phần mở đầu, 04 chƣơng chính, kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và các công trình khoa học. Toàn bộ nội dung luận án đƣợc trình bày trong 132 trang A4, trong đó phần nội dung chính gồm 120 trang A4, 37 hình vẽ, 2 bản vẽ và 15 biểu bảng. Lời cảm ơn Luận án đƣợc hoàn thành tại Bộ môn Khoáng Thạch, Khoa Địa chất, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trƣờng Đại học Mỏ - Địa chất, dƣới sự hƣớng dẫn và giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ. Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, NCS nhận đƣợc sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị: Ban Giám hiệu Trƣờng Đại học Mỏ - Địa chất, Ban chủ nhiệm Khoa Địa chất, Phòng 8 Đào tạo Sau đại học, Phòng Khoa học Công nghệ, các Bộ môn Khoáng Thạch, Môi trƣờng Cơ sở, Địa chất Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), phòng Địa tầng Trầm tích, phòng Địa chất Dầu khí - Trung tâm Tìm kiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí (EPC), Phòng Quản lý Tài liệu Bắc - Trung tâm Lƣu trữ Dầu khí (PAC), Phòng Thạch học Trầm tích- Trung tâm phân tích thí nghiệm (VPI-LABS).
Bên cạnh đó là sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của PGS.TS Nguyễn Khắc Giảng, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, PGS. Đỗ Đình Toát, PGS. Lê Thanh Mẽ, PGS. Nguyễn Tất Trâm, PGS.
Nguyễn Văn Bình, PGS. Nguyễn Quang Luật, PGS. Nguyễn Trọng Tín, ThS. Phạm Thị Vân Anh.
Ngoài ra nghiên cứu sinh còn nhận đƣợc sự quan tâm, động viên, góp ý, giúp đỡ gián tiếp của nhiều nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp khác. Qua đây, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý giá của các cá nhân, cũng nhƣ các công ty, đơn vị… đã dành cho tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận án này. Một lần nữa tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến sự đóng góp quý báu đó. 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN BỂ CỬU LONG VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm địa lý tự nhiên 1. Vị trí địa lý Bể trầm tích Kainozoi Cửu Long nằm nằm chủ yếu trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long còn phần lớn nằm trên thềm lục địa Việt Nam. Bể có hình bầu dục, nằm dọc theo bờ biển Vũng Tàu - Bình Thuận. Bể Cửu Long đƣợc xem là bể trầm tích Kainozoi khép kín điển hình của Việt Nam [2] (Hình 1.
Khu vực nghiên cứu Hình 1. Sơ đồ khu vực bể Cửu Long và vùng nghiên cứu 10 Tuy nhiên, nếu tính theo đƣờng đẳng dày trầm tích 1000m thì bể có xu hƣớng mở về phía Đông Bắc, phía Biển Đông hiện tại. Bể Cửu Long tiếp giáp với đất liền về phía Tây Bắc, ngăn cách với bể Nam Côn Sơn và đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam là đới nâng Khorat - Natuna và phía Đông Bắc là đới cắt trƣợt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh. Bể có diện tích khoảng 36.000km2, bao gồm các lô: 09, 15, 16, 17 và một phần của các lô: 01, 02, 25.
Bể đƣợc bồi lấp chủ yếu bởi trầm tích lục nguyên Đệ Tam, chiều dày lớn nhất tại trung tâm bể có thể đạt tới 8km. Điều kiện tự nhiên Vùng nghiên cứu có khí hậu đặc trƣng cho vùng xích đạo đƣợc chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) và mùa mƣa (từ tháng 5 đến tháng 9). Nhiệt độ trung bình trên bề mặt vào mùa mƣa là 27oC - 28oC, mùa khô là 29oC - 30oC. Tại độ sâu 20m nƣớc, vào mùa mƣa nhiệt độ trung bình là 26oC - 27oC và mùa khô là 28oC - 29oC.
Nhìn chung khí hậu khô ráo, độ ẩm trung bình 60%. Có hai chế độ gió mùa. Chế độ gió mùa Đông đặc trƣng bởi gió mùa Đông Bắc từ đầu tháng 11 năm trƣớc đến cuối tháng 3 năm sau với ba hƣớng gió chính: Đông Bắc, Đông và Đông Đông Bắc. Vào tháng 12 và tháng 1, hƣớng gió Đông Bắc chiếm ƣu thế, còn tháng 3 thì hƣớng gió Đông chiếm ƣu thế.
Đầu mùa tốc độ gió trung bình và cực đại thƣờng nhỏ, sau đó tăng dần lên và lớn nhất vào tháng 1 và tháng 2. Gió mùa hè đặc trƣng bởi gió mùa Tây Nam, kéo dài từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 9 với các hƣớng gió ƣu thế là Tây Nam và Tây Tây Nam. Ngoài ra, còn hai thời kỳ chuyển tiếp từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5 (chuyển từ chế độ gió mùa Đông Bắc sang chế độ gió mùa Tây Nam) và từ tháng 9 đến đầu tháng 11 và 12 có nhiều khả năng xảy ra bão. Bão thƣờng di 11 chuyển về hƣớng Tây hoặc Tây Nam.
Tốc độ gió mạnh nhất trong vòng bão đạt tới 50m/s. Trong 80 năm qua chỉ xảy ra 4 cơn bão (trong đó cơn bão số 5 năm 1997 gần đây nhất). Chế độ sóng ở khu vực này mang tính chất sóng gió rõ rệt. Mùa Đông, hƣớng sóng Đông Bắc chiếm ƣu thế gần tuyệt đối với độ cao sóng đạt giá trị cao nhất trong cả năm.
Tháng 1 năm 1984, độ cao của sóng đạt cực đại tới 8m ở khu vực vòm Trung Tâm mỏ Bạch Hổ. Mùa Đông hƣớng sóng ƣu thế Đông Bắc, Bắc Đông Bắc và Đông Đông Bắc. Mùa hè, hƣớng sóng chính là Tây Nam, hƣớng Tây và Đông Nam cũng xuất hiện với tần suất tƣơng đối cao. Dòng chảy đƣợc hình thành dƣới tác động của gió mùa ở vùng biển Đông.
Hƣớng và tốc độ dòng chảy xác định đƣợc bằng hƣớng gió và sức gió. Nhìn chung, khu vực bể Cửu Long có địa hình phức tạp, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa. Đây là một khu vực tìm kiếm, thăm dò dầu khí quan trọng, có mật độ dày đặc nhất và hiệu suất cao nhất. Ngày nay, bể Cửu Long đã hình thành lên một quần thể khai thác dầu khí lớn nhất Việt Nam bao gồm các mỏ nhƣ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Ruby.
với sản lƣợng khai thác chiếm 96% sản lƣợng khai thác dầu thô của Việt Nam. Lịch sử tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí bể Cửu Long gắn liền với lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí của thềm lục địa Nam Việt Nam. Trên cơ sở quy mô, mốc lịch sử và kết quả thăm dò có thể chia thành các giai đoạn [2]. Giai đoạn trƣớc năm 1975 Giai đoạn này là thời kỳ khảo sát địa vật lý khu vực nhƣ từ, trọng lực và địa chấn để phân chia các lô, chuẩn bị cho công tác đấu thầu, ký kết hợp 12 đồng dầu khí.
Năm 1967 tiến hành khảo sát từ hàng không gần khắp lãnh thổ Việt Nam do văn phòng US Navy Oceanographic đo ghi.500km tuyến địa chấn ở phía Nam Biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long. Năm 1969 đo địa vật lý biển bằng tàu N. Robray I do công ty Ray Geophysical Mandrel đo ở vùng thềm lục địa Miền Nam và vùng phía Nam của Biển Đông với tổng số 3.482km tuyến trong đó có một số tuyến cắt qua bể Cửu Long [2]. Trong năm 1969 US Navy Oceanographic cũng tiến hành đo song song 20.000km tuyến địa chấn bằng hai tàu R/V E.V Hunt ở vịnh Thái Lan và phía Nam Biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long.
Đầu năm 1970, Công ty Ray Geophysical Mandrel lại tiến hành đo đợt hai ở Nam Biển Đông và dọc bờ biển 8.639km, đảm bảo mạng lƣới cỡ 30x50km, kết hợp giữa các phƣơng pháp từ, trọng lực và hàng không trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long. Năm 1973 - 1974 đã đấu thầu trên 11 lô, trong đó có 3 lô thuộc bể Cửu Long là lô 09, lô 15 và lô 16. Năm 1974, Công ty Mobil trúng thầu trên lô 09 đã tiến hành khảo sát địa vật lý, chủ yếu là địa chấn phản xạ, có từ trọng lực với khối lƣợng là 3. Vào cuối năm 1974 và đầu năm 1975, Công ty Mobil đã khoan giếng khoan tìm kiếm đầu tiên trong bể Cửu Long, BH - 1X ở phần đỉnh của cấu tạo Bạch Hổ.
Kết quả thử vỉa đối tƣợng cát kết Mioxen dƣới ở chiều sâu 2,755 - 2,819m đã cho dòng dầu công nghiệp, lƣu lƣợng dầu đạt 342m3/ ngày. Kết quả này đã khảng định triển vọng và tiềm năng dầu khí của 13 bể Cửu Long. Giai đoạn 1975 - 2010 Năm 1976, Công ty địa vật lý CGG của Pháp khảo sát 1.210,9km theo các con sông của đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven biển Vũng Tàu - Côn Sơn. Kết quả của công tác khảo sát địa chấn đã xây dựng đƣợc các phần phản xạ chính và khẳng định sự tồn tại của bể Cửu Long với một mặt cắt trầm tích Đệ Tam dày [2].
Năm 1978, Công ty Geco (Nauy) thu nổ địa chấn 2D trên lô 10, 9, 16, 19, 20, 21 với tổng số 11.898,5km và làm chi tiết trên cấu tạo Bạch Hổ với mạng lƣới tuyển 2 x 2km và 1 x 1km. Riêng đối với lô 15, Công ty Deminex đã hợp đồng với Geco khảo sát 3.221,7km tuyến địa chấn với mạng lƣới 3,5x3,5km trên lô 15 và cấu tạo Cửu Long (nay là Rạng Đông). Căn cứ vào kết quả minh giải tài liệu địa chấn này Deminex đã khoan 4 giếng khoan tìm kiếm trên các cấu tạo triển vọng nhất Trà Tân, Sông Ba, Cửu Long và Đồng Nai. Kết quả khoan các giếng này đều gặp các biểu hiện dầu khí trong cát kết tuổi Mioxen dƣới và Oligoxen, nhƣng dòng không có ý nghĩa công nghiệp.
Công tác tìm kiếm, thăm dò, dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam trong giai đoạn này đƣợc triển khai rộng khắp, nhƣng tập trung chủ yếu vào một đơn vị, đó là xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro. Năm 1980 tàu nghiên cứu POISK đã tiến hành khảo sát 4.057km tuyến địa chấn điểm sâu chung, từ và 3.250km tuyến trọng lực. Kết quả của đợt khảo sát này đã phân chia ra đƣợc tập địa chấn B, C, D, E và F, đã xây dựng đƣợc một số sơ đồ cấu tạo dị thƣờng từ và trọng lực Bouguer. Năm 1981 tàu nghiên cứu Iskatel đã tiến hành khảo sát địa vật lý với mạng lƣới 2 x 2,2 - 3 x 2,3km địa chấn MOB - ORT - 48, trọng lực, từ ở phạm 14 vi lô 09, 15 và 16 với tổng số 2.
Năm 1983 - 1984 tàu viện sĩ Gamburxev đã tiến hành khảo sát 4.000km tuyến địa chấn để nghiên cứu phần sâu nhất của bể Cửu Long. Trong thời gian này xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đã khoan 4 giếng trên các cấu tạo Bạch Hổ và Rồng, trên cấu tạo Tam Đảo, tất cả 4 giếng còn lại đều phát hiện vỉa dầu công nghiệp từ các vỉa cát kết Mioxen dƣới và Oligoxen.