lượng 300–350 quả/kg. Hạt mất sức nảy mầm nhanh (mất 50–60% sức nảy mầm sau 1,5 tháng bảo quản thông thường).

Biện pháp lâm sinh và khuyến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất:

  • Kỹ thuật thu hái và nhân giống: Cần thu hái hạt giống vào tháng 9–10 khi vỏ quả chuyển màu nâu nhạt, nhân hạt chắc màu trắng, tốt nhất là khi lâm phần có 50–60% số cây có quả chín rụng. Quả sau khi thu hái phải xử lý ủ ngay trong cát ẩm định kỳ (độ ẩm duy trì khoảng 80%) và tiến hành gieo ươm ngay, không lưu trữ lâu vì tỷ lệ nảy mầm ban đầu vốn dưới 50%.
  • Biện pháp nuôi dưỡng rừng: Áp dụng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng dặm, làm giàu rừng bằng cây con Xoan đào ở các trạng thái rừng IIA ven khe suối, chân và sườn dốc; phát luỗng dây leo bụi rậm chèn ép để tạo không gian dinh dưỡng và ánh sáng cho cây tái sinh vượt tầng thảm tươi.

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp hệ thống dữ liệu điều tra thực địa có độ tin cậy về đặc điểm hình thái học, vật hậu học, cấu trúc mật độ và tính chất thổ nhưỡng của loài Xoan đào tại xã Phú Xuyên, bổ sung luận cứ thực tiễn cho công tác quản lý và gây trồng loài cây bản địa này tại tỉnh Thái Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế được phản ánh từ điều kiện thực hiện:

  • Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện trong thời gian ngắn (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016), do đó dữ liệu về các pha vật hậu trong các tháng cuối năm (thời kỳ quả chín, quả rụng từ tháng 8 đến tháng 11) chủ yếu dựa trên việc kế thừa tài liệu kết hợp phỏng vấn, chưa theo dõi trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng nhiều năm ngoài hiện trường.
  • Giới hạn về phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại một xã (Phú Xuyên, huyện Đại Từ) trên trạng thái rừng phục hồi IIA, chưa so sánh đối chứng với các kiểu rừng tự nhiên nguyên sinh hoặc các đai độ cao khác trên dãy Tam Đảo.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi động thái tái sinh tự nhiên cố định qua nhiều năm, nghiên cứu chuyên sâu các phương pháp xử lý kích thích nảy mầm và kỹ thuật bảo quản hạt giống Xoan đào nhằm kéo dài tuổi thọ phôi hạt phục vụ sản xuất cây giống quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Sinh thái học: Cung cấp phương pháp mẫu mực về bố trí ô tiêu chuẩn, ô dạng bản điều tra tầng cây cao và tầng cây tái sinh, phương pháp tính toán chỉ số tổ thành IVI%, chỉ số đa dạng sinh học Simpson và Shannon – Wiener.
  • Cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp, Trạm Kiểm lâm địa bàn và Ban quản lý rừng: Dữ liệu về đặc tính đất đai (phẫu diện đất tầng mặt thịt nhẹ, tầng sâu thịt nặng), điều kiện lập địa và lịch vật hậu chi tiết (thời điểm hoa nở tháng 3–4, quả chín tháng 10–11) là cơ sở chỉ dẫn kỹ thuật để lập kế hoạch thu hái hạt giống và khoanh nuôi phục hồi rừng bản địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài Xoan đào được khảo sát trong khóa luận có tên khoa học và đặc điểm nhận biết hình thái ra sao?

Cây Xoan đào có tên khoa học là Pygeum arboreum Endl (đồng nghĩa Prunus arborea), tên tiếng Tày là Mạy thoong, thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae). Cây cao 20–25 m, đường kính 40–50 cm, vỏ ngoài màu tro bạc hoặc nâu nhạt, khi già nứt dọc nông, thịt vỏ vàng hoặc hơi hồng. Dấu hiệu nhận biết đặc trưng trên thực địa là toàn thân cây có mùi hôi bọ xít; cành non phủ lông mịn màu rỉ sắt; phiến lá đơn nguyên dài 10–15 cm, mặt sau nổi rõ 10–15 đôi gân thứ cấp so le.

2. Trạng thái rừng có Xoan đào phân bố tại xã Phú Xuyên được phân loại như thế nào và có mật độ bao nhiêu?

Theo phân loại của Loeschau, các khu vực có Xoan đào phân bố tại xã Phú Xuyên thuộc trạng thái rừng IIA (rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi tầng cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, cấu trúc một tầng). Mật độ tầng cây cao toàn lâm phần dao động từ 200 đến 300 cây/ha ở chân núi và 200 đến 210 cây/ha ở sườn và đỉnh núi; độ tàn che dao động từ 60% đến 85%.

3. Mức độ quan trọng (chỉ số IVI%) của cây Xoan đào biến đổi thế nào theo các vị trí địa hình?

Tại chân núi, Xoan đào có 2 cá thể trên OTC, đạt chỉ số $\text{IV} = 6,66%$, đứng thứ 6 trong 9 loài ưu thế ($\text{IV} > 5%$). Tại sườn núi, Xoan đào có 3 cá thể trên OTC, đạt $\text{IV} = 8,06%$, đứng thứ 3 trong 6 loài ưu thế (sau Kháo 19,50% và Vang 14,85%). Tại đỉnh núi, Xoan đào không xuất hiện trong danh sách các loài có ý nghĩa sinh thái ($\text{IV} > 5%$). Như vậy, Xoan đào phát triển ưu thế hơn ở sườn và chân núi.

4. Quy luật vật hậu ra hoa kết quả của Xoan đào diễn ra vào thời gian nào và hạt giống cần xử lý ra sao?

Tại Phú Xuyên, Xoan đào nở hoa vào tháng 3–4 (kéo dài khoảng 20 ngày), quả non hình thành từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 5, quả già từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9 và quả chín rụng từ tháng 10 đến tháng 11. Chu kỳ sai quả từ 3–5 năm một lần. Hạt giống chứa nhiều dầu thơm nên mất sức nảy mầm nhanh (sau 1,5 tháng mất 50–60% sức nảy mầm). Thu hái thích hợp nhất vào tháng 9–10 khi quả màu nâu nhạt, sau đó phải ủ ngay vào cát ẩm duy trì độ ẩm khoảng 80% và đem gieo ươm kịp thời.

5. Đặc điểm đất đai nơi cây Xoan đào phân bố tại khu vực nghiên cứu có tính chất gì?

Qua phân tích phẫu diện đất ($1,2 \times 0,8 \times 1,0\text{ m}$) tại ba vị trí địa hình, đất nơi Xoan đào phân bố có sự phân tầng rõ rệt: Tầng mặt (0–10 cm) có màu nâu vàng nhạt đến nâu nhạt, thành phần cơ giới thịt nhẹ, kết cấu cục, trạng thái xốp nhẹ, tỷ lệ đá lẫn 5–10%. Tầng sâu hơn (20–50 cm) chuyển sang màu đỏ vàng nhạt, thành phần cơ giới thịt nặng, kết cấu chuyển từ cục sang tảng, độ chặt từ hơi chặt đến chặt, tỷ lệ đá lẫn từ 5–15%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã xác định cụ thể các đặc điểm lâm sinh, hình thái và cấu trúc phân bố tự nhiên của loài cây bản địa Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại trạng thái rừng phục hồi IIA ở xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khảo sát thực địa làm sáng tỏ vị trí tổ thành của loài tại chân núi ($\text{IV} = 6,66%$) và sườn núi ($\text{IV} = 8,06%$), đồng thời cung cấp đầy đủ thông số định lượng về các pha vật hậu học và đặc điểm thổ nhưỡng phẫu diện đất. Những phát hiện này là căn cứ thực nghiệm quan trọng hỗ trợ cho việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật thu hái hạt giống, ươm tạo cây con và khoanh nuôi phục hồi rừng gỗ lớn bền vững tại địa phương.