CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỂ CỬU LONG 2. Vị trí địa lý và lịch sử nghiên cứu 2. Vị trí địa lý Bể trầm tích (gọi tắt là bể) Cửu Long nằm ở vị trí có tọa độ địa lý trong khoảng 9000’-11000’ vĩ độ Bắc và 106030’-109000’ kinh độ Đông, thuộc thềm lục địa phía Nam Việt Nam và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông Mê Kông. Bể có hình bầu dục, nằm dọc theo bờ biển kéo dài từ Vũng Tàu lên đến Bình Thuận [1].
Bể Cửu Long được xem là bể trầm tích Kainozoi khép kín điển hình của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu tính theo đường đẳng dày trầm tích 1.000m thì bể có xu hướng mở về phía Đông Bắc, hướng về mũi tách giãn Biển Đông hiện tại. Bể Cửu Long tiếp giáp với đất liền về phía Tây Bắc, ngăn cách với bể Nam Côn Sơn bằng đới nâng Côn Sơn ở phía Đông Nam, phía Tây Nam là đới nâng Khorat-Natuna và phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh [1]. Bể có diện tích khoảng 36.000 km2, bao gồm các lô: 01/97 & 02/97, 15-1, 15-1/05, 15-2, 15-2/01, 16-1, 16-1/15, 16-2, 09-1, 09-2, 09-2/09, 09-3, 17 và một phần của các lô: 127, 01/10 & 02/10, 25 và 31 (Hình 1.1: Vị trí bể Cửu Long và khu vực nghiên cứu [1] 4 2.
Lịch sử nghiên cứu Lịch sử nghiên cứu địa chất nói chung và địa chất dầu khí của bể Cửu Long nói riêng bắt đầu được ghi nhận từ những năm cuối của thập niên 60 và được đánh dấu qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Các giai đoạn này được tổng hợp chi tiết trong các công trình “Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam” [1] và “Tổng hợp, hệ thống hóa và đánh giá các kết quả nghiên cứu địa chất và tiềm năng dầu khí đã thực hiện ở bể Cửu Long” [2], được tóm tắt như sau: Giai đoạn trước năm 1975 Là giai đoạn tạo nền tảng phát triển cho quá trình tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí. Thời kỳ này bắt đầu khảo sát địa vật lý mang tính chất khu vực như từ, trọng lực và địa chấn để phân chia các lô, chuẩn bị cho công tác đấu thầu và ký kết các hợp đồng dầu khí (PC). Năm 1967, văn phòng US Navy Oceanographic đã khảo sát từ hàng không.500 km tuyến địa chấn 2D ở phía Nam Biển Đông, trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long.
Năm 1969, đo địa vật lý biển bằng tàu N. Robray I do công ty Ray Geophysical Mandrel đo ở vùng thềm lục địa miền Nam và vùng phía Nam của Biển Đông, tổng số 3.482 km tuyến địa chấn 2D, trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long. Năm 1969, US Navy Oceanographic cũng tiến hành đo song song 20.000 km tuyến địa chấn 2D bằng hai tàu R/V E.V Hunt ở vịnh Thái Lan và phía Nam Biển Đông, trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long. Đến đầu năm 1970, Công ty Ray Geophysical Mandrel lại tiến hành đo đợt hai ở Nam Biển Đông và dọc bờ biển 8.639 km tuyến địa chấn 2D với mạng lưới 30x50 km, kết hợp với khảo sát từ, trọng lực và hàng không, trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long.
Năm 1973-1974, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đấu thầu trên 11 lô, trong đó có 3 lô thuộc bể Cửu Long là lô 09, lô 15 và lô 16. 5 Năm 1974, công ty Mobil trúng thầu trên lô 09 và tiến hành khảo sát địa vật lý, chủ yếu là địa chấn phản xạ, cùng với từ và trọng lực với khối lượng là 3. Cuối năm 1974 và đầu năm 1975, Mobil đã khoan giếng khoan tìm kiếm đầu tiên BH-1X trong bể Cửu Long ở phần đỉnh của cấu tạo Bạch Hổ. Kết quả thử vỉa tại đối tượng cát kết Miocen dưới ở chiều sâu 2.819 m đã cho dòng dầu công nghiệp, lưu lượng dầu đạt 342 m3/ngày.
Kết quả này đã khẳng định triển vọng và tiềm năng dầu khí của bể Cửu Long. Giai đoạn 1975-1980 Năm 1976, được đánh dấu bằng việc công ty địa vật lý CGG của Pháp đã tiến hành khảo sát 1.210,9 km theo các con sông của đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven biển Vũng Tàu - Côn Sơn. Kết quả xác định được các tầng phản xạ chính và khẳng định sự tồn tại của bể Cửu Long với một lát cắt dày của trầm tích Kainozoi. Năm 1978, Công ty Geco của Nauy đã thu nổ 11.898,5 km tuyến địa chấn 2D trên các lô 09, 10, 16, 19, 20, 21 và làm chi tiết trên cấu tạo Bạch Hổ với mạng lưới tuyến 2x2 km và 1x1 km.
Riêng đối với lô 15, Công ty Deminex đã hợp đồng với Geco khảo sát 3.221,7 km tuyến địa chấn với mạng lưới 3,5x3,5 km. Căn cứ vào kết quả minh giải tài liệu địa chấn này, Deminex đã khoan 04 giếng khoan tìm kiếm trên các cấu tạo triển vọng nhất là Trà Tân (15-A-1X), Sông Ba (15-B-1X), Cửu Long (15-C-1X) và Đồng Nai (15-G-1X). Kết quả khoan đã cho thấy các giếng này đều gặp các biểu hiện dầu khí trong cát kết tuổi Miocen sớm và Oligocen, nhưng với dòng dầu yếu, không có ý nghĩa công nghiệp. Giai đoạn 1981-1988 Đây là giai đoạn mà công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam triển khai rộng khắp, nhưng tập trung chủ yếu vào một đơn vị là Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro.
Năm 1980, tàu nghiên cứu POISK đã tiến hành khảo sát 4.057 km tuyến địa chấn điểm sâu chung, từ và 3.250 km tuyến trọng lực. Kết quả của đợt khảo sát này đã phân chia ra được các tập địa chấn B, C, D, E và F, đã xây dựng được một số sơ đồ cấu tạo dị thường từ và trọng lực Bouguer. 6 Năm 1981, tàu nghiên cứu Iskatel đã tiến hành khảo sát địa vật lý với mạng lưới 2x2,2 - 3x2,3 km địa chấn MOB-ORT-48, trọng lực, từ ở phạm vi lô 09, 15 và 16 với tổng số 2. Năm 1983-1984, tàu Viện sĩ Gamburxev đã tiến hành khảo sát 4.000 km tuyến địa chấn 2D để nghiên cứu phần sâu nhất của bể Cửu Long.
Trong thời gian này, Vietsovpetro đã khoan 4 giếng trên các cấu tạo Bạch Hổ và Rồng: R-1X, BH-3X, BH-4X, BH-5X và giếng khoan TĐ-1X trên cấu tạo Tam Đảo. Trừ giếng khoan TĐ-1X, tất cả 4 giếng còn lại đều phát hiện vỉa dầu công nghiệp từ các vỉa cát kết Miocen dưới và Oligocen (BH-4X). Cuối giai đoạn 1980-1988 được đánh dấu bằng việc Vietsovpetro đã khai thác những tấn dầu đầu tiên từ hai đối tượng Miocen, Oligocen dưới của mỏ Bạch Hổ vào năm 1986 và phát hiện ra dầu trong đá móng granit nứt nẻ vào tháng 9/1988. Giai đoạn 1989 - đến nay Giai đoạn từ năm 1988 cho tới 2015 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở bể Cửu Long.
Song song với đó với sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Dầu khí, hàng loạt các công ty dầu nước ngoài đã ký hợp đồng phân chia sản phẩm hoặc cùng đầu tư vào các lô mở và có triển vọng tại bể Cửu Long. Triển khai các hợp đồng đã ký về công tác khảo sát địa vật lý thăm dò, các công ty dầu khí đã ký hợp đồng với các công ty dịch vụ khảo sát địa chấn có nhiều kinh nghiệm trên thế giới như: CGG, Geco-Prakla, Western Geophysical Company, PGS v. Hầu hết các lô trong bể đã được khảo sát địa chấn chi tiết không chỉ phục vụ cho công tác thăm dò mà cả cho việc chính xác mô hình vỉa chứa. Khảo sát địa chấn 3D được tiến hành trên hầu hết các diện tích có triển vọng và trên tất cả các vùng mỏ đã phát hiện.
Trong lĩnh vực xử lý tài liệu địa chấn 3D có những tiến bộ rõ rệt khi áp dụng quy trình xử lý dịch chuyển thời gian và độ sâu trước cộng (PSTM, PSDM). Năm 2001, Vietsovpetro đã kỷ niệm khai thác tấn dầu thô thứ 100 triệu. Đây là 7 một dấu ấn quan trọng trong bước tiến của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam. Cho đến hết năm 2003, tổng số giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác đã khoan ở bể Cửu Long khoảng 300 giếng, trong đó Vietsovpetro chiếm 70%.
Bằng kết quả khoan, nhiều phát hiện dầu khí đã được phát hiện: Rạng Đông (lô 15-2), Topaz North, Diamond, Pearl, Emerald (lô 01), Cá Ngừ Vàng (lô 09-2), Voi Trắng (lô 16-1), Đông Rồng, Đông Nam Rồng (lô 09-1). Trong số phát hiện tính đến năm 2005 đã có năm mỏ dầu: Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Hồng Ngọc được khai thác với tổng sản lượng đạt khoảng 45. Tổng lượng dầu đã thu hồi từ 05 mỏ kể từ khi đưa vào khai thác cho đến đầu năm 2005 là khoảng 170 triệu tấn. Cuối năm 2014, giá dầu bắt đầu sụt giảm làm ảnh hưởng mạnh đến hoạt động tìm kiếm thăm dò cũng như khai thác dầu khí trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam.
Thời kỳ 2015 đến nay, các hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí ở nước ta giảm mạnh so với giai đoạn trước. Một số hoạt động điển hình tại bể Cửu Long: Năm 2015, nhằm tận thăm dò lô 09-1, Vietsovpetro đã thuê Petroparner - PTSC thu nổ địa chấn 3D/4C trên diện tích 847 km2 gồm mỏ Bạch Hổ và phần lớn mỏ Rồng cuối năm 2015. Tài liệu này có chất lượng thu nổ và xử lý tốt đáp ứng tốt cho công tác minh giải cấu trúc. Năm 2019, Vietsovpetro nhận dòng dầu đầu tiên trong đối tượng Oligocen D, Miocen dưới mỏ Cá Tầm.
Trong đó Oligocen D là đối tượng đóng góp chính vào sản lượng khai thác. Việc khai thác dầu trong Oligocen D giúp mở rộng đối tượng tiềm năng trong bể Cửu Long, khi mà trước đó trầm tích Oligocen D được cho là sét chiếm ưu thế và là tầng sinh chính của bể. Năm 2020, nhà thầu SK lô 16-2 cũng đã cho thu nổ tài liệu địa chấn 3D phục vụ công tác tìm kiếm thăm dò khu vực phía Tây lô 16-2. Năm 2021, thu nổ địa chấn 3D một phần lô 16-1/15 nhằm chính xác hóa cấu trúc, phục vụ công tác tìm kiếm thăm dò.
8 Ngoài các giếng khai thác trong các mỏ với tiềm năng dầu khí đã được khẳng định, trong giai đoạn này nhiều giếng thăm dò đã được khoan nhằm đánh giá chính xác hơn tiềm năng dầu khí của bể Cửu Long, ví dụ như các giếng thăm dò khu vực BK-20, 21 mở rộng thăm dò ở lô 09-1, phát hiện dầu trong Oligocen D khu vực mỏ Tê Giác Trắng và giếng 16-1/15-SV-1X trong lô 16-1/15 giúp mở rộng đối tượng tìm kiếm thăm dò trong trầm tích Oligocen D.