Tổng quan luận án

Đa hình di truyền ở các gen mã hóa enzyme chuyển hóa thuốc là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự khác biệt về đáp ứng thuốc và sự xuất hiện của các phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reactions - ADR) giữa các cá thể. Các enzyme Cytochrome P450 (CYP450) tham gia xúc tác cho quá trình chuyển hóa của khoảng 60% đến 80% các loại thuốc kê đơn trên thị trường. Theo các báo cáo quốc tế được trích dẫn trong luận án, ADR gây tiêu tốn khoảng 100 tỷ USD và dẫn đến 100.000 ca tử vong mỗi năm tại Hoa Kỳ, đồng thời chiếm khoảng 7% tổng số ca nhập viện tại Anh và Thụy Điển. Bốn gen gồm CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 có mức độ đa hình cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt tính enzyme chuyển hóa các loại thuốc quan trọng trong điều trị tim mạch, chống đông, thần kinh, giảm đau, chống ung thư và ức chế miễn dịch.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là dữ liệu về đa dạng di truyền, tần số allele, kiểu gen, cũng như các biến thể số bản sao (Copy Number Variation - CNV) và biến thể cấu trúc (Structural Variation - SV) của nhóm gen CYP450 tham gia chuyển hóa thuốc ở quần thể người Việt Nam còn rất hạn chế. Việc thiếu hụt cơ sở dữ liệu di truyền dược học đặc trưng cho quần thể người Việt Nam gây khó khăn cho việc áp dụng các hướng dẫn lâm sàng cá thể hóa liều dùng từ các hiệp hội quốc tế như Hiệp hội Ứng dụng Di truyền Dược học Lâm sàng (Clinical Pharmacogenetics Implementation Consortium - CPIC).

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở dữ liệu về đa hình/đột biến của 04 gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 ở người Kinh Việt Nam.
  2. Xác định kiểu gen và tần số các allele của 04 gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 trên người Kinh ở Việt Nam, đồng thời phân tích và dự đoán chức năng của các biến thể mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu DNA tách chiết từ 136 cá thể người Kinh khỏe mạnh, không có quan hệ huyết thống.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng Phân tích hệ gen - Viện Nghiên cứu hệ gen, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, hoàn thành và bảo vệ năm 2020 tại Học viện Khoa học và Công nghệ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về hệ enzyme Cytochrome P450 từ khi Klingenberg phát hiện lần đầu tiên vào năm 1954 trong nghiên cứu chuyển hóa hormone steroid ở tế bào gan. Tiếp đó, Estabrook và cộng sự (1963) cùng Cooper và đồng nghiệp đã xác định vai trò xúc tác của CYP450 trong phản ứng hydroxyl hóa thuốc và steroid. Ở người, có 115 gen CYP450 (bao gồm 57 gen chức năng và 58 gen giả) thuộc 18 họ và 44 phân họ, trong đó các phân họ CYP1, CYP2 và CYP3 chịu trách nhiệm chính về chuyển hóa thuốc pha I tại gan.

Các nghiên cứu quốc tế được luận án điểm lại bao gồm:

  • Mối liên quan giữa các biến thể di truyền và liều dùng thuốc điều trị: Nghiên cứu của Kirchheiner và cộng sự về sự phụ thuộc của liều dùng 50% thuốc hướng thần vào kiểu gen CYP2D6; nghiên cứu của Wuttke và cộng sự trên 24 bệnh nhân gặp phản ứng phụ với metoprolol cho thấy tần số kiểu hình chuyển hóa yếu (PM) cao gấp 5 lần so với quần thể bình thường; các công bố của Ingelman-Sundberg và cộng sự về gánh nặng y tế của ADR.
  • Cơ sở dữ liệu và mạng lưới nghiên cứu: Dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu Đa dạng di truyền các gen dược học (PharmVar), Mạng lưới Nghiên cứu Hệ gen Dược học (PGRN), cùng dữ liệu giải trình tự toàn bộ hệ gen biểu hiện (exome) trên 60.000 mẫu của Viện Broad ghi nhận 235 biến thể sai nghĩa ở CYP2C9 và 258 biến thể sai nghĩa ở CYP2C19.
  • Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Các nghiên cứu phân tử ban đầu tập trung vào các gen gây bệnh di truyền như phenylketonuria, loạn dưỡng cơ Duchenne, bệnh Down tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Học viện Quân y, Trường Đại học Y Hà Nội và Viện Nghiên cứu hệ gen. Về họ CYP450, nhóm nghiên cứu của PGS. Nguyễn Huy Hoàng đã khảo sát các gen CYP21A2 (đột biến mất đoạn lớn, trượt khung 12, 1584delA) và CYP11B1 (đột biến vô nghĩa p.Tyr395X) trên bệnh nhân tăng sản thượng thận bẩm sinh và thiếu hụt 11β-hydroxylase.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên trên quần thể người Kinh Việt Nam khảo sát đồng thời cả 4 gen chuyển hóa thuốc chính (CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6, CYP3A5) trên toàn bộ vùng promoter, 9 exon, vùng biên intron-exon, kết hợp phân tích các biến thể số bản sao (CNV) và biến thể cấu trúc (SV), giải quyết khoảng trống dữ liệu về tần số allele và phát hiện các biến thể mới chưa từng được công bố trong cơ sở dữ liệu quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

Quá trình chuyển hóa thuốc tại gan diễn ra qua 3 giai đoạn (Pha I: oxi hóa khử và thủy phân bởi enzyme CYP450; Pha II: liên hợp bởi UDP-glucuronosyltransferase, TPMT; Pha III: đào thải qua màng tế bào bởi các kênh vận chuyển thuốc). Protein CYP450 có kích thước khoảng 400-500 amino acid, mang nhân heme với nguyên tử sắt ở trung tâm, cấu trúc bảo thủ gồm bốn vòng xoắn D, L, I, E và 6 vị trí nhận biết cơ chất (Substrate Recognition Sites - SRS1 đến SRS6). Đa hình di truyền ở các gen này dẫn đến 4 nhóm kiểu hình chuyển hóa thuốc trên lâm sàng:

  • Chuyển hóa thuốc yếu (Poor Metabolizer - PM): Mang 2 allele mất chức năng.
  • Chuyển hóa thuốc trung bình (Intermediate Metabolizer - IM): Mang 2 allele giảm chức năng hoặc 1 allele giảm chức năng kết hợp 1 allele mất chức năng.
  • Chuyển hóa thuốc bình thường (Extensive Metabolizer - EM): Mang ít nhất 1 allele hoạt động bình thường.
  • Chuyển hóa thuốc cực nhanh (Ultrarapid Metabolizer - UM): Mang các allele nhân đôi hoặc lặp đoạn bản sao hoạt động.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận thực nghiệm sinh học phân tử kết hợp phân tích tin sinh học (in silico), gồm các bước:

  • Tách chiết và kiểm tra DNA: Tách chiết DNA tổng số từ mẫu máu ngoại vi của 136 cá thể người Kinh khỏe mạnh, kiểm tra độ tinh sạch và nồng độ.
  • Kỹ thuật PCR và Giải trình tự Sanger: Thiết kế các cặp mồi đặc hiệu để khuếch đại toàn bộ vùng promoter, tất cả 9 exon và vùng biên intron-exon của các gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6; khuếch đại đặc hiệu các vùng mang biến thể *3, *6, *8, *9 của gen CYP3A5. Sản phẩm PCR giải trình tự được tinh sạch, biến tính và điện di mao quản trên hệ thống máy giải trình tự tự động ABI 3500.
  • Xác định biến thể số bản sao (CNV) và biến thể cấu trúc (SV): Sử dụng kỹ thuật khuếch đại đa đầu dò phụ thuộc phản ứng ghép nối (Multiplex Ligation-dependent Probe Amplification - MLPA), phân tích dữ liệu tín hiệu đỉnh bằng phần mềm Coffalyzer để xác định giá trị tỉ lệ liều lượng (Dosage Quotient - DQ). Các mẫu có bất thường số bản sao được kiểm chứng lại bằng kỹ thuật Long-range PCR (LR-PCR) đối với allele mất toàn bộ gen CYP2D6*5 hoặc kỹ thuật Real-time PCR đối với mất bản sao CYP2C9.
  • Xử lý số liệu và phân tích tin sinh học (In silico):
    • Đánh giá trạng thái cân bằng di truyền Hardy-Weinberg và tính toán tần số allele, tần số kiểu gen.
    • Phân tích mức độ liên kết không cân bằng (Linkage Disequilibrium - LD) giữa các biến thể.
    • Dự đoán tác động chức năng của các biến thể mới trong vùng mã hóa bằng hai công cụ PolyPhen-2 và PROVEAN, đánh giá tính bảo thủ của các vị trí amino acid.
    • Dự đoán ảnh hưởng đến vị trí cắt nối (splicing) của các biến thể mới trong vùng không mã hóa bằng công cụ Human Splicing Finder (HSF) và phân tích các vị trí gắn yếu tố phiên mã ở vùng promoter.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này trình bày cơ sở lý luận về hệ enzyme CYP450, cấu trúc phân tử và cơ chế xúc tác chuyển hóa thuốc tại gan. Tác giả tổng quan chi tiết đặc điểm cấu trúc gen, các cơ chất điển hình và tính đa hình của 4 gen nghiên cứu:

  • CYP2C9 (nhiễm sắc thể 10, dài 9 exon, 490 amino acid, 55,6 kDa): Chuyển hóa warfarin, phenytoin, tolbutamide, diclofenac, losartan. Các allele kinh điển gồm *2 (3608C>T, p.Arg144Cys) và *3 (42614A>C, p.Ile359Leu).
  • CYP2C19 (nhiễm sắc thể 10q24, dài 90,21 kb, 9 exon, 490 amino acid, 55,92 kDa): Chuyển hóa clopidogrel, thuốc ức chế bơm proton (PPI), thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI. Các allele mất chức năng gồm *2 (681G>A) và *3 (636G>A); allele tăng cường chức năng là *17 (-806C>T, -3402C>T).
  • CYP2D6 (nhiễm sắc thể 22q13.1, 9 exon, 55,73 kDa): Chuyển hóa hơn 25% các thuốc lưu hành (tamoxifen, codeine, perhexiline, metoprolol, thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc chống loạn thần). Gen có tính đa hình phức tạp nhất với các SNP, indel, CNV (từ 2 đến 13 bản sao) và tái tổ hợp gen giả tạo biến thể lai (như *13, *36-*10).
  • CYP3A5 (nhiễm sắc thể 7q22.1, 13 exon, 502 amino acid, 52,5 kDa): Chuyển hóa thuốc ức chế miễn dịch tacrolimus, hóa trị liệu vincristine, sunitinib. Biến thể phổ biến nhất là CYP3A5*3 (6986A>G trong intron 3), tạo vị trí cắt nối ẩn hình thành đoạn chèn exon 3B dài 131 bp gây dịch khung và kết thúc sớm protein.
  • Tổng quan các phương pháp phát hiện SNP/indel (Sanger, SNP array: AmpliChip CYP450, Luminex Taq-It, iPLEX ADME, INFINITI) và các phương pháp phát hiện CNV (Real-time PCR, MLPA, aCGH, PCR kỹ thuật số).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm trên 136 mẫu DNA người Kinh:

  • Trình bày danh mục hóa chất, thiết bị, chu trình nhiệt và trình tự các cặp mồi PCR khuếch đại gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6, CYP3A5.
  • Thiết lập thông số điện di mao quản trên máy ABI 3500 và các bước tinh sạch sản phẩm PCR giải trình tự.
  • Quy trình thực hiện phản ứng lai, ghép nối đầu dò và khuếch đại MLPA; tiêu chuẩn phân loại số lượng bản sao dựa trên giá trị DQ của phần mềm Coffalyzer.
  • Quy trình phản ứng Long-range PCR và Real-time PCR kiểm chứng; phương pháp luận phân tích thống kê di truyền quần thể và các thuật toán dự đoán chức năng protein in silico (PolyPhen-2, PROVEAN, Human Splicing Finder).

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được từ 136 mẫu nghiên cứu, tập trung vào các kết quả chính:

1. Đa hình và biến thể mới trên gen CYP2C9

  • Xác định các biến thể đã biết và 05 biến thể mới trong vùng intron cùng 01 biến thể mới trong vùng exon mã hóa: biến thể 42627C>A dẫn đến thay đổi amino acid p.Pro363 trên protein CYP2C9.
  • Phân tích in silico bằng PolyPhen-2 và PROVEAN xác nhận vị trí Proline 363 có tính bảo thủ cao và biến thể 42627C>A gây ảnh hưởng có hại đến cấu trúc protein.
  • Phát hiện hiện tượng mất toàn bộ 01 bản sao của gen CYP2C9 trên mẫu người Kinh bằng phương pháp MLPA và được kiểm chứng khẳng định qua Real-time PCR.

2. Đa hình và biến thể mới trên gen CYP2C19

  • Xác định sự hiện diện của các allele chức năng chính gồm *2, *3 và *17.
  • Phát hiện 03 biến thể mới nằm trong vùng intron của gen CYP2C19. Phân tích qua công cụ Human Splicing Finder cho thấy các biến thể này có tiềm năng ảnh hưởng đến vị trí nhận biết cắt nối intron-exon.

3. Đa hình, biến thể cấu trúc và biến thể mới trên gen CYP2D6

  • Phát hiện 03 biến thể mới trong vùng promoter, 02 biến thể mới trong intron và 02 biến thể mới trong vùng exon mã hóa gồm: 3157G>T và 2988G>A (gây thay đổi vị trí amino acid bảo thủ Arginine 329 trên protein CYP2D6).
  • Kết hợp giải trình tự Sanger và phân tích MLPA đã làm rõ cấu trúc di truyền phức tạp của CYP2D6 ở người Kinh, phát hiện các biến thể cấu trúc (SV), mất toàn bộ gen (*5) và các allele lai sinh ra do chuyển đoạn/dung hợp gen với gen giả CYP2D7/CYP2D8.
Tên Allele CYP2D6 Đặc điểm biến thể / Kiểu chức năng Tần số xuất hiện (%) ở người Kinh
CYP2D6*5 Mất toàn bộ gen (Mất bản sao - Deletion) / Mất chức năng 8,09%
CYP2D6*10 Đột biến điểm 100C>T (p.Pro34Ser) / Giảm chức năng 43,75%
CYP2D6*13 Tái tổ hợp gen lai CYP2D7/2D6 / Mất chức năng 1,55%
*CYP2D6*36-10 Dạng biến thể cấu trúc lặp gen lai / Giảm chức năng 12,13%

4. Đa hình gen CYP3A5

  • Phân tích đa hình intron 3 (6986A>G, allele *3) và các biến thể *6, *8, *9.
  • Xác định allele CYP3A53 chiếm tần số áp đảo trong quần thể người Kinh, dẫn đến phần lớn các cá thể mang kiểu gen đồng hợp tử CYP3A53/*3 (kiểu hình không biểu hiện protein CYP3A5 hoạt động).

5. Phân tích liên kết và so sánh tần số với các quần thể thế giới

  • Phân tích liên kết (Linkage Disequilibrium - LD) làm sáng tỏ các haplotype đặc trưng của CYP2C9, CYP2C19 và CYP2D6 ở người Kinh.
  • So sánh tần số allele cho thấy:
    • Gen CYP2C9: Quần thể người Kinh có tần số allele *3 tương đương các quần thể Đông Á khác, trong khi allele *2 hầu như không xuất hiện (khác biệt rõ rệt với quần thể người da trắng châu Âu).
    • Gen CYP2C19: Tần số allele *2 và *3 ở người Kinh tương đồng với các nước Đông Á, cao hơn nhiều so với người da trắng và người gốc Phi.
    • Gen CYP2D6: Tần số allele giảm hoạt tính CYP2D610 (43,75%) và dạng kết hợp CYP2D636-*10 (12,13%) rất cao, phản ánh đặc trưng chuyển hóa trung bình (IM) phổ biến ở người Kinh, trái ngược với quần thể người da trắng (chủ yếu mang allele mất hoạt tính *4 hoặc allele kiểu dại *1, *2).
    • Gen CYP3A5: Tần số allele *3 cao tương đồng với các quần thể châu Á khác.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  1. Phát hiện các biến thể di truyền mới:

    • Xác định 05 biến thể mới trong vùng intron của gen CYP2C9.
    • Xác định 03 biến thể mới trong vùng intron của gen CYP2C19.
    • Xác định 03 biến thể mới trong vùng promoter và 02 biến thể mới trong vùng intron của gen CYP2D6.
    • Xác định 03 biến thể mới trong vùng exon mã hóa của 02 gen CYP2C9 và CYP2D6, gồm biến thể 42627C>A (p.Pro363) trên CYP2C9, biến thể 3157G>T và 2988G>A (p.Arg329) trên CYP2D6.
    • Phân tích in silico đã chứng minh các biến thể mã hóa mới này nằm ở các vị trí amino acid bảo thủ cao và gây tác động có hại đến cấu trúc cũng như chức năng của protein tương ứng.
  2. Xây dựng cơ sở dữ liệu tần số allele và kiểu gen CYP450 ở người Kinh:

    • Cung cấp bức tranh toàn diện về tần số các allele đã biết và biến thể cấu trúc của 4 gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 trên mẫu người Kinh Việt Nam.
    • Xác định chính xác tỷ lệ các allele làm giảm hoặc mất hoạt tính enzyme CYP2D6 ở người Kinh: CYP2D65 (8,09%), CYP2D610 (43,75%), CYP2D613 (1,547%) và CYP2D636-*10 (12,13%).
    • Phát hiện hiện tượng mất bản sao toàn bộ gen CYP2C9 trong quần thể nghiên cứu bằng kỹ thuật MLPA và Real-time PCR.
  3. Đóng góp cho thực tiễn lâm sàng và di truyền dược học:

    • Cung cấp dữ liệu nền tảng phục vụ việc xây dựng quy trình xét nghiệm sàng lọc trước khi chỉ định các loại thuốc có chỉ số điều trị hẹp tại các cơ sở y tế Việt Nam (như warfarin, clopidogrel, tamoxifen, codeine, tacrolimus, thuốc chống trầm cảm).
    • Đưa ra bằng chứng khoa học phục vụ cá thể hóa liều dùng, giảm thiểu biến chứng chảy máu, thất bại điều trị hoặc các phản ứng có hại của thuốc (ADR).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 136 cá thể người Kinh khỏe mạnh; chưa mở rộng khảo sát trên các nhóm quần thể thuộc 53 dân tộc thiểu số khác sinh sống tại Việt Nam.
  • Tác động chức năng của các biến thể mới phát hiện mới dừng lại ở mức độ dự đoán tin sinh học (in silico), chưa thực hiện các thử nghiệm chức năng biểu hiện protein in vitro hoặc in vivo.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu trên các nhóm dân tộc khác tại Việt Nam để xây dựng bản đồ di truyền dược học hoàn chỉnh cấp quốc gia.
  • Tiến hành các thử nghiệm in vitro biểu hiện các protein mang biến thể mới nhằm đánh giá trực tiếp động học enzyme và khả năng chuyển hóa các cơ chất đặc hiệu.
  • Triển khai các nghiên cứu đoàn hệ lâm sàng (clinical cohort) trên bệnh nhân thực tế điều trị bằng warfarin, clopidogrel hoặc tamoxifen để đối chiếu mối tương quan giữa kiểu gen CYP450 xác định được với nồng độ thuốc trong huyết tương và hiệu quả điều trị.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và lĩnh vực:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Công nghệ sinh học, Di truyền học, Dược lý học và Sinh học phân tử: Tham khảo phương pháp luận kết hợp giải trình tự Sanger, phân tích MLPA xác định CNV/SV và kỹ thuật dự đoán tin sinh học in silico.
  • Bác sĩ và dược sĩ lâm sàng tại các bệnh viện (chuyên khoa tim mạch, ung bướu, tâm thần, ghép tạng): Sử dụng số liệu tần số kiểu hình chuyển hóa (PM, IM, EM, UM) để tham chiếu liều dùng khởi đầu và đánh giá nguy cơ ADR khi kê đơn thuốc.
  • Các nhà quản lý y tế và cơ quan xây dựng chính sách dược: Làm căn cứ khoa học để xây dựng danh mục xét nghiệm gen dược học thường quy và xây dựng hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn gen CYP450 được nghiên cứu trong luận án chịu trách nhiệm chuyển hóa các nhóm thuốc lâm sàng chủ yếu nào?

Bốn gen CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A5 mã hóa các enzyme chuyển hóa 60-80% thuốc kê đơn:

  • CYP2C9: Chuyển hóa thuốc chống đông warfarin, thuốc chống động kinh phenytoin, thuốc hạ đường huyết tolbutamide, thuốc kháng viêm không steroid diclofenac, thuốc hạ huyết áp losartan.
  • CYP2C19: Hoạt hóa thuốc chống kết tập tiểu cầu clopidogrel, chuyển hóa thuốc ức chế bơm proton trị loét dạ dày, thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI, thuốc chống sốt rét proguanil.
  • CYP2D6: Chuyển hóa hơn 25% thuốc lưu hành gồm thuốc điều trị ung thư vú tamoxifen, thuốc giảm đau nhóm opioid (codeine, tramadol, morphine), thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc chống loạn thần, thuốc chống loạn nhịp tim (flecainide, propafenone) và thuốc trị đau thắt ngực perhexiline.
  • CYP3A5: Chuyển hóa thuốc ức chế miễn dịch chống thải ghép tacrolimus, thuốc hóa trị ung thư vincristine, sunitinib.

2. Nghiên cứu đã phát hiện được những biến thể di truyền mới nào trên các gen khảo sát?

Nghiên cứu phát hiện tổng cộng:

  • 05 biến thể mới trong intron của CYP2C9 và 01 biến thể sai nghĩa mới trong exon mã hóa: 42627C>A (thay đổi amino acid Proline 363).
  • 03 biến thể mới trong intron của CYP2C19.
  • 03 biến thể mới trong promoter, 02 biến thể mới trong intron và 02 biến thể mới trong exon mã hóa của CYP2D6: 3157G>T và 2988G>A (thay đổi amino acid Arginine 329).

3. Tần số các allele làm giảm hoặc mất hoạt tính của gen CYP2D6 ở người Kinh Việt Nam là bao nhiêu?

Kết hợp giải trình tự Sanger và kỹ thuật MLPA, tác giả xác định tần số các allele này ở người Kinh gồm:

  • Allele mất hoàn toàn chức năng CYP2D6*5 (mất toàn bộ gen): 8,09%.
  • Allele giảm chức năng CYP2D6*10: 43,75%.
  • Allele mất chức năng dạng gen lai CYP2D6*13: 1,547%.
  • Dạng biến thể cấu trúc CYP2D6*36-*10: 12,13%.

4. Tác giả sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử và công cụ tin sinh học nào trong luận án?

  • Kỹ thuật phân tử: Tách chiết DNA, PCR khuếch đại đặc hiệu, giải trình tự Sanger bằng điện di mao quản trên máy ABI 3500, kỹ thuật MLPA phân tích bằng phần mềm Coffalyzer, Long-range PCR (LR-PCR) và Real-time PCR.
  • Công cụ tin sinh học: PolyPhen-2 và PROVEAN (dự đoán chức năng biến thể sai nghĩa vùng mã hóa), Human Splicing Finder (HSF - phân tích vị trí cắt nối intron-exon), phân tích cân bằng Hardy-Weinberg và độ liên kết không cân bằng (LD).

5. Ý nghĩa của các phát hiện về biến thể gen CYP2C19 đối với bệnh nhân dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu clopidogrel là gì?

Clopidogrel là tiền chất cần được enzyme CYP2C19 hoạt hóa để ức chế thụ thể P2RY12 trên tiểu cầu nhằm ngăn ngừa cục máu đông. Người mang allele mất chức năng (*2, 3) thuộc kiểu hình chuyển hóa trung bình (IM) hoặc chuyển hóa yếu (PM) sẽ không hoạt hóa đủ lượng thuốc, dẫn đến tình trạng kháng clopidogrel và tăng nguy cơ tái phát huyết khối, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ. Ngược lại, người mang allele tăng cường chức năng CYP2C1917 có tốc độ chuyển hóa thuốc nhanh, làm tăng nồng độ thuốc hoạt tính trong máu và đối mặt với nguy cơ xuất huyết cao.

Kết luận

Luận án của tác giả Vũ Phương Nhung đã hoàn thành việc khảo sát toàn diện đặc điểm đa hình, biến thể cấu trúc và biến thể số bản sao của 4 gen chuyển hóa thuốc pha I chủ chốt (CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6, CYP3A5) trên 136 cá thể người Kinh Việt Nam. Công trình đã phát hiện nhiều biến thể mới trong vùng mã hóa và vùng điều hòa có khả năng ảnh hưởng đến chức năng protein, đồng thời xác định tần số cao của các allele giảm và mất hoạt tính enzyme đặc trưng cho quần thể người Kinh (đặc biệt là CYP2D610, CYP2D636-10 và CYP3A53). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu di truyền dược học quan trọng, phục vụ công tác nghiên cứu y sinh học phân tử và định hướng xây dựng phác đồ cá thể hóa liều dùng thuốc trong điều trị lâm sàng tại Việt Nam.