Tài liệu: Nghiên cứu đặc điểm bệnh giun dạ dày ở gà nuôi thả vườn tại

Khám phá đặc điểm bệnh giun dạ dày ở gà thả vườn tại Phổ Yên, Thái Nguyên. Phân tích nguyên nhân, triệu chứng, phòng trị bệnh hiệu quả.

Chuyên ngành

Thú Y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2023

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Định nghĩa và tổng quan về bệnh giun dạ dày ở gà nuôi thả

Bệnh giun dạ dày là một bệnh ký sinh trùng phổ biến ở gà nuôi thả vườn, đặc biệt tại các vùng nông thôn. Đây là một trong những bệnh gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và năng suất của đàn gà. Giun dạ dày ký sinh trong dạ dày gà gây viêm, chảy máu và làm giảm khả năng tiêu hóa. Bệnh thường xảy ra ở gà nuôi thả vườn do tiếp xúc trực tiếp với môi trường bị nhiễm. Theo nghiên cứu của Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tỷ lệ mắc bệnh đạt tới 60-80% ở các hộ chăn nuôi gà truyền thống. Đặc điểm bệnh giun dạ dày bao gồm: giảm sinh trưởng, giảm sản lượng trứng, rối loạn tiêu hóa và suy kiến. Các triệu chứng lâm sàng thường biểu hiện qua chán ăn, lông không bóng mượt và sụt cân nhanh. Bệnh có thể gây tử vong nếu không được phòng chống kịp thời.

1.1. Khái niệm về bệnh giun dạ dày

Bệnh giun dạ dày ở gà là tình trạng nhiễm các loài giun ký sinh sống trong dạ dày gà. Các loài giun này gây viêm niêm mạc dạ dày, làm giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng. Giun dạ dày ký sinh thường là các loài giun tròn (Nematoda) gây bệnh trực tiếp cho gia cầm. Bệnh lây lan qua phân, nước bẩn và thức ăn bị nhiễm. Mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào số lượng giun và tình trạng miễn dịch của gà.

1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu bệnh

Nghiên cứu đặc điểm bệnh giun dạ dày giúp người chăn nuôi hiểu rõ hơn về nguyên nhân, cách lây và phòng trị hiệu quả. Bệnh giun dạ dày ở gà nuôi thả gây thiệt hại kinh tế lớn, làm giảm năng suất 20-40%. Việc xác định các loài giun, cường độ nhiễm và mùa vụ mắc bệnh là nền tảng cho các biện pháp phòng chống. Từ đó, nông dân có thể lập kế hoạch tẩy giun đúng lúc, giảm thiệt hại.

II. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun dạ dày ở gà nuôi thả vườn

Nghiên cứu tại Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh giun dạ dày khác nhau tùy theo tuổi gà, mùa vụ và địa điểm. Cường độ nhiễm giun dạ dày được đánh giá qua số lượng giun tìm thấy trong dạ dày. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở gà trưởng thành (trên 6 tháng tuổi) so với gà con. Mùa mưa (tháng 5-9) có tỷ lệ nhiễm cao hơn mùa khô vì điều kiện ẩm ướt thuận lợi cho ấu trùng giun phát triển. Bệnh giun dạ dày ở gà thường có nhiều loài giun cùng lúc. Các xã có điều kiện nuôi thả, vệ sinh kém có tỷ lệ nhiễm cao hơn các nơi khác. Trứng giun dạ dày có thể tồn tại trong phân gà từ 2-3 tuần.

2.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tuổi gà

Gà con (dưới 3 tháng) có tỷ lệ nhiễm thấp do chủ yếu được nuôi trong chuồng sạch. Gà trưởng thành (trên 6 tháng) có tỷ lệ nhiễm 75-85% do tiếp xúc lâu với môi trường bị contaminate. Cường độ nhiễm tăng theo độ tuổi gà, gà già nhất (trên 1 năm) có cường độ nhiễm cao nhất. Điều này phản ánh tính chất tích lũy của bệnh khi gà tiếp xúc với giun dạ dày lâu ngày.

2.2. Ảnh hưởng của mùa vụ và điều kiện môi trường

Mùa mưa (5-9) là thời kỳ tỷ lệ nhiễm bệnh giun dạ dày cao nhất với 70-80%. Mùa khô (10-4) tỷ lệ giảm xuống 40-50% do điều kiện khô hạn không thuận lợi cho ấu trùng phát triển. Bệnh giun dạ dày ở gà phát triển mạnh khi chuồng trại ẩm ướt, không thông thoáng. Khu vực có mật độ gà cao và vệ sinh kém có tỷ lệ nhiễm cao gấp 2-3 lần.

III. Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của bệnh giun dạ dày

Biểu hiện lâm sàng bệnh giun dạ dày ở gà rất đa dạng, bắt đầu từ những triệu chứng nhẹ cho đến trầm trọng. Gà mắc bệnh thường biểu hiện chán ăn, sụt cân nhanh và lông không bóng mượt. Phân gà có xu hướng lỏng hoặc bị táo bón xen kẽ do viêm dạ dày. Bệnh tích đại thể của bệnh giun dạ dày bao gồm: dạ dày sưng phù, niêm mạc dạ dày chảy máu hoặc lở loét, chứa đầy dịch viêm. Khi mổ khám có thể thấy rõ các giun dạ dày nằm trên niêm mạc. Bệnh tích vi thể cho thấy tình trạng viêm mạn tính, tổn thương biểu mô, xơ hóa trong thành dạ dày. Gà non mắc bệnh nặng có thể chết nếu không điều trị kịp thời.

3.1. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh

Gà mắc bệnh giun dạ dày thường chán ăn, giảm tăng trưởng rõ rệt. Lông gà mất bóng, bồng bềnh, không sáng bóng như bình thường. Gà thường sụt cân nhanh, trông guầy guột dù vẫn được cho ăn đầy đủ. Một số gà có tiêu chảy kéo dài hoặc táo bón, phân không đều. Gà mắc nặng có thể nằm im, bất động, chỉ uống nước. Khi nhiễm giun giun đạo gà thường cử động chậm, không hoạt bát như bình thường.

3.2. Bệnh tích đại thể và vi thể

Bệnh tích đại thể khi mổ khám thấy dạ dày phù nề, niêm mạc sưng đỏ hoặc có vảy máu. Gà mắc nặng có niêm mạc dạ dày bị lở loét thành từng mảng. Trong dạ dày chứa dịch viêm máu mủ, có thể phát hiện hàng chục đến hàng trăm giun dạ dày. Bệnh tích vi thể cho thấy viêm niêm mạc mạn tính, mất biểu mô, xơ hóa thành dạ dày. Đại thực bào xâm nhập làm tổn thương thêm.

IV. Biện pháp phòng chống bệnh giun dạ dày ở gà nuôi thả

Phòng chống bệnh giun dạ dày cần thiết thực hiện nhiều biện pháp tổng hợp. Tẩy giun định kỳ là biện pháp quan trọng nhất, nên thực hiện 2-3 lần/năm hoặc theo lịch tẩy giun khoa học. Sử dụng các loại thuốc tẩy giun hiệu lực cao như Thiabendazol, Levamisole, Ivermectin với liều lượng phù hợp. Vệ sinh môi trường chuồng trại rất quan trọng: dọn phân hàng ngày, thay nước sạch thường xuyên, khử trùng định kỳ. Nên nuôi gà riêng lẻ, không trộn lẫn với gà lạ để tránh lây bệnh. Cung cấp thức ăn, nước sạch để tăng cường sức đề kháng. Giáo dục nông dân về phòng trị bệnh giun dạ dày là chìa khóa thành công.

4.1. Tẩy giun định kỳ và sử dụng thuốc hiệu quả

Tẩy giun định kỳ giúp loại bỏ giun dạ dày trước khi gây thiệt hại. Thực hiện tẩy giun mùa hè (5-6) và mùa đông (11-12) mỗi năm. Các thuốc tẩy giun dạ dày được khuyến cáo: Thiabendazol (25mg/kg), Levamisole (7-8mg/kg), Ivermectin (0.2mg/kg). Theo dõi gà 3-5 ngày sau tẩy để đánh giá hiệu quả. Bệnh giun dạ dày ở gà thường cần tẩy lại sau 2-3 tuần để tiêu diệt ấu trùng mới nảy sinh.

4.2. Biện pháp vệ sinh và quản lý nuôi trồng

Vệ sinh chuồng trại hàng ngày, dọn phân sạch để giảm nguồn lây bệnh. Thay nước uống sạch sẽ mỗi ngày, tránh gà uống nước bẩn chứa trứng giun. Khử trùng chuồng trại định kỳ 1-2 lần/tháng bằng vôi hoặc Betadine. Tránh nuôi gà mắc bệnh giun dạ dày cùng với gà khỏe mạnh. Cung cấp thức ăn dinh dưỡng tốt, sạch sẽ để tăng miễn dịch cho gà. Huấn luyện nông dân về kỹ thuật phòng trị bệnh giun dạ dày là rất cần thiết.

18/12/2025
Nghiên cứu đặc điểm bệnh giun dạ dày ở gà nuôi thả vườn tại thành phố phổ yên tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Giun dạ dày ký sinh ở gia cầm 1. Vị trí của giun dạ dày ký sinh ở gia cầm trong hệ thống phân loại động vật Nguyễn Thị Lê và cs.

(1996) cho biết: Vị trí của một số loài giun dạ dày gia cầm trong hệ thống phân loại động vật: Ngành Nemathelminthes Lớp giun tròn Nematoda Rudolphi, 1808 Bộ Spirurata Chitwood, 1933 Phân bộ Spirurina Railliet, 1914 Họ Tetrameridae Travassos, 1914 Giống Tetrameres Creplin, 1846 Loài Tetrameres fissispina Diesing, 1861 Loài Tetrameres mohtedai Bhalerao et Rao, 1944 Họ Acuariidae Seurat, 1913 Giống Acuaria Bremser, 1911 Loài Acuaria hamulosa Diesing, 1851 Loài Dispharynx nasuta Rudolphi, 1819 Nguyễn Thị Lê và cs. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun dạ dày ký sinh ở gia cầm Nguyễn Thị Lê và cs (1996) cho biết: có 4 loài Tetrameres spp. thường gặp ký sinh ở gà, gồm có: - Tetrameres mohtedai: Giun tròn có nang miệng hình trụ, thành trong miệng kitin hóa mạnh, có 2 môi bên và 2 môi trung gian bé. Con đực: hình sợi, bé.

Tiểu bì mỏng, có vân ngang mịn. Chiều dài cơ thể 4,2 - 4,9 mm, rộng 0,120 - 0,145 mm. Hai cánh cutin bên kéo dài từ giữa môi đến ngang 4 lỗ huyệt. Có 4 dãy gai nhỏ bắt đầu từ thực quản đi đến phía đuôi cơ thể, khoảng cách giữa các gai và kích thước các gai giảm dần ở phía trước cơ thể.

Ở đuôi các gai to hơn, tập trung chủ yếu ở phía bụng và dưới bụng. Nang miệng dài 0,017 - 0,019 mm, rộng 0,009 mm. Thực quản chia 2 phần: phần cơ dài 0,305 - 0,365 mm, rộng 0,023 mm; thực quản tuyến dài 0,900 - 1,012 mm, rộng 0,055 - 0,060 mm. Vòng thần kinh cách đỉnh đầu 0,182 - 0,225 mm.

Đuôi dài 0,31 - 0,36 mm, kết thúc bằng một phần phụ hình nón. Có 2 gai sinh dục: gai lớn dài 0,305 - 0,316 mm, rộng 0,016 - 0,019 mm; gai nhỏ dài 0,112 - 0,115 mm, rộng 0,006 - 0,007 mm. Con cái: dài 2,6 - 3,2 mm, rộng 2,4 - 2,6 mm. Phần đầu và đuôi tách với phần cơ thể hình cầu chia thành các múi, phần phình ra giữa thân chứa ruột và trứng.

Chiều dài phần đầu của các cá thể lớn là 0,9 mm, phần đuôi là 0,6 mm. Đuôi dài 0,385 mm. Trứng có kích thước 0,050 x 0,031 mm. Hình thái và cấu tạo cơ thể giun Tetrameres mohtedai Bhalerao et Rao, 1944 (A - Cấu trúc cơ thể giun cái; B - Phần đầu; C - Phần thân; D - Phần đuôi) (Nguồn Pathak P., 2015) 5 - Tetrameres fissispina: Mút đầu có hai môi nhỏ, xoang miệng thấy rõ.

Thực quản thường chia thành hai phần: phần cơ ngắn, phần tuyến dài. Con đực: dài 3,2 - 3,9 mm, rộng 0,09 - 0,114 mm. Tiểu bì có những vạch ngang, có 4 hàng gai chạy dọc cơ thể. Cánh bên trải dài từ mút đầu đến lỗ huyệt, được bắt đầu từ gốc môi kéo dài và kết thúc bằng hai dãy gai nhọn cách đầu mút 0,069 mm.

Thực quản dài, phần cơ dài 0,32 - 0,38 mm, phần tuyến dài 0,47 - 0,78 mm. Núm cổ cách mút đầu dài 0,14 - 0,16 mm. Lỗ huyệt cách mút đuôi 0,083 mm. Gai sinh dục lớn dài 0,37 - 0,49 mm, gai sinh dục nhỏ dài 0,165 - 0,198 mm.

Phần phụ của đuôi có dạng hình nón, có các gai nhỏ, trong số đó có 5 đôi nằm ở phía lưng và 3 đôi nằm ở phía bụng. Con cái: dài 2,4 - 4,1 mm, rộng 1,3 - 1,9 mm. Cơ thể có dạng tròn, mút đầu và mút đuôi có dạng sợi. Thực quản chia thành hai phần: cơ và tuyến.

Phần cơ dài 0,23 - 0,26 mm, phần tuyến dài 0,97 - 1,23 mm. Núm cổ cách mút đầu 0,108 mm. Ruột được mở rộng ra dạng túi và cuối cùng là hậu môn cách mút đuôi dai 0,06 - 0,1 mm. Tử cung vòng vèo lấp đầy xoang cơ thể.

Lỗ sinh dục cách mút đuôi 0,1 - 0,14 mm. Trứng có kích thước 0,043 - 0,057 x 0,025 - 0,032 mm; bên trong có ấu trùng cuộn vòng. Hình thái và cấu tạo cơ thể giun Tetrameres fissispina Diesing, 1861 (1, 2 - phần trước cơ thể con đực, các tư thế; 3 - hình dạng chung con cái; 4 - đuôi con đực; 5 - trứng) (Nguồn Skrjabin và Sobolev, 1963) 6 - Acuaria hamulosa: Tiểu bì có những vân ngang rõ. Mút đầu có 2 môi bên lớn, có dạng tam giác.

Con đực: dài 7,5 - 14,0 mm, rộng 0,396 mm. Hầu có những cơ vòng rõ, dài 0,226 mm, rộng 0,042 mm. Thực quản gồm 2 phần: phần cơ dài 1,018 mm; phần tuyến dài 3,206 mm. Vòng thần kinh cách mút đầu 0,261 mm.

Hai gai sinh dục khác nhau rõ rệt về hình dạng và kích thước. Gai lớn dài 1,8 - 2,2 mm; gai nhỏ dài 0,18 - 0,23 mm, dày, rộng hơn. Đuôi uốn cong về phía bụng và có cánh bên không lớn lắm. Cánh đuôi có 10 đôi núm đuôi, trong đó 4 đôi phía trước huyệt và 6 đôi sau huyệt.

Con cái: dài 15 - 25 mm, rộng 0,414 mm. Thực quản gồm phần cơ dài 0,484 mm, phần tuyến dài 3,677 mm. Vòng thần kinh cách mút đầu 0,222 mm. Lỗ sinh dục cái lồi ra, nằm ở nửa sau cơ thể, cách mút đuôi 7,5 mm.

Hậu môn cách mút đuôi 0,41 - 0,45mm. Trứng có vỏ dày, kích thước 0,037- 0,042 x 0,022 - 0,025 mm. - Dispharynx nasuta: Ký sinh ở niêm mạc thực quản, dạ dày tuyến đôi khi cả ở dạ dày cơ (Theo Dương Công Thuận, 2001). Tiểu bì có vân ngang rõ, mút đầu thắt lại có 4 bó kitin tạo thành vòng dạng viền hoa kéo dài đến ngang lỗ bài tiết.

Miệng có 2 môi bên nhỏ nhô ra, có 6 núm đầu. Con đực: dài 5,23 - 6,81 mm, rộng 0,20 - 0,25 mm. Hầu dài 0,100 - 0,116 mm. Chiều dài thực quản 2,24 - 2,49 mm, lỗ bài tiết cách mút đầu 0,41 - 0,48 mm; vòng thần kinh cách mút đầu 0,27 - 0,30 mm.

Gai sinh dục khác nhau về hình dạng và kích thước: gai lớn mảnh, dài 0,339 - 0,424 mm, gốc hơi phình, mút gai nhọn; gai nhỏ dài 0,160 - 0,189 mm. Không có gai điều chỉnh. Đuôi cong về phía bụng, mang 10 đôi núm, trong đó có 4 đôi trước huyệt và 6 đôi sau huyệt. Con cái: dài 7,03 - 9,21 mm, rộng 0,41 - 0,48 mm.

Hầu dài 0,116 - 0,133 mm. Thực quản dài 2,31 - 3,12 mm, trong đó phần cơ dài 0,61 - 1,05 mm. Vòng thần kinh cách mút đầu 0,32 - 0,35 mm. Lỗ bài tiết cách mút đầu 0,56 - 0,70 mm.

Lỗ sinh dục cái nằm cách mút đuôi 1,19 - 1,66 mm. Đuôi dài 0,09 - 0,13 mm, cuối đuôi thắt lại dạng gai nhỏ. Trứng có vỏ dày, nhẵn kích thước 0,034 - 0,038 x 0,021 mm (Nguyễn Thị Lê và cs. Hình thái giun cái và giun đực Dispharynx nasuta Rudolphi, 1819 (A - Con cái, B - Trứng, C, D - Phần đầu con đực) (Nguồn González-Rivas C., 2022) - Tetrameres americana: Có sự phân biệt về hình dáng giữa con đực và con cái rất nhiều.

Những con cái của loài này có hình cầu, màu đỏ máu, cơ thể phân thành bốn múi, kích thước dài 3,5 - 4,5mm, rộng 3mm. Con đực hình sợi chỉ, có chiều dài 5 - 5,5 mm. Trứng có kích thước 42 - 50µm x 24µm và có phôi bên trong (Johannes Kaufmann, 1996). Hình thái giun Tetrameres americaana Cram, 1927 (A - Con đưc; B - Con cái) (Nguồn Permin và Hansen, 1998) 8 1.

Chu kỳ sinh học của giun dạ dày ký sinh ở gà - Tetrameres spp. Pernim & Hansen (1998), giải thích Tetrameres spp. vòng đời như: Giun Tetrameres spp. có vòng đời gián tiếp, ký chủ trung gian là châu chấu, gián, giun đất và bọ chét nước.

Trứng giun thải theo phân ra ngoại cảnh và được ký chủ trung gian nuốt. Sau vài ngày, ấu trùng được giải phóng, tiếp tục lột xác và phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm (L3) trong cơ thể ký chủ trung gian. Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, gà ăn phải ký chủ trung gian có mang ấu trùng gây nhiễm. Ấu trùng di chuyển đến dạ dày tuyến, xâm nhập vào ống tuyến phát triển thành giun trưởng thành.

Tại dạ dày tuyến, con đực giao phối với con cái, sau đó con đực rời khỏi dạ dày tuyến và chết (Dẫn theo Anane và Abraham, 2021). Chu kỳ phát triển của giun Tetrameres spp. (Dẫn theo Anane và Abraham, 2021) 9 Theo https://poultrydvm.com/condition/tetrameriasis, thời gian hoàn thành vòng đời của Tetrameres spp. (1949 và 1953) xác định, vòng đời phát triển của giun dạ dày T.

fissipina thực hiện nhờ có sự tham gia của ký chủ trung gian là tôm nước ngọt và họ bơi nghiêng. Sự phát triển của ấu trùng T. fissipina đến giai đoạn cảm nhiễm ở trong cơ thể của loài Gammarus lacustris và tôm nước ngọt phụ thuộc vào nhiệt độ, dao động từ 8 - 18 ngày. Trong thời gian này ấu trùng lột xác 2 lần trong cơ thể ký chủ trung gian và trở thành ấu trùng cảm nhiễm.

Gà ăn phải ký chủ trung gian có mang ấu trùng cảm nhiễm, sau 16 - 24 giờ vào cơ thể ký chủ cuối cùng, T. fissispina đã xâm nhập vào ống tuyến của dạ dày tuyến. Vào ngày thứ 12, con đực chui ra khỏi tuyến vào xoang dạ dày, còn con cái thì ở lại trong tuyến, tạo thành hình tròn và tăng dần kích thước, hầu như chiếm chật cả ống tuyến. Sự phát triển của T.

fissispina đến giai đoạn trưởng thành trong ký chủ cuối cùng khoảng 18 ngày và quá trình phát triển của nó trải qua 2 lần lột xác nữa (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan, 2012). - Acuaria hamulosa: Theo Anane và Abraham (2021), vòng đời của loài A. hamulosa là gián tiếp, cần ký chủ trung gian là các loài châu chấu, bọ cánh cứng khác nhau, mọt. Trứng được thải ra ngoài theo phân gà và được ký chủ trung gian nuốt.

Sau 3 tuần trong cơ thể ký chủ trung gian, trứng giải phóng ra ấu trùng và phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm. Ký chủ trung gian bị gà ăn phải, ấu trùng gây nhiễm được giải phóng và phát triển thành giun A. hamulosa trưởng thành. - Acuaria hamulosa: Theo Anane và Abraham (2021), vòng đời của loài Acuaria hamulosa là gián tiếp, cần ký chủ trung gian là các loài châu chấu, bọ cánh cứng khác nhau, mọt.

Trứng được thải ra ngoài theo phân gà và được ký chủ trung gian nuốt. Sau 3 tuần trong cơ thể ký chủ trung gian, trứng giải phóng ra ấu trùng và phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm. Ký chủ trung gian bị gà ăn phải, ấu trùng gây nhiễm được giải phóng và phát triển thành giun Acuaria hamulosa trưởng thành (Saif I. - Dispharynx nasuta: Chu kỳ phát triển của D.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ