Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ địa chất với đề tài "Các thành tạo trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long và mối liên quan của chúng với đặc điểm chứa - chắn dầu khí" do nghiên cứu sinh Trần Văn Nhuận thực hiện tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội (năm 2013), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Văn Nhuận và TS. Vũ Trụ. Luận án thuộc chuyên ngành Khoáng vật học và Địa hóa học, mã số 62440205.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu và phân loại đá cát kết, bột kết là nhiệm vụ trọng tâm trong trầm tích luận và nghiên cứu đá trầm tích vụn. Thạch học đá trầm tích khảo sát toàn diện thành phần vật chất, kiến trúc, cấu tạo, quy luật phân bố và nguyên nhân thành tạo đá cũng như khoáng sản liên quan, nhằm xác định chính xác nguồn gốc phân bố và đóng góp vào công tác tìm kiếm khoáng sản có ích.

Các đá trầm tích hình thành trong các điều kiện môi trường khác nhau và chịu tác động của các quá trình biến đổi thứ sinh không đồng nhất, dẫn đến đặc tính thấm, chứa khác biệt. Trong công tác thăm dò và khai thác dầu khí tại bể Cửu Long, việc nghiên cứu chi tiết thành phần vật chất, đặc điểm đá chứa, đá chắn và mức độ biến đổi thứ sinh (từ giai đoạn hậu sinh - katagene đến biến sinh - metagene) là đòi hỏi cấp bách. Các quá trình biến đổi thứ sinh làm suy giảm đáng kể độ rỗng nguyên sinh giữa các hạt vụn, đồng thời tạo ra một lượng lỗ rỗng thứ sinh dạng hang hốc hoặc khe nứt do nén ép, hòa tan và nứt nẻ. Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là xác lập chi tiết mối quan hệ giữa đặc điểm thạch học - khoáng vật, mức độ biến đổi thứ sinh và sự phát triển của các khoáng vật sét tự sinh với tính chất chứa - chắn của trầm tích Mioxen tại khu vực phần Tây bể Cửu Long.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các đặc điểm trầm tích, đá chứa, đá chắn, mức độ biến đổi thứ sinh, các yếu tố ảnh hưởng đến độ rỗng, độ thấm và xác định nguồn cung cấp vật liệu trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Thu thập, tổng hợp có chọn lọc các nguồn tài liệu địa chất, địa vật lý đã có trong vùng nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu thành phần trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long bằng tổ hợp các phương pháp: địa chất - địa vật lý, thạch học lát mỏng, nhiễu xạ tia X (XRD), hiển vi điện tử quét (SEM), phân tích phổ năng lượng tán xạ tia X (EDS) và phân tích thạch học nguồn gốc.
  3. Nghiên cứu đặc điểm đá chứa, đá chắn và mức độ biến đổi thứ sinh của trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long.
  4. Nghiên cứu, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến độ rỗng và độ thấm của trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long.
  5. Phân tích và xác định nguồn cung cấp vật liệu trầm tích cho các thành tạo Mioxen tại khu vực nghiên cứu.

Về nội dung nghiên cứu, tác giả thực hiện 4 nhóm nội dung:

  • Tổng hợp phương pháp nghiên cứu, nguyên lý cơ bản và ứng dụng xác định đặc điểm thành phần vật chất trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long.
  • Nghiên cứu, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến độ rỗng và độ thấm.
  • Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các quá trình biến đổi thứ sinh đối với đá chứa và đá chắn.
  • Phân tích, xác định nguồn cung cấp vật liệu trầm tích.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các thành tạo trầm tích vụn tuổi Mioxen, tập trung vào đá cát kết, bột kết, sét kết cùng các khoáng vật tự sinh và không gian rỗng trong đá.
  • Phạm vi không gian: Phần Tây bể trầm tích Cửu Long (thuộc thềm lục địa phía Nam Việt Nam, trải dài dọc bờ biển Vũng Tàu - Bình Thuận, bao gồm các lô hợp đồng dầu khí như lô 09, 15, 16, 17 và một phần các lô 01, 02, 25).
  • Phạm vi thời gian địa chất: Giai đoạn Mioxen (bao gồm Mioxen dưới, Mioxen giữa và Mioxen trên) thuộc kỷ Neogen, kỷ nguyên Kainozoi.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu và các công trình trước đây

Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí tại bể Cửu Long gắn liền với lịch sử điều tra thềm lục địa Nam Việt Nam, được luận án phân chia thành các mốc lịch sử cụ thể:

  • Giai đoạn trước năm 1975:

    • Năm 1967: Khảo sát từ hàng không do US Navy Oceanographic thực hiện trên phần lớn lãnh thổ và thềm lục địa.
    • Năm 1969: Tàu N. Robray I của Ray Geophysical Mandrel khảo sát 3.482 km tuyến địa vật lý biển; US Navy Oceanographic đo 20.000 km tuyến địa chấn bằng hai tàu R/V E.V Hunt cắt qua bể Cửu Long.
    • Năm 1970: Ray Geophysical Mandrel đo đợt hai với 8.639 km tuyến địa vật lý mạng lưới 30x50 km.
    • Năm 1973 - 1974: Tiến hành đấu thầu trên 11 lô thềm lục địa, trong đó bể Cửu Long có các lô 09, 15 và 16.
    • Cuối năm 1974 - đầu năm 1975: Công ty Mobil trúng thầu lô 09, khảo sát 3.500 km địa chấn phản xạ và từ trọng lực, sau đó khoan giếng tìm kiếm BH-1X trên vòm mỏ Bạch Hổ. Thử vỉa đoạn cát kết Mioxen dưới ở chiều sâu 2.755 - 2.819 m cho dòng dầu công nghiệp đạt 342 $\text{m}^3/\text{ngày}$ (khoảng 2.400 thùng/ngày), khẳng định tiềm năng dầu khí của bể.
  • Giai đoạn 1975 - 2010:

    • Năm 1976: Công ty CGG (Pháp) khảo sát 1.210,9 km địa chấn dọc sông và ven biển Vũng Tàu - Côn Sơn, xác định mặt cắt trầm tích Đệ Tam dày.
    • Năm 1978: Công ty Geco (Na Uy) nổ địa chấn 2D (11.898,5 km) trên các lô 09, 10, 16, 19, 20, 21 và đo chi tiết mỏ Bạch Hổ mạng lưới 2x2 km và 1x1 km. Deminex khảo sát 3.221,7 km trên lô 15 và cấu tạo Cửu Long (Rạng Đông), sau đó khoan 4 giếng (Trà Tân, Sông Ba, Cửu Long, Đồng Nai) gặp biểu hiện dầu khí trong Mioxen dưới và Oligoxen.
    • Năm 1980: Tàu POISK khảo sát 4.057 km địa chấn điểm sâu chung và 3.250 km tuyến trọng lực, phân chia các tập địa chấn B, C, D, E, F.
    • Năm 1981: Tàu Iskatel đo 2.500 km địa chấn MOB-ORT-48, trọng lực, từ tại lô 09, 15, 16.
    • Năm 1983 - 1984: Tàu Viện sĩ Gamburxev đo 4.000 km địa chấn vùng sâu. Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro khoan 4 giếng tại Bạch Hổ, Rồng, Tam Đảo, đều phát hiện vỉa dầu trong cát kết Mioxen dưới và Oligoxen.
    • Năm 1986: Bắt đầu khai thác dầu từ cát kết Mioxen và Oligoxen dưới mỏ Bạch Hổ. Tháng 9/1988 phát hiện dầu trong móng granit nứt nẻ.
    • Giai đoạn sau 1988: Mở rộng hợp đồng phân chia sản phẩm với các công ty quốc tế (CGG, Geco-Prakla, Western Geophysical, PGS). Khối lượng khảo sát 2D đạt 21.408 $\text{km}^2$, 3D đạt 7.500 $\text{km}^2$ áp dụng công nghệ xử lý PSTM, PSDM. Đến năm 2003, hơn 300 giếng khoan đã được thi công (Vietsovpetro chiếm 70%), phát hiện các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Hồng Ngọc, Topaz North, Diamond, Pearl, Emerald, Cá Ngừ Vàng, Voi Trắng... Đến năm 2010 khoan thêm các cấu tạo Kình Ngư Trắng, Lạc Đà Vàng, Dương Đông, Dơi Nâu, Hà Mã Xám.
    • Các công trình chuyên sâu về magma và thạch học: Ngô Xuân Vinh (2003) nghiên cứu hoạt động magma phun trào trong hệ tầng Trà Tân tại giếng Bà Đen (12 thể, dày 394 m), lô 01 (6 tập, dày 416 m) và lô 17 (chiều sâu 2.160 m, dày 144 m với độ rỗng 12 - 27%); Rlimetz (1989) nghiên cứu các khối granit xâm nhập phương Đông Bắc - Tây Nam liên quan va chạm mảng Borneo và Á - Âu; Dickinson & Suczker (1979) về phương pháp thạch học nguồn gốc; Rukhin E. (1953) về các giai đoạn biến đổi trầm tích.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù bể Cửu Long đã được thăm dò quy mô lớn, trọng tâm trước đây chủ yếu tập trung vào đối tượng dầu trong móng nứt nẻ và các phức hệ Oligoxen. Luận án lựa chọn đi sâu vào trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long nhằm giải quyết khoảng trống về:

  • Phân loại chi tiết thạch học khoáng vật của cát kết Mioxen theo các tiêu chuẩn quốc tế hiện đại.
  • Định lượng thành phần khoáng vật sét tự sinh (smectit, illit, clorit, kaolinit, hỗn hợp lớp illit/smectit) trong nền xi măng bằng phương pháp vật lý - hóa học hiện đại (XRD, SEM, EDS).
  • Đánh giá có hệ thống mức độ biến đổi thứ sinh (giai đoạn hậu sinh) và mối liên hệ nhân quả của chúng tới sự suy giảm độ rỗng, độ thấm và cơ chế chắn - chứa hydrocarbon.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

1. Các giai đoạn biến đổi đá trầm tích

Luận án áp dụng khung lý thuyết phân chia các giai đoạn biến đổi đá trầm tích sau lắng đọng:

  • Giai đoạn hậu sinh (Katagenes): Xảy ra ở độ sâu chôn vùi từ vài trăm mét đến hàng ngàn mét dưới tác động của nhiệt độ (gradient địa nhiệt), áp suất thủy tĩnh và áp suất định hướng, cùng sự tham gia của dung dịch lỗ hổng. Tác dụng chính gồm nén ép (nén chặt), tái kết tinh, trao đổi thay thế và thành tạo khoáng vật mới:
    • Thời kỳ hậu sinh sớm: Khoáng vật nguyên thủy (pyroxen, amphibol, biotit, felspat, muscovit) bị clorit hóa, hydromica hóa, kaolinit hóa nhẹ; vật liệu núi lửa bị zeolit hóa nhẹ (geilandit, analcim); kaolinit chuyển thành hydromica nhiệt độ thấp (1M); độ rỗng cát kết giảm từ 40 - 30% xuống 15 - 10%; ranh giới tiếp xúc hạt chuyển từ điểm, thẳng sang cong và kết hợp; xi măng tái sinh xuất hiện với hệ số biến đổi thứ sinh $I = 0{,}25 - 0{,}50$; than nâu chuyển thành than lửa dài.
    • Thời kỳ hậu sinh muộn: Khoáng vật nguyên thủy biến đổi mạnh hơn, hydromica 1M chuyển thành hydromica 2M1, khoáng vật sét bị sericit hóa khoảng 50% và định hướng; độ rỗng cát kết giảm xuống 10 - 4%; tiếp xúc hạt dạng kết hợp thể hiện ba quá trình hòa tan - nén ép - tái kết tinh đồng thời, $I = 0{,}50 - 0{,}75$; than đạt cấp than mỡ, than cốc, than gầy.
  • Giai đoạn biến sinh (Metagenes): Xảy ra khi đá chôn vùi sâu, nhiệt độ và áp suất tăng cao:
    • Thời kỳ biến sinh sớm: Ở độ sâu 5.000 - 8.000 m, nhiệt độ 200 - 300°C, áp suất $>2.000\text{ at}$. Hạt vụn thạch anh bị gặm mòn kiểu eo vịnh, tái kết tinh định hướng; felspat bị hòa tan, albit hóa, sericit hóa, calcit hóa; biotit bị sericit hóa, clorit hóa hoàn toàn; xuất hiện tổ hợp khoáng vật mới (thạch anh + sericit + calcit, calcit + sericit + clorit, albit + epidot + sericit, pumpelit + stinomelan + clorit); độ rỗng giảm còn 5 - 2%.
    • Thời kỳ biến sinh muộn: Ở độ sâu $>8.000\text{ m}$, nhiệt độ $>300^\circ\text{C}$, áp suất $>3.000\text{ at}$. Hạt vụn giữ dạng nguyên thủy $<20%$; thạch anh mọc "râu"; xuất hiện tổ hợp sericit + muscovit + clorit Mg-Fe, albit + stinomelan + clorit + epidot; đá sét chuyển thành đá phiến dạng phillit; than biến thành antracit và graphit hóa; $I \approx 1$.

2. Thành phần và phân loại đá trầm tích

Luận án phân loại đá dựa trên nguồn gốc và phương thức lắng đọng:

  • Nhóm 1: Trầm tích vụn cơ học (phong hóa vật lý, lắng đọng cơ học).
  • Nhóm 2: Trầm tích sét (phong hóa hóa học tạo khoáng vật mới, lắng đọng cơ học).
  • Nhóm 3: Trầm tích hóa học và sinh hóa (phong hóa hóa học, lắng đọng từ dung dịch thật hoặc keo tụ có sự tham gia của sinh vật).

Về thành phần hóa học, luận án sử dụng bảng đối sánh thành phần hóa học trung bình giữa đá magma và đá trầm tích theo số liệu của Clack:

Oxit thành phần Hàm lượng trong đá magma (%) Hàm lượng trong đá trầm tích (%)
$\text{SiO}_2$ 59,12 55,64
$\text{TiO}_2$ 1,05 0,69
$\text{Al}_2\text{O}_3$ 15,34 14,44
$\text{Fe}_2\text{O}_3$ 3,08 8,86
$\text{FeO}$ 3,80 1,27
$\text{MnO}$ 3,12 2,12
$\text{MgO}$ 3,49 2,93
$\text{CaO}$ 5,08 4,69
$\text{Na}_2\text{O}$ 3,82 1,21
$\text{K}_2\text{O}$ 3,13 2,87
$\text{P}_2\text{O}_5$ 0,50 0,17
$\text{H}_2\text{O}$ 1,15 5,54
$\text{CO}_2$ 0,10 3,86
$\text{S}$ 0,05 0,32

Sự khác biệt thể hiện ở chỗ: $\text{Fe}_2\text{O}_3$ trong đá trầm tích cao hơn 2 lần do môi trường oxy hóa; $\text{Na}_2\text{O}$ thấp hơn do Na hòa tan vào nước biển trong khi K bị khoáng vật sét hấp phụ; các thành phần $\text{H}_2\text{O}, \text{CO}_2, \text{S}$ cao hơn do môi trường lắng đọng giàu nước và sinh vật.

Nguyên tắc đặt tên đá: Ưu tiên thành phần tạo đá chính ($>10%$), thành phần phụ ($<10%$) ghép nối bằng từ "chứa" (ví dụ: sét chứa cát, cát kết thạch anh chứa glauconit). Phân loại thạch học nguồn gốc áp dụng biểu đồ tam giác Dickinson & Suczker (1979) dựa trên tỷ lệ thạch anh đơn tinh thể (Qm), thạch anh đa tinh thể (Qp), tổng thạch anh (Q), felspat (F), plagiocla (P), mảnh đá (L/R), mảnh đá trầm tích (Ls) và mảnh đá núi lửa (Lv).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu thực tế

Tác giả đã triển khai tổ hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành trên khối lượng mẫu thực tế từ 03 giếng khoan thăm dò (Giếng khoan A, Giếng khoan B, Giếng khoan C) tại phần Tây bể Cửu Long, bao gồm mẫu lõi, mẫu sườn và mẫu vụn:

Phương pháp nghiên cứu / phân tích Ký hiệu / Quy chuẩn Số lượng mẫu thực hiện
Phân tích thạch học lát mỏng Thin sections 60 mẫu
Phân tích hiển vi điện tử quét SEM 45 mẫu
Phân tích nhiễu xạ tia X XRD 30 mẫu
Phân tích thạch học nguồn gốc Dickinson & Suczker (1979) 28 mẫu
Phân tích phổ năng lượng tán xạ tia X EDS 20 mẫu
Tổng số phân tích chuyên sâu trên các giếng khoan Từ 3 giếng khoan A, B, C 183 lượt mẫu

Bên cạnh các phân tích phòng thí nghiệm, luận án sử dụng phương pháp địa vật lý giếng khoan (ĐVLGK), minh giải tài liệu địa chấn địa tầng (các tuyến địa chấn hướng Đông Bắc - Tây Nam và Tây Bắc - Đông Nam), thạch địa tầng và sinh địa tầng để đối sánh liên giếng và xác định các ranh giới tập trầm tích.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan bể Cửu Long và vùng nghiên cứu

Chương 1 trình bày khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử tìm kiếm thăm dò và bối cảnh địa chất khu vực bể Cửu Long:

  • Vị trí và địa lý: Bể Cửu Long có diện tích khoảng 36.000 $\text{km}^2$, dạng hình bầu dục kéo dài theo phương Đông Bắc - Tây Nam, tiếp giáp đất liền về phía Tây Bắc, ngăn cách với bể Nam Côn Sơn qua đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam là đới nâng Khorat - Natuna, phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh. Bể lấp đầy bởi trầm tích Đệ Tam dày cực đại tới 8 km tại trung tâm. Khí hậu xích đạo chia 2 mùa (mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9; nhiệt độ mặt nước $27 - 30^\circ\text{C}$; chế độ gió mùa Đông Bắc và Tây Nam; sóng cực đại đạt 8 m tại mỏ Bạch Hổ).
  • Khung cảnh kiến tạo: Bể chịu sự chi phối của 3 hệ thống đứt gãy chính: Đông Bắc - Tây Nam (tách dãn Biển Đông từ Oligoxen đến Mioxen giữa), Tây Bắc - Đông Nam và Đông - Tây. Bể chia làm hai phụ bể: Phụ bể Đông Bạch Hổ và Phụ bể Tây Bạch Hổ (Trũng Trung Tâm Đông và Trũng Trung Tâm Tây), ngăn cách bởi đới nâng Trung Tâm Rồng - Bạch Hổ - Rạng Đông. Tiến hóa kiến tạo gồm 2 pha:
    • Pha tách dãn Paleogen (Eoxen - Oligoxen): Hình thành các địa hào, bán địa hào lấp đầy trầm tích sông ngòi, đầm hồ chứa vật chất hữu cơ (đá mẹ). Nghịch đảo kiến tạo và bào mòn xảy ra cuối Oligoxen.
    • Pha lún chìm nhiệt sau tách dãn (Mioxen dưới - Mioxen giữa): Ngừng vận động nâng, phát triển trầm tích hồ, biển nông và châu thổ lòng sông hình nêm phát triển về phía Đông Bắc. Giai đoạn Mioxen trên - Plioxen đặc trưng bởi quá trình oằn võng muộn tích tụ trầm tích biển.
  • Lát cắt địa tầng:
    • Móng trước Đệ Tam: Granit Creta giữa (phức hệ Cà Ná), magma Jura (phức hệ Định Quán), magma Trias (phức hệ Hòn Khoai) bị xuyên cắt bởi đai mạch bazơ.
    • Oligoxen dưới (Hệ tầng Trà Cú, tập F/E1): Trầm tích lòng sông, bãi bồi, là tầng chứa dầu ở Bạch Hổ, Sư Tử Trắng.
    • Oligoxen trên (Hệ tầng Trà Tân): Chia 3 phụ hệ tầng: Trà Tân dưới (tập E - cát kết ven bờ xen sét hồ); Trà Tân giữa (tập D - sét hồ chiếm ưu thế, tỷ lệ cát/sét $<40%$, là tầng đá sinh dầu chủ yếu); Trà Tân trên (tập C - cát, bột xen ít than, tỷ lệ cát/sét $>50%$).
    • Mioxen: Mioxen dưới (Hệ tầng Bạch Hổ) gồm cát, bột lòng sông, bãi bồi đỏ, nóc được phủ bởi tập sét biển Rotalia (tầng chắn khu vực); Mioxen giữa và trên (Hệ tầng Côn Sơn, Đồng Nai) phát triển trầm tích châu thổ lòng sông; nóc Mioxen trên có lớp sét đỏ nâu; phủ trên cùng là cát thềm Plioxen - Pleistoxen.
    • Hoạt động magma: Xuất hiện trong hệ tầng Trà Tân tại các giếng Bà Đen (12 thể dày 394 m), lô 01 (6 tập dày 416 m) và lô 17 (thể phun trào dày 144 m ở độ sâu 2.160 m có độ rỗng 12 - 27%, độ bão hòa nước $S_w = 54%$, độ thấm 2,7 - 3,2 mD).

Chương 2: Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

Chương 2 thiết lập cơ sở lý thuyết về thạch học trầm tích và mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm:

  • Trình bày bản chất hóa lý của quá trình biến đổi thứ sinh (hậu sinh - katagenes và biến sinh - metagenes), các chỉ tiêu định lượng về độ rỗng, loại tiếp xúc hạt (điểm, thẳng, cong, khâu kết hợp), hệ số biến đổi thứ sinh $I$, và sự chuyển đổi các khoáng vật sét theo độ sâu.
  • Phân tích đặc điểm thành phần vô cơ (khoáng vật tha sinh, tự sinh, núi lửa, vũ trụ), hữu cơ (sinh vật biển như Foraminifera, Radiolaria, Spongia, Coralla, Pelecypoda; thực vật Coccolit, Diatomae, mùn than) và hóa học của trầm tích.
  • Trình bày hệ thống nguyên tắc phân loại đá cát kết dựa trên tỷ lệ nền sét, thành phần hạt vụn và xi măng.
  • Mô tả quy chuẩn thực hiện các phương pháp: đo địa vật lý giếng khoan, phân tích lát mỏng thạch học xác định kiến trúc hạt, đo nhiễu xạ tia X (XRD) xác định định lượng pha khoáng vật tổng và khoáng vật sét, hiển vi điện tử quét (SEM) quan sát vi cấu trúc khe lỗ rỗng và tinh thể sét tự sinh, vi phân tích phổ tán xạ tia X (EDS) xác định thành phần hóa học vi điểm (như pyrit, calcit, clorit, kaolinit, illit/smectit), và phương pháp phân tích nguồn gốc Dickinson & Suczker (1979).

Chương 3: Đặc điểm trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long

Chương 3 tập trung phân tích kết quả thạch học khoáng vật và cấu trúc địa tầng khu vực nghiên cứu:

  • Đặc điểm thạch học và khoáng vật: Cát kết Mioxen phần Tây bể Cửu Long có thành phần hạt vụn chủ yếu là thạch anh (Qm, Qp), felspat (plagiocla, K-felspat) và mảnh đá (mảnh đá trầm tích Ls, mảnh đá núi lửa Lv). Phân loại mẫu lát mỏng xác định đá thuộc các kiểu Arkos, Arkos lithic và thứ yếu là Litharenit felspat. Hạt vụn có kích thước từ mịn đến thô, độ chọn lọc từ kém đến trung bình, hình dạng hạt từ nửa góc cạnh đến nửa tròn cạnh.
  • Nguồn gốc và môi trường thành tạo: Trầm tích được lắng đọng trong môi trường sông, hồ, ven biển và biển nông. Cấu tạo trầm tích trên mẫu lõi thể hiện rõ cấu tạo phân lớp xiên chéo, nhịp trầm tích mịn dần lên trên đặc trưng cho dòng chảy lòng sông/châu thổ, chuyển tiếp lên các lớp cát kết hạt mịn đồng nhất hoặc không đồng nhất xen kẽ sét bột ven biển/biển nông.
  • Nguồn cung cấp vật liệu: Kết quả xử lý 28 mẫu phân tích thạch học nguồn gốc theo biểu đồ Dickinson & Suczker (1979) chứng minh nguồn vật liệu vụn được bóc mòn và vận chuyển trực tiếp từ các khối lục địa nâng cao xung quanh rìa bể Cửu Long (khối nâng móng granit trước Đệ Tam và các đá magma lân cận).
  • Phân chia địa tầng: Luận án tích hợp tài liệu thạch địa tầng, cổ sinh địa tầng, địa chấn địa tầng trên các mặt cắt hướng TN - ĐB và TB - ĐN cùng kết quả đo địa vật lý giếng khoan tại 3 giếng khoan A, B, C; phân lập rõ ranh giới các tập Mioxen dưới (chứa tầng cát kết B1), Mioxen giữa và Mioxen trên.

Chương 4: Những yếu tố chính ảnh hưởng đến tính chứa, chắn trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long

Chương 4 làm sáng tỏ các nhân tố chi phối chất lượng vỉa chứa và tầng chắn:

  • Đặc điểm biến đổi thứ sinh và quá trình tạo đá: Cát kết Mioxen phần Tây bể Cửu Long chủ yếu nằm trong giai đoạn hậu sinh (katagenes). Hai quá trình biến đổi thứ sinh chủ đạo là nén ép cơ học và xi măng hóa. Quá trình hòa tan các khoáng vật vững bền diễn ra rất kém.
  • Sự phát triển khoáng vật sét tự sinh: Kết quả phân tích XRD, SEM và EDS tại các giếng khoan A, B, C xác định thành phần khoáng vật sét trong xi măng gồm: kaolinit, clorit, smectit và hỗn hợp lớp illit/smectit (I/S). Trong đó, smectit, clorit, kaolinit là các khoáng vật tự sinh nhiệt độ thấp kết tủa trực tiếp trong không gian rỗng; sự chuyển hóa từ smectit sang illit/smectit diễn ra ở mức độ yếu. Tán xạ tia X xác định sự có mặt của calcit và pyrit tự sinh lấp nhét kẽ hạt.
  • Quan hệ giữa đặc tính trầm tích, biến đổi thứ sinh và độ rỗng - độ thấm:
    • Độ rỗng và độ thấm có tương quan thuận rõ rệt với kích thước trung bình hạt ($Md$) và độ lựa chọn hạt vụn ($So$): đá có hạt thô hơn và độ chọn lọc tốt hơn thì độ rỗng, độ thấm cao hơn.
    • Quá trình nén ép làm giảm mạnh độ rỗng nguyên sinh ban đầu giữa các hạt.
    • Quá trình xi măng hóa và sự kết tủa của các khoáng vật sét tự sinh trong không gian kẽ hạt làm giảm nghiêm trọng độ thấm do bịt kín các cổ họng lỗ xốp.
  • Đánh giá khả năng chứa và chắn:
    • Khả năng chứa: Tầng cát kết B1 tuổi Mioxen dưới tại các giếng khoan A, B, C có tiềm năng chứa dầu khí nhưng chất lượng vỉa chứa biến đổi phức tạp tùy thuộc vào hàm lượng khoáng vật sét trương nở và mức độ nén ép cơ học.
    • Khả năng chắn: Tập sét biển Rotalia ở nóc Mioxen dưới và các tập sét kết Mioxen giữa - trên có bề dày lớn, phân bố liên tục trên toàn bể, đóng vai trò tầng chắn khu vực chất lượng cao.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận điểm bảo vệ của tác giả

Luận án bảo vệ thành công hai luận điểm khoa học cốt lõi:

  • Luận điểm 1: Đá chứa cát kết Mioxen phần Tây bể Cửu Long chủ yếu là Arkos, Arkos lithic và thứ yếu là Litharenit felspat. Chúng được thành tạo trong các môi trường sông, hồ, ven biển, biển nông có đặc điểm phân bố tương đối ổn định và với nguồn cung cấp vật liệu trầm tích từ các khối lục địa xung quanh bể.
  • Luận điểm 2: Các quá trình biến đổi sau trầm tích của đá chứa Mioxen phần Tây bể Cửu Long thuộc giai đoạn hậu sinh (katagenes), đó là quá trình xi măng hóa và nén ép. Đây là nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng chứa chắn dầu khí vì độ rỗng nguyên sinh ban đầu bị suy giảm, còn sự giảm độ thấm là hệ quả của sự giảm độ rỗng và sự có mặt của các khoáng vật sét kết tủa trong không gian rỗng của đá.

Đóng góp mới về mặt khoa học

  • Xác lập chi tiết thành phần thạch học, khoáng vật học và môi trường lắng đọng của các thành tạo trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long bằng tổ hợp phân tích hiện đại.
  • Chứng minh nguồn cung cấp vật liệu trầm tích Mioxen có nguồn gốc nội vùng từ các khối nâng lục địa bao quanh bể dựa trên thạch học nguồn gốc Dickinson & Suczker.
  • Làm rõ bản chất hóa lý của quá trình biến đổi thứ sinh trong giai đoạn hậu sinh, định danh chính xác các khoáng vật sét tự sinh nhiệt độ thấp (smectit, clorit, kaolinit, hỗn hợp lớp I/S) và cơ chế làm suy giảm chất lượng vỉa chứa.

Đóng góp mới về thực tiễn và kiến nghị

  • Cung cấp cơ sở khoa học để chính xác hóa mô hình địa chất vỉa chứa, dự báo phân bố không gian các tập cát kết chứa dầu tầng Mioxen (như tầng B1) tại phần Tây bể Cửu Long và định hướng công tác tìm kiếm thăm dò.
  • Đề xuất giải pháp công nghệ: trong quá trình khoan và khai thác qua các tầng cát kết Mioxen chứa khoáng vật sét trương nở (như smectit và illit/smectit), cần sử dụng hệ dung dịch khoan và phương pháp xử lý vỉa thích hợp nhằm ngăn ngừa hiện tượng trương nở sét gây tắc nghẽn vỉa chứa và suy giảm lưu lượng dòng chảy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình:
    • Dữ liệu phân tích định lượng tập trung vào 183 mẫu từ 03 giếng khoan thăm dò (A, B, C) tại khu vực phần Tây bể Cửu Long, chưa bao phủ toàn bộ diện tích mở rộng của toàn bể.
    • Do quá trình hòa tan thứ sinh của các khoáng vật vững bền diễn ra yếu, khả năng tạo độ rỗng thứ sinh không đáng kể, làm cho việc đánh giá độ rỗng chủ yếu phụ thuộc vào mức độ bảo tồn của độ rỗng nguyên sinh sau nén ép.
    • Số lượng mẫu phân tích phổ tán xạ tia X (EDS: 20 mẫu) và thạch học nguồn gốc (28 mẫu) ở mức độ vừa đủ để đại diện cho các tập trầm tích chính.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phân tích thạch học và khoáng vật sét tự sinh trên mạng lưới giếng khoan dày hơn tại các phụ bể lân cận (phụ bể Đông Bạch Hổ, đới nâng Trung Tâm).
    • Nghiên cứu mô hình hóa nhiệt động lực học và mô phỏng số quá trình tương tác đá - dung dịch trong giai đoạn hậu sinh để dự báo định lượng chất lượng vỉa chứa ở các chiều sâu lớn hơn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Khoáng vật học, Thạch học trầm tích, Địa chất dầu khí và Địa vật lý tại các trường đại học khối kỹ thuật - địa chất (như Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên).
  • Chuyên gia, kỹ sư địa chất dầu khí: Tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), Liên doanh Vietsovpetro (VSP) và các công ty liên doanh điều hành dầu khí đang hoạt động tại thềm lục địa Việt Nam.
  • Các phần đáng tham khảo nhất:
    • Quy trình tích hợp các phương pháp phân tích lát mỏng, XRD, SEM, EDS và thạch học nguồn gốc Dickinson & Suczker trong đánh giá đá chứa trầm tích vụn.
    • Các dữ liệu phân tích khoáng vật sét tự sinh và cơ chế ảnh hưởng của nén ép, xi măng hóa đến độ rỗng, độ thấm cát kết Mioxen.
    • Tổng quan lịch sử địa chất kiến tạo và phân chia địa tầng bể Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần thạch học của đá chứa cát kết Mioxen phần Tây bể Cửu Long gồm những loại nào?

Cát kết Mioxen phần Tây bể Cửu Long chủ yếu thuộc các kiểu Arkos, Arkos lithic, và thứ yếu là Litharenit felspat. Đá có kích thước hạt từ mịn đến thô, độ lựa chọn từ kém đến trung bình, hình dạng hạt vụn chủ yếu là nửa góc cạnh đến nửa tròn cạnh, lắng đọng trong môi trường sông, hồ, ven biển và biển nông.

2. Các quá trình biến đổi thứ sinh nào đóng vai trò chính làm suy giảm độ rỗng và độ thấm của đá chứa Mioxen?

Đá chứa Mioxen nằm trong giai đoạn hậu sinh (katagenes). Hai quá trình biến đổi thứ sinh chủ đạo là nén ép cơ học và xi măng hóa. Nén ép làm giảm độ rỗng nguyên sinh ban đầu; sự kết tủa của các khoáng vật sét tự sinh (smectit, clorit, kaolinit, illit/smectit) cùng xi măng cacbonat (calcit) trong không gian kẽ hạt làm thu hẹp và bít nghẽn cổ họng lỗ rỗng, trực tiếp làm giảm độ thấm của đá.

3. Những khoáng vật sét tự sinh nào được phát hiện trong đá cát kết Mioxen và cần lưu ý gì trong thi công khoan?

Phân tích XRD, SEM và EDS xác định sự có mặt của kaolinit, clorit, smectit và hỗn hợp lớp illit/smectit (I/S). Do smectit và illit/smectit là các khoáng vật sét trương nở, khi tiếp xúc với dung dịch khoan gốc nước không thích hợp, chúng sẽ trương nở và làm tắc nghẽn không gian rỗng, do đó cần lựa chọn dung dịch khoan chuyên dụng để bảo vệ vỉa chứa.

4. Cơ sở dữ liệu và khối lượng mẫu phân tích thực tế của luận án gồm những gì?

Luận án được xây dựng trên cơ sở phân tích 183 mẫu từ 03 giếng khoan (A, B, C), bao gồm: 60 mẫu phân tích thạch học lát mỏng, 30 mẫu phân tích nhiễu xạ tia X (XRD), 45 mẫu hiển vi điện tử quét (SEM), 20 mẫu phân tích phổ năng lượng tán xạ tia X (EDS) và 28 mẫu phân tích thạch học nguồn gốc Dickinson & Suczker.

5. Tầng chắn khu vực quan trọng nhất trong lát cắt Mioxen bể Cửu Long là gì?

Tầng chắn khu vực quan trọng nhất là tập sét biển Rotalia nằm ở nóc hệ tầng Bạch Hổ (Mioxen dưới). Tập sét này phân bố rộng khắp bể Cửu Long, đóng vai trò là tầng đánh dấu địa tầng và là tầng chắn nắp giữ dầu khí trong các phức hệ cát kết Mioxen dưới và Oligoxen.


Kết luận

Luận án của TS. Trần Văn Nhuận đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về đặc điểm trầm tích, khoáng vật học và mối liên quan của chúng với khả năng chứa - chắn dầu khí trong trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long. Bằng tổ hợp phương pháp thạch học hiện đại (lát mỏng, XRD, SEM, EDS, thạch học nguồn gốc), công trình xác lập cát kết Mioxen chủ yếu là Arkos, Arkos lithic thành tạo trong môi trường sông, hồ, ven biển từ nguồn vật liệu lục địa nội vùng. Luận án chứng minh quá trình nén ép và xi măng hóa cùng sự kết tủa của các khoáng vật sét tự sinh trong giai đoạn hậu sinh là nguyên nhân chính làm suy giảm độ rỗng, độ thấm của đá chứa. Kết quả nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn trực tiếp, phục vụ hiệu quả cho công tác tìm kiếm, thăm dò và tối ưu hóa quy trình khoan khai thác dầu khí tại bể trầm tích Cửu Long.