Tổng quan nghiên cứu

Khu vực đất ngập nước ven biển huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình sở hữu tổng diện tích tự nhiên hơn 13.000 ha, trải dài trên 27 km bờ biển với 3 cửa sông lớn đổ ra vịnh Bắc Bộ gồm sông Thái Bình, sông Diêm Hộ và sông Trà Lý. Đây là một bộ phận trọng yếu thuộc Khu Dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng được UNESCO chính thức công nhận từ năm 2004. Hệ sinh thái nơi đây mang tính đặc thù cao với 1.759 ha rừng ngập mặn, đóng vai trò như đai rừng phòng hộ ngăn sóng, bão và cung cấp bãi đẻ cho hàng ngàn loài thủy hải sản.

Tuy nhiên, áp lực phát triển kinh tế - xã hội cục bộ trong những năm qua, đặc biệt là quá trình chuyển đổi bãi triều sang nuôi trồng thủy sản thâm canh và việc xả thải chưa qua xử lý, đã làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng môi trường và mức độ đa dạng sinh học. Tình trạng này đe dọa trực tiếp đến quần thể của hơn 1.000 loài động thực vật, trong đó có nhiều loài chim di cư trú đông quý hiếm toàn cầu nằm trong Sách đỏ IUCN.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Động vật học (Mã số: 60 42 01 03) của tác giả Ngô Thị Thu Hiền, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Hùng Anh tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, được thực hiện nhằm khảo sát toàn diện hiện trạng sinh thái, đánh giá nguồn lợi sinh vật và nhận diện các áp lực nhân sinh. Nghiên cứu cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật từ tháng 01/2016 đến tháng 08/2017, đóng vai trò là luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ tiến trình quy hoạch thành lập Khu bảo tồn đất ngập nước ven biển Thái Thụy, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế địa phương và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa lý thuyết sinh thái học hiện đại và quản lý tài nguyên thiên nhiên:

  • Tiếp cận hệ thống (Systems Approach): Xem xét vùng triều và cửa sông ven biển như một hệ thống mở luôn biến động dưới sự tác động đồng thời của các quy luật tự nhiên và hoạt động kinh tế nhân sinh.
  • Tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach): Đảm bảo tính cân bằng giữa 3 trụ cột cơ bản: môi trường tự nhiên, xã hội và kinh tế. Cách tiếp cận này khẳng định việc duy trì toàn vẹn các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước là điều kiện tiên quyết để duy trì sinh kế bền vững.
  • Bộ công cụ đánh giá dịch vụ hệ sinh thái (TESSA): Hỗ trợ lượng hóa các giá trị lưu giữ đa dạng sinh học, dịch vụ cung cấp và dịch vụ điều tiết môi trường của vùng đất ngập nước.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được chuẩn hóa theo quy chuẩn quốc tế, bao gồm: Đa dạng sinh học (Biodiversity), Đất ngập nước theo Công ước Ramsar (Wetlands), Diễn thế sinh thái (Ecological Succession), và Chiến lược sử dụng khôn khéo tài nguyên đất ngập nước (Wise use of wetlands). Nghiên cứu cũng kế thừa bài học kinh nghiệm từ các mô hình quản lý đất ngập nước trên thế giới như mô hình đồng quản lý tại Sonora (Mexico - 62.000 ha), đầm triều Yatsu Higata (Nhật Bản - bảo tồn 90% bãi bùn nhân tạo), mô hình phục hồi rừng ngập mặn Kalibo (Philippines - 50 ha) và mô hình quản lý ngao giống cộng đồng tại Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp điều tra đa ngành theo tiêu chuẩn của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR) và Bộ Tài nguyên và Môi trường:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua các đợt thực địa liên tục trong mùa khô và mùa mưa (tập trung cao điểm vào các tháng 1, 2 và 3/2016). Dữ liệu thứ cấp kế thừa từ chuỗi ảnh viễn thám vệ tinh Landsat các thời kỳ 1987, 1995, 2003, 2015, 2016, Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình và các báo cáo môi trường giai đoạn 2011 - 2015.
  • Quy mô và phương pháp chọn mẫu: Thiết lập 7 tuyến khảo sát liên ngành cắt ngang 6 kiểu sinh cảnh đất ngập nước đại diện từ chân đê Quốc gia ra đến độ sâu 6 m nước vùng triều kiệt tại 5 xã ven biển (Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Đô) và thị trấn Diêm Điền. Bố trí 6 trạm quan trắc cố định đo đạc 6 chỉ tiêu lý - hóa nước nhanh bằng máy đo chuyên dụng tại hiện trường và lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm. Mẫu động vật đáy, thực vật và côn trùng được thu bằng lưới kéo đáy, khung đo định lượng $0,25\text{ m}^2$, màn bẫy sáng và phương pháp quan trắc chim qua ống nhòm chuyên dụng.
  • Phương pháp phân tích: Lý do lựa chọn bộ công cụ Primer v6 là nhằm tính toán chính xác các chỉ số sinh học đa dạng loài (Shannon-Wiener, Pielou, Margalef) và ma trận tương đồng Sorensen-Dice. Xử lý không gian biến động diện tích rừng ngập mặn qua phần mềm GIS và giải đoán ảnh vệ tinh quang học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Đặc trưng phân bố sinh cảnh và diễn thế rừng ngập mặn: Toàn vùng ven biển Thái Thụy ghi nhận 1.759 ha rừng ngập mặn, tăng mạnh so với năm 1987 nhờ các chương trình trồng rừng phòng hộ từ năm 1994. Trong đó, có khoảng 30 ha rừng bần chua (Sonneratia caseolaris) tự nhiên cổ thụ trên 50 năm tuổi phân bố tại xã Thụy Trường. Diện tích bãi gian triều không có rừng ngập mặn chiếm khoảng 4.700 ha, là bãi ăn thiết yếu của chim nước và vùng nuôi ngao bãi triều. Quá trình bồi tụ phù sa diễn ra mạnh mẽ với tốc độ lấn biển trung bình từ 60 - 80 m/năm, giúp quỹ đất tự nhiên của huyện gia tăng khoảng 10,8 ha/năm.
  • Chất lượng môi trường nước: Nhiệt độ nước biển mùa khô dao động từ 7,6 - 9,2°C, độ mặn biến thiên mạnh từ 8,68‰ ở các lạch triều trong rừng đến 20,18‰ tại vùng cửa sông. Đã xuất hiện dấu hiệu phú dưỡng hóa cục bộ khi hàm lượng COD (51,28 - 65,12 mg/l), phosphat và nitrat tại các lạch triều vượt ngưỡng cho phép theo QCVN 10:2008/BTNMT và QCVN 08:2008/BTNMT. Nồng độ Cl- tại hạ lưu sông Hóa vượt tới 7 lần tiêu chuẩn cho phép.
  • Đa dạng thành phần loài và giá trị bảo tồn: Khu hệ động vật ghi nhận hơn 1.000 loài phân bố tại các hệ sinh thái vùng triều. Đã xác nhận sự xuất hiện của các loài chim di cư toàn cầu cực kỳ nguy cấp trong Sách đỏ IUCN như Cò thìa (Platalea minor), Mòng bể mỏ ngắn (Larus saundersi), Rẽ mỏ thìa (Eurynorhynchus pygmeus) và Quắm đầu đen (Threskiornis melanocephalus). Chỉ số tương đồng thành phần loài côn trùng giữa Thái Thụy và Vườn quốc gia Xuân Thủy đạt mức trung bình với $d_{ijk} = 0,4$ (84 loài xuất hiện đồng thời ở cả hai khu vực).

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu phản ánh cấu trúc phân hóa sinh thái phức tạp của vùng cửa sông châu thổ mở. Dữ liệu thành phần loài và chất lượng nước có thể được trực quan hóa thông qua ma trận phân nhóm Cluster Analysis và sơ đồ GIS đa lớp để thể hiện rõ mối tương quan giữa độ mặn, mức độ giàu dinh dưỡng và mật độ sinh vật đáy.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng nồng độ dinh dưỡng và chất hữu cơ tại các lạch triều là do nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý từ các cụm dân cư ven đê và dư lượng thức ăn từ các đầm nuôi tôm thâm canh xả thẳng ra bãi triều. Khi so sánh với Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định), dải rừng ngập mặn Thái Thụy có tính liên tục cao hơn theo chiều dài bờ biển nhưng hệ thống lạch triều tự nhiên ít phân nhánh hơn, tạo thành các tuyến dòng chảy dạng xương cá đổ vuông góc ra biển. Đợt rét đậm lịch sử tháng 01/2016 với nhiệt độ nước hạ sâu dưới 8°C gây thiệt hại hàng loạt diện tích cá vược nuôi đã chứng minh tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái trước biến đổi khí hậu cực đoan.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:

  • Thành lập Khu bảo tồn đất ngập nước Thái Thụy: UBND tỉnh Thái Bình phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường đẩy nhanh tiến trình phê duyệt đề án thành lập Khu bảo tồn đất ngập nước ven biển Thái Thụy trước năm 2020. Phân định rõ 3 phân khu chức năng: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (tập trung 30 ha rừng bần cổ thụ Thụy Trường và bãi kiếm ăn của chim di cư Cồn Đen), Phân khu phục hồi sinh thái và Phân khu dịch vụ - hành chính.
  • Quy hoạch và chuẩn hóa nuôi trồng thủy sản: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình kiểm soát chặt chẽ diện tích nuôi tôm thâm canh trong đê, chuyển đổi 100% diện tích đầm tôm ngoài đê sang mô hình tôm - rừng sinh thái kết hợp trồng phục hồi cây ngập mặn. Áp dụng quy chế quản lý vùng nuôi ngao theo Quyết định số 1519/QĐ-UBND nhằm hạn chế xung đột diện tích bãi ăn của chim nước.
  • Xử lý ô nhiễm chất thải rắn và nước thải: UBND huyện Thái Thụy và các xã ven biển triển khai dự án thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tập trung tại 5 xã ven biển, đặt mục tiêu thu gom và xử lý đạt trên 85% lượng rác thải sinh hoạt phát sinh, chấm dứt hoàn toàn tình trạng đổ rác tự phát ra đai rừng ngập mặn trong giai đoạn 2018 - 2022.
  • Xây dựng cơ chế đồng quản lý và sinh kế bền vững: Áp dụng bài học từ mô hình Vườn quốc gia Xuân Thủy, trao quyền tự quản và chia sẻ lợi ích khai thác ngao giống, cáy, cua biển cho cộng đồng dân cư địa phương; hỗ trợ kỹ thuật nuôi trồng thủy sản bền vững cho ít nhất 50 hộ dân thí điểm tại xã Thụy Trường và Thái Đô.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Biển và Hải đảo, UBND huyện Thái Thụy sử dụng nguồn số liệu đo đạc chuẩn xác để hoạch định chính sách không gian biển, xây dựng quy chế bảo tồn và cấp phép nuôi trồng thủy sản.
  • Các nhà khoa học, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Sinh học - Môi trường: Tài liệu tham khảo hữu ích về phương pháp điều tra sinh thái vùng triều cửa sông, kỹ thuật phân tích chỉ số sinh học đa dạng loài và phương pháp giải đoán ảnh viễn thám biến động tài nguyên rừng ngập mặn.
  • Các tổ chức phi chính phủ và bảo tồn thiên nhiên (IUCN, WWF, Vietnature): Cung cấp các bằng chứng khoa học cập nhật phục vụ công tác xây dựng dự án bảo tồn các loài chim di cư có nguy cơ tuyệt chủng trên đường bay Đông Á - Úc Châu.
  • Các doanh nghiệp phát triển du lịch sinh thái và nuôi trồng thủy sản: Định hướng chuyển đổi mô hình kinh tế xanh, khai thác bền vững các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước tại khu vực Cồn Đen và dải rừng ngập mặn ven bờ.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao vùng ven biển Thái Thụy lại có giá trị bảo tồn chim nước tầm cỡ quốc tế? Khu vực này nằm trên tuyến đường bay di cư Đông Á - Úc Châu, sở hữu 4.700 ha bãi triều giàu thức ăn động vật đáy. Nơi đây thường xuyên tiếp nhận các loài nguy cấp toàn cầu như Cò thìa (Platalea minor) và Rẽ mỏ thìa (Eurynorhynchus pygmeus) đến trú đông và nạp năng lượng.
  • Rừng ngập mặn Thái Thụy có những đặc điểm gì khác biệt so với các vùng lân cận? Rừng ngập mặn Thái Thụy trải dài liên tục 27 km ven bờ biển như một đai xanh chắn sóng vững chắc. Đặc biệt, khu vực xã Thụy Trường còn lưu giữ được khoảng 30 ha rừng bần chua tự nhiên cổ thụ trên 50 năm tuổi với cấu trúc thân gỗ lớn nguyên vẹn.
  • Tình trạng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu đang đối mặt với nguy cơ nào? Khảo sát tháng 01/2016 ghi nhận hiện tượng phú dưỡng cục bộ tại các lạch triều nội rừng, với chỉ số COD (đạt tới 65,12 mg/l), nitrat và phosphat vượt quy chuẩn Việt Nam do ảnh hưởng từ nước thải sinh hoạt và xả thải đầm nuôi tôm thâm canh.
  • Áp lực kinh tế lớn nhất đối với hệ sinh thái đất ngập nước Thái Thụy là gì? Áp lực lớn nhất đến từ việc tự phát mở rộng diện tích đầm nuôi tôm thẻ chân trắng, đắp đầm nuôi ngao che phủ các bãi triều tự nhiên và lượng rác thải sinh hoạt khó phân hủy tràn lan ngoài chân đê biển.
  • Mô hình quản lý bảo tồn nào mang lại hiệu quả bền vững nhất cho địa phương? Mô hình đồng quản lý dựa vào cộng đồng (Co-management) kết hợp chia sẻ lợi ích kinh tế từ tài nguyên như Vườn quốc gia Xuân Thủy đã áp dụng, vừa giúp người dân có sinh kế bền vững vừa nâng cao trách nhiệm giám sát bảo vệ rừng ngập mặn.

Kết luận

  • Luận văn đã cập nhật toàn diện bộ cơ sở dữ liệu về 1.759 ha rừng ngập mặn và 4.700 ha bãi gian triều tại dải ven biển huyện Thái Thụy.
  • Khẳng định giá trị sinh học vượt trội của khu vực với sự cư trú của hơn 1.000 loài động thực vật và nhiều loài chim di cư quý hiếm thuộc Sách đỏ IUCN.
  • Chỉ rõ các nguy cơ môi trường hiện hữu về ô nhiễm hữu cơ tại lạch triều và áp lực chuyển đổi sinh cảnh từ các hoạt động kinh tế ven bờ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ lấy việc thành lập Khu bảo tồn đất ngập nước Thái Thụy làm hạt nhân trung tâm trong giai đoạn tới.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền và cộng đồng địa phương tăng cường hợp tác bảo vệ bức tường xanh ven biển, thúc đẩy phát triển bền vững cho vùng duyên hải Bắc Bộ.