Tổng quan nghiên cứu

Bể trầm tích Cửu Long nằm ở thềm lục địa phía nam Việt Nam với tổng diện tích khoảng 36.000 km², chiều dài xấp xỉ 350 km và chiều rộng khoảng 120 km. Đây là bồn trũng dầu khí có tiềm năng khai thác lớn nhất Việt Nam, nơi độ sâu nóc móng trước Kainozoi thay đổi từ vài trăm mét tại rìa bồn trũng đến gần 9.000 m tại vùng trung tâm trũng sâu. Trong bối cảnh các đối tượng trầm tích truyền thống ngày càng cạn kiệt, cấu tạo Bảo Bình thuộc Lô 02/97 ở sườn nghiêng Đông Nam bể Cửu Long nổi lên như một mục tiêu thăm dò then chốt với đối tượng chứa dầu trong đá móng Granitoid phong hóa và nứt nẻ. Tuy nhiên, cấu trúc địa chất tại đây cực kỳ phức tạp do bị chia cắt mạnh mẽ bởi mạng lưới đứt gãy đa phương, gây khó khăn lớn cho việc xác định thể bất đối xứng và dự báo các đới nứt nẻ có khả năng dẫn dòng tốt.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định chi tiết hình thái, tuổi và phân chia các pha hoạt động của 23 đứt gãy chính tại cấu tạo Bảo Bình. Luận văn tiến hành khôi phục trường ứng suất kiến tạo từ thời kỳ Jura - Kreta đến Đệ Tứ, làm rõ vai trò của từng hệ thống đứt gãy trong việc hình thành bẫy chứa và dẫn truyền dầu khí. Đồng thời, công trình tập trung dự báo đới khe nứt tách khu vực cùng đới khe nứt sinh kèm đứt gãy trong móng Granitoid để tối ưu hóa quỹ đạo giếng khoan khai thác.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua việc chuẩn hóa các thông số địa chất kiến tạo, xác định cấu trúc nóc móng khép kín ở độ sâu 2250 m với đỉnh cấu tạo đạt 2124 mTVD, tạo độ cao cấu tạo 126 mTVD trên diện tích khép kín hơn 4,5 km². Kết quả này cung cấp cơ sở định lượng vững chắc giúp các nhà điều hành mỏ giảm thiểu rủi ro khi khoan mở vỉa, nâng cao hệ số thành công trong công tác thăm dò và khai thác dầu khí tại bể Cửu Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết kiến tạo mảng và mô hình tách giãn đáy đại dương do Robert Dietz và Harry Hess khởi xướng từ đầu thập niên 1960. Để mô hình hóa trường biến dạng cục bộ, tác giả áp dụng lý thuyết khôi phục trường ứng suất kiến tạo của Gzovxki, sử dụng các vector ứng suất chính gồm ứng suất nén ép cực đại, ứng suất trung gian và ứng suất kéo giãn để phân tích các pha biến dạng nghịch, thuận và trượt bằng.

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết đánh giá khả năng dẫn truyền và chắn của đứt gãy theo mô hình tính toán tỷ phần sét của Yielding năm 1997 và mối quan hệ giữa độ dịch chuyển với bề dày đới dập vỡ của Manzzochi năm 1999 cùng Al-Busafi năm 2005. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: tầng chứa móng Granitoid nứt nẻ, đới khe nứt tách khu vực theo phương nén ép, đới khe nứt sinh kèm đứt gãy, tầng chắn sét Rotalia đồng nhất và các mặt bất chỉnh hợp địa tầng Kainozoi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu toàn diện gồm 23 đứt gãy chính phát triển từ tầng móng lên các tập trầm tích trên toàn bộ diện tích cấu tạo Bảo Bình rộng hơn 4,5 km². Mẫu dữ liệu thạch học và địa vật lý giếng khoan được thu thập từ 3 giếng khoan thăm dò trọng điểm là BB-1X, BB-2X và BB-3X, kết hợp dữ liệu đối sánh từ giếng khoan tham chiếu LY-1X lân cận.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng theo mạng lưới đo địa chấn phản xạ 3D bao phủ trọn vẹn cấu tạo, với các tuyến khảo sát Inline từ 2834 đến 3094, tuyến Crossline 2386, các tuyến bất kỳ Randomline AA', BB', CC', DD' cùng các lát cắt độ sâu ngang ở mức 2200 m và 2300 m. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải nắm bắt được tính dị hướng không gian của mạng lưới đứt gãy ngầm dưới sâu mà các phương pháp khảo sát 2D truyền thống không thể thể hiện đầy đủ.

Quy trình phân tích tích hợp phương pháp minh giải địa chấn cấu trúc, phân tích tương quan địa tầng, đối sánh biến thiên bề dày hai bên cánh đứt gãy và đo đạc cự ly dịch chuyển thẳng đứng. Hướng và mật độ khe nứt được xử lý qua ảnh điện trở vi vỉa FMI, biểu diễn trực quan trên biểu đồ hoa hồng để định lượng hóa trường ứng suất. Toàn bộ quá trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ từ tháng 07/2016 đến tháng 02/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích hình thái và động học đã phân loại rõ 23 đứt gãy chính tại cấu tạo Bảo Bình thành hai hệ thống rõ rệt. Hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam bao gồm các đứt gãy từ F1 đến F17, phát triển chủ yếu dưới dạng đứt gãy thuận đồng trầm tích trong pha tách giãn Eocen - Oligocen sớm và tái hoạt động nghịch trong pha nén ép giữa Oligocen. Trong đó, đứt gãy F1 và F13 đóng vai trò ranh giới kiến tạo nâng khối trung tâm. Hệ thống thứ hai mang phương Á Vĩ Tuyến và Tây Bắc - Đông Nam từ F18 đến F23, chủ yếu là các đứt gãy trượt bằng hoạt động sau trầm tích thuộc pha nén ép cuối Oligocen.

Cấu trúc hình thái các tầng địa chấn phản ánh sự suy giảm dần cường độ phân cắt từ sâu lên nông. Nóc móng khép kín ở độ sâu 2250 m với diện tích hơn 4,5 km², nóc tập địa chấn E khép kín tại 2130 m với đỉnh 2060 mTVD và độ cao cấu tạo 70 mTVD. Lên đến tập địa chấn D, diện tích khép kín thu hẹp còn khoảng 1,5 km² tại độ sâu 1990 mTVD với đỉnh 1943 mTVD và độ cao cấu tạo 47 mTVD. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện sự vắng mặt hoàn toàn của tập địa chấn C thuộc phần trên hệ tầng Trà Tân tại cấu tạo Bảo Bình do bị bóc mòn bởi pha nén ép kiến tạo mạnh.

Về hệ thống dầu khí, tầng sinh Oligocen muộn đạt chất lượng rất tốt với chỉ số hàm lượng vật chất hữu cơ tổng số dao động từ 3,5% đến 12%, tiềm năng sinh dầu S1 và S2 rất cao từ 4 đến 21 kg HC/tấn đá. Tầng chắn khu vực là tập sét Rotalia thuộc hệ tầng Bạch Hổ có bề dày dao động từ 30 m đến 150 m với tỷ lệ sét chiếm 90% đến 95%, hầu như không bị đứt gãy xuyên cắt, đảm bảo khả năng giữ bẫy hoàn hảo.

Thảo luận kết quả

Quá trình tiến hóa kiến tạo cấu tạo Bảo Bình gắn liền với chuỗi biến dạng từ pha tách giãn ban đầu đến các pha nén ép chu kỳ. Đá móng Granitoid gồm monzogranite và granodiorite thuộc phức hệ Định Quán - Đèo Cả trải qua các đợt nén ép phương Tây Bắc - Đông Nam đã hình thành hai loại khe nứt chính: đới khe nứt tách khu vực có phương Tây Bắc - Đông Nam cắm dốc đứng và đới khe nứt sinh kèm đứt gãy chạy dọc theo cánh các đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam.

Để làm sáng tỏ tính bất đồng nhất của tầng chứa, toàn bộ dữ liệu khe nứt từ ảnh FMI tại 3 giếng khoan BB-1X, BB-2X và BB-3X được tổng hợp chi tiết qua biểu đồ hoa hồng phương vị và bảng thống kê 23 đứt gãy chính. Các bảng số liệu thể hiện rõ góc dốc đứt gãy dao động từ 60° đến 85°, cự ly dịch chuyển thẳng đứng từ 20 m đến hơn 150 m. Khi đối chiếu với bản đồ đẳng dày từ nóc tập D đến nóc móng, các khu vực có mật độ đứt gãy dày đặc tương ứng với các đới dập vỡ có độ thấm thứ sinh cao. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các mô hình móng nứt nẻ tại mỏ Bạch Hổ và Rạng Đông lân cận, đồng thời giải thích rõ ràng cơ chế nạp dầu từ các địa hào trũng sâu vào khối nhô móng thông qua các kênh dẫn đứt gãy mở.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết luận khoa học về trường ứng suất và hình thái đứt gãy, tác giả đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể:

Thứ nhất, tối ưu hóa thiết kế và thi công quỹ đạo giếng khoan khai thác tầng móng. Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí cùng các nhà điều hành Lô 02/97 cần điều chỉnh quỹ đạo giếng khoan theo hướng xiên từ 35° đến 60°, chuyển hướng theo phương Tây Bắc - Đông Nam để cắt vuông góc với hệ thống khe nứt sinh kèm đứt gãy ĐB-TN và khe nứt tách khu vực ở độ sâu 2200 m đến 2300 m. Mục tiêu nâng tỷ lệ bắt gặp đới nứt nẻ hữu hiệu lên hơn 40%, đạt lưu lượng khai thác kỳ vọng từ 2.000 đến 3.500 thùng dầu/ngày trong giai đoạn 2017 - 2019.

Thứ hai, áp dụng công nghệ nứt vỉa thủy lực và rửa vỉa bằng axit chọn lọc. Đội ngũ kỹ sư công nghệ mỏ cần tiến hành xử lý vùng cận đáy giếng trong đá móng Granitoid ngay sau khi hoàn thiện giếng. Mục tiêu nâng hệ số thấm biểu kiến lên 150% đến 200% và duy trì áp suất đáy giếng ổn định trên 180 atm trong 6 tháng đầu khai thác.

Thứ ba, xây dựng mô hình số hóa mạng lưới khe nứt tự nhiên 3D. Nhóm địa chất và địa vật lý mỏ cần tích hợp tài liệu địa chấn 3D độ phân giải cao và số liệu log FMI để mô phỏng chính xác tính liên thông thủy lực ngầm. Mục tiêu giảm sai số dự báo cấu trúc xuống dưới 5%, làm căn cứ chuẩn xác để định vị tối thiểu 2 giếng khoan thẩm lượng tiếp theo trong vòng 6 tháng.

Thứ tư, thiết lập hệ thống quan trắc động thái áp suất và lưu lượng khai thác tự động. Đơn vị vận hành khai thác cần lắp đặt cảm biến áp suất đáy giếng liên tục nhằm theo dõi sát tốc độ suy giảm áp suất vỉa. Mục tiêu khống chế tốc độ suy giảm sản lượng hàng năm dưới 8% và nâng hệ số thu hồi dầu toàn mỏ đạt từ 25% đến 30% trong suốt vòng đời dự án kéo dài 10 đến 15 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất là các kỹ sư địa chất và địa vật lý dầu khí tại các đơn vị dầu khí. Luận văn cung cấp quy trình chuẩn mực về minh giải tài liệu địa chấn 3D, phân loại pha hoạt động đứt gãy và khôi phục trường ứng suất, giúp áp dụng trực tiếp vào việc đánh giá các cấu tạo tương đồng tại bể Cửu Long như Lô 15-1, Lô 09-1 và Lô 16-2.

Nhóm thứ hai là các kỹ sư khoan và hoàn thiện giếng. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu chính xác về độ sâu nóc móng, góc dốc đứt gãy và vùng dập vỡ kiến tạo, giúp kỹ sư khoan tính toán quỹ đạo giếng xiên tối ưu, phòng ngừa hiệu quả các sự cố kẹt cần khoan, mất dung dịch khoan và sập lở thành giếng.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kỹ thuật Dầu khí và Địa chất Công trình. Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp luận nghiên cứu đứt gãy đồng trầm tích, tiến hóa bồn trũng Kainozoi và đặc tính thạch học phức hệ móng Granitoid.

Nhóm thứ tư là các nhà quản lý dự án và chuyên gia đánh giá trữ lượng tại các tập đoàn năng lượng. Số liệu định lượng về thể tích bẫy chứa, diện tích khép kín và chất lượng tầng sinh - chắn giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đầu tư chính xác cho các chiến dịch khoan phát triển mỏ, tiết kiệm hàng triệu USD chi phí thăm dò rủi ro.

Câu hỏi thường gặp

Tầng móng Granitoid tại cấu tạo Bảo Bình có những đặc tính nổi bật nào giúp tích tụ lượng lớn dầu khí? Đá móng Bảo Bình chủ yếu là monzogranite và granodiorite bị dập vỡ mạnh mẽ qua các pha kiến tạo từ Jura đến Kainozoi. Quá trình biến dạng tạo nên mạng lưới khe nứt thứ sinh phong phú với độ rỗng biến thiên từ 0% đến trên 10%. Nhờ độ liên thông khe nứt cực tốt và cấu trúc nhô cao áp sát tầng đá mẹ Oligocen giàu hữu cơ, dầu khí đã di cư thuận lợi vào móng và tạo thành các vỉa chứa công nghiệp lớn.

Các đứt gãy F1 và F13 đóng vai trò then chốt như thế nào trong việc kiểm soát cấu trúc mỏ? Đứt gãy F1 và F13 là hai đứt gãy thuận phương Đông Bắc - Tây Nam có cự ly dịch chuyển thẳng đứng lớn từ vài chục mét đến hơn 100 m. Hai đứt gãy này trực tiếp kiểm soát sự hình thành khối nâng trung tâm nóc móng với đỉnh đạt 2124 mTVD và độ cao khép kín 126 mTVD. Đồng thời, chúng đóng vai trò là các kênh dẫn thủy lực chính đưa dầu khí từ các trũng sâu lân cận nạp thẳng vào bẫy cấu tạo.

Vì sao lại có sự vắng mặt của tập địa chấn C trong địa tầng cấu tạo Bảo Bình? Sự thiếu hụt tập địa chấn C thuộc phần trên hệ tầng Trà Tân là hệ quả trực tiếp của pha nén ép kiến tạo mạnh mẽ phương Tây Bắc - Đông Nam vào cuối Oligocen. Pha biến dạng này đã nâng cao cục bộ cấu tạo Bảo Bình, gây ra hiện tượng bóc mòn và bào mòn toàn bộ lớp trầm tích tập C trước khi chu kỳ lắng đọng tập BI.1 Miocen sớm diễn ra, tạo nên mặt bất chỉnh hợp góc rõ nét trong địa tầng.

Tầng chắn nào giữ vai trò quyết định trong việc bảo vệ bẫy dầu khí Bảo Bình không bị phá hủy? Tầng sét Rotalia thuộc hệ tầng Bạch Hổ ở tập địa chấn BI.2 là tầng chắn khu vực quan trọng nhất. Với bề dày liên tục từ 30 m đến 150 m cùng hàm lượng khoáng vật sét mịn chiếm từ 90% đến 95%, tầng sét này phân bố rộng khắp và hầu như không bị các đứt gãy trẻ xuyên cắt, tạo nên màn chắn thủy lực hoàn hảo ngăn chặn dầu khí thoát lên các tầng nông.

Quỹ đạo giếng khoan nào được đánh giá là tối ưu nhất để khai thác hiệu quả tầng móng nứt nẻ tại đây? Quỹ đạo tối ưu là giếng khoan xiên định hướng có góc nghiêng từ 35° đến 60° theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ở khoảng độ sâu 2200 m đến 2300 m. Thiết kế này giúp thân giếng đi vuông góc và cắt qua số lượng tối đa các khe nứt tách khu vực cùng các đới khe nứt sinh kèm đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam, từ đó tối đa hóa diện tích tiếp xúc vỉa và gia tăng lưu lượng dòng dầu.

Kết luận

  • Xác lập chi tiết đặc điểm hình thái, cơ chế động học và phân loại thành công 23 đứt gãy chính chia cắt tầng móng và lớp phủ trầm tích tại cấu tạo Bảo Bình thuộc Lô 02/97 bể Cửu Long.
  • Làm sáng tỏ các pha biến dạng kiến tạo then chốt từ Eocen đến hiện đại, chỉ ra pha nén ép cuối Oligocen là nguyên nhân gây bào mòn hoàn toàn tập địa chấn C và tạo nên bất chỉnh hợp địa tầng lớn.
  • Đánh giá toàn diện hệ thống dầu khí với tầng sinh Oligocen muộn giàu hữu cơ có chỉ số TOC lên tới 12% và tầng chắn sét Rotalia dày tới 150 m đảm bảo khả năng lưu giữ hoàn hảo.
  • Dự báo chính xác đới khe nứt tách khu vực phương Tây Bắc - Đông Nam và đới khe nứt sinh kèm đứt gãy trong khối móng Granitoid ở khoảng độ sâu 2200 m đến 2300 m.
  • Đề xuất giải pháp quỹ đạo giếng khoan xiên định hướng góc 35° đến 60° giúp nâng cao hơn 40% khả năng bắt gặp đới nứt nẻ hữu hiệu phục vụ công tác phát triển mỏ.

Nghiên cứu là công trình khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đóng góp trực tiếp vào chiến lược thăm dò và khai thác dầu khí tầng móng bể Cửu Long trong giai đoạn 2017 - 2025 và những năm tiếp theo. Các tổ chức, nhà khoa học và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác các luận cứ khoa học trong công trình này để áp dụng vào các dự án thẩm lượng và phát triển mỏ thực tế nhằm tối ưu hóa chi phí và gia tăng hiệu quả kinh tế.