mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. [66] cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài.
Các nhà sinh vật học Nga tập trung các nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Việc xác định diện tích gồm những giai đoạn sau: - Kiểm kê số loài trên một diện tích hạn chế nhất định. - Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên để thấy mức độ tăng số lượng loài - Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểu hiện tối thiểu 1. Ở Việt Nam Việt Nam được xem như một điểm nóng về đa dạng sinh học.
Với lãnh thổ trải dài từ Bắc đến Nam nên có sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các miền đã tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và các loài sinh vật. Theo lời tựa trong cuốn “Cơ sở sinh học bảo tồn”, chúng ta có khoảng 10% trong tổng số tất cả các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 loài sinh vật được biết đến trên trái đất, trong đó ước tính có xấp xỉ 13.000 loài thực vật đã được ghi nhận. Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa họa và thực tiễn lớn, tuy nhiên, chắc chắn đây chưa phải là con số cuối cùng vì hàng năm có rất nhiều các loài thực vật mới trong hệ thực vật Việt Nam đã được ghi nhận [39, 44, 47]. Nghiên cứu về thực vật Việt Nam trước hết phải kể đến các tác giả lớn như Loureiro (1790), Pierre (1879-1907).
Các tác phẩm của các nhà thực vật nổi tiếng này đã đặt nền móng vững chắc cho việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam. Từ những năm đầu của thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng làm nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng sinh vật ở Việt Nam, đó là bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương do H. Lecomte (1907 - 1952) người Pháp chủ biên. Trong công trình này, tác giả đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương[60].
Trên cơ sở Thực vật Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7. Gần đây phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 1966) cùng với nhiều tác giả khác đã công bố 29 tập gồm 74 họ cây có mạch[52]. Năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được ở Miền Bắc có 5.190 loài[62], năm 1969 Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.660 chi, 140 họ trong đó có 5.069 loài thực vật hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại. Song song với thống kê đó, ở Miền Bắc năm 1969 - 1976 nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật đã cho xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên, và ở miền Nam, Phạm Hoàng Hộ công bố 02 tập Cây cỏ Miền Nam Việt Nam giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu còn lại 5.246 loài thực vật bậc cao có mạch[20,1,24].
Viện điều tra quy hoạch rừng đã công bố 07 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988)[6] giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh hoạ, đến năm 1996 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên. Năm 1993, Trần Đình Lý và tập thể đã công bố 1900 cây có ích ở Việt Nam[35]; Năm 1997, Võ Văn Chi đã công bố Từ điển cây thuốc Việt Nam[13], trong đó giới thiệu khá chi tiết về đặc điểm hình thái, bộ phận dùng, nơi sống và thu hái, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, công dụng của 3105 loài cây sử dụng làm thuốc ở Việt Nam (Ngô Tiến Dũng, 2006)[19]. Thời gian gần đây, hệ thực vật Việt Nam đã được hệ thống lại bởi các nhà thực vật Liên Xô và Việt Nam và đăng trong Kỷ yếu “Cây có mạch của thực vật Việt Nam – Vascular Plants Synopsis of Viet Nam Flora” tập 1, 2 (1996) và tạp chí Sinh học số 4 chuyên đề (1994 va 1995) (Ngô Tiến Dũng, 2006)[19]. Trong 3 tập Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ năm 1991-1993 [20] xuất bản tại Canada và đã được tái bản tại Việt Nam năm 1999 – 2000 [21], trên cơ sở bổ sung vào cuốn Cây cỏ Miền Nam một bộ phận thảo mộc quan trọng ở địa bàn các tỉnh phía Bắc đã thống kê được số loài hiện có của hệ thực vật Việt Nam là 10.500 loài, gần đạt con số 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học.
Đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam và là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá phân loại thực vật Việt Nam. Từ năm 1995 đến năm 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng một số tác giả khác đã công bố một số bài báo đa dạng thành phần loài ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hòa Bình, Sơn La, Khu Bảo tồn Na Hang của Tuyên Quang, vùng núi cao Sa Pa - Phansipang, vùng ven biển Nam Trung Bộ, Vườn Quốc gia Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Phong Nha kẻ Bàng, Cát Tiên. trong quá trình nghiên cứu tác giả đã công bố cuốn “ Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” [42]. Trong những năm gần đây, bộ Thực vật chí Việt Nam đã lần lượt xuất bản các tập giới thiệu về các họ: 1) Họ Na - Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân, 2) Họ Bạc hà - Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2000), 3) Họ Cói - Cyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi (2000), 4) Họ Đơn nem - Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002), 5) Họ Trúc đào - Apocynaceae của Trần Đình Lý (2007), 6) Họ Cỏ roi ngựa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Verbenaceae của Vũ Xuân Phương (2007), 7) Họ Cúc Asteraceae - của Lê Kim Biên (2007), 8) Bộ Hoa loa kèn - Liliales của Nguyễn Thị Đỏ (2007), 10) Ngành Rong lục - Chlorophyta (Các taxon vùng biển) của Nguyễn Văn Tiến (2007), Bộ Rong mơ - Fucales của Nguyễn Hữu Đại + Họ Rau răm - Polygonaceae của Nguyễn Thị Đỏ (2007).
Đây là những tài liệu rất quý phục vụ công tác tra cứu, giám định loài, tuy nhiên số lượng các họ được đề cập tới hiện tại còn quá ít. Với cuốn Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (2000)[22], tác giả Trần Hợp đã mô tả đặc điểm nhận biết, phân bố và giá trị sử dụng của 1566 loài cây gỗ phổ biến từ Bắc vào Nam. Trong đó các loài được sắp xếp theo hệ thống tiến hóa của Armen Takhtajan về các ngành Quyết thực vật, ngành Thực vật Hạt trần (1986), ngành Thực vật Hạt kín (1987). Gần đây nhất, Bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội) tập 1, 2, 3 (xuất bản năm 2001, 2003, 2005)[47,48] do tập thể nhiều tác giả được giới thiệu.
Đây là bộ sách đầy đủ nhất góp phần cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam, nhiều tên khoa học mới được cập nhật và chỉnh lý. Bên cạnh công trình nghiên cứu về thực vật theo hướng kiểm kê thành phần loài trên phạm vi rộng, mang tính chất chung cho cả nước hay cho từng miền, còn có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật trên phạm vi nhỏ như “Danh lục thực vật Cúc Phương” của tập thể cán bộ Phân viện nghiên cứu Lâm nghiệp- Tổng cục Lâm nghiệp (1971). Trong công trình này, tập thể tác giả đã công bố danh sách 1674 loài thực vật bậc cao có mạch trên diện tích khoảng 250 km2, nằm trọn vẹn trong cảnh quan địa lý “Đồi Kaster xâm thực Cúc Phương”. Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc (1984) đã công bố kết quả nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên với 3.201 loài kiểm kê được.
Trong “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ (1985) đã công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592 km2; Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1990) nghiên cứu về hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn, Hoà Bình trên diện tích chỉ có 15 km2 đã phát hiện được 1261 loài thực vật bậc cao có mạch với 698 chi và 178 họ thực vật; Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sapa, Phanxipăng. Tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn (1992) đã công bố danh lục thực vật Cúc Phương với 1944 loài, thuộc 228 họ trong 7 ngành thực vật, sau đó được bổ sung, chỉnh lý và tái bản trong công trình “Tính đa dạng hệ thực vật Cúc Phương do các tác giả Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ thực hiện với 1944 loài, 912 chi, 219 họ, 86 bộ trên diện tích 220 km2. Ngoài ra, còn rất nhiều công bố về thành phần loài thực vật của các Vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, khu di tích lịch sử, văn hóa. trên cả nước.
Đa dạng các đơn vị phân loại: trên phạm vi cả nước Nguyễn Tiến Bân (1997)[1, 2, 3] đã thống kê và đi đến kết luận Thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiện biết 8. Trong đó lớp 2 lá mầm là 1.590 chi với trên 6.300 loài và lớp 1 lá mầm là 460 chi với 2. Phan Kế Lộc (1996) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ và 733 loài cây trồng. Như vậy tổng số loài lên đến 10.256 chi (chiếm 15%), 305 họ (chiếm 57%) tổng số các loài, chi và họ của Thế giới.
Ngành hạt kín chiếm 92,47 % tổng số loài, 92,48 tổng số chi và 85,57 % tổng số họ. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống Brummitt (1992) cho thấy hệ thực vật Việt Nam hiện biết đến 11.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao. Tuy nhiên theo dự đoán của các nhà khoa học thực vật, số lượng loài thực vật có thể còn cao hơn nhiều.