Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khu hệ thú (Mammalia) giữ vai trò then chốt trong việc duy trì cấu trúc và chức năng sinh thái của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới, đồng thời là nhóm sinh vật chỉ thị nhạy cảm trước các tác động nhân sinh và biến đổi sinh cảnh. Tại Việt Nam, nhiều cuộc điều tra đã ghi nhận sự hiện diện của 312 loài và phân loài thú. Tuy nhiên, áp lực từ nạn săn bắt trái phép, suy giảm diện tích rừng tự nhiên và sự phân mảnh sinh cảnh đã đẩy nhiều loài thú quý hiếm vào tình trạng nguy cấp.
Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu được thành lập theo Quyết định số 1536/QĐ-UBND ngày 21/09/2001 và Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu được thành lập theo Quyết định số 408/QĐ-UBND ngày 21/07/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Khu bảo tồn quản lý tổng diện tích tự nhiên 58.187 ha, nằm trên địa bàn 5 xã thuộc 2 huyện: Yên Thuận, Phù Lưu (huyện Hàm Yên) và Trung Hà, Hà Lang, Hòa Phú (huyện Chiêm Hóa). Đây là khu vực lưu giữ mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm núi thấp có tính đa dạng sinh học cao đặc trưng cho vùng Đông Bắc.
Dù đã có một số đoàn khảo sát thực hiện nghiên cứu tại đây, các dữ liệu thu thập trước đó chủ yếu tập trung vào thú lớn và các loài linh trưởng quý hiếm như Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi). Nhóm thú nhỏ bao gồm thú ăn sâu bọ, dơi và gặm nhấm hầu như chưa được điều tra bài bản; các dẫn liệu về hình thái học, phân bố sinh cảnh và hiện trạng quần thể còn thiếu tính hệ thống. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quản lý và bảo tồn, đề tài "Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ thú tại khu rừng đặc dụng Cham Chu làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn" đã được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Xác định tính đa dạng về thành phần loài thú tại khu rừng đặc dụng Cham Chu, lập danh lục và thống kê các loài thú quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen.
- Phân tích đặc điểm phân bố sinh cảnh của khu hệ thú và các yếu tố tác động từ hoạt động nhân sinh tại khu vực nghiên cứu.
- Phân tích hiện trạng khu hệ thú, đánh giá các giá trị bảo tồn, kinh tế, sinh thái, đồng thời đánh giá tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên thú rừng làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lớp Thú (Mammalia) phân bố tại Khu rừng đặc dụng Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lâm phận Khu rừng đặc dụng Cham Chu, tập trung khảo sát thực địa chuyên sâu trên địa bàn 2 xã Yên Thuận và Phù Lưu (huyện Hàm Yên), nơi có diện tích rừng tự nhiên tập trung lớn nhất.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu ngoại nghiệp và xử lý nội nghiệp từ ngày 01/09/2014 đến ngày 25/05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên lý thuyết phân loại học động vật có xương sống, sinh thái học quần thái động vật rừng nhiệt đới và khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của GS.TS Thái Văn Trừng. Hệ thống phân loại và danh lục thú đối chiếu theo "Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam", Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2014) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Để hỗ trợ định danh ngoại nghiệp, đề tài áp dụng các tài liệu chuyên khảo: "Hướng dẫn điều tra thú ngoại nghiệp nhận dạng các loài linh trưởng" của Tổ chức FFI, "Nhận dạng động vật hoang dã bị buôn bán" của Mạng lưới TRAFFIC và "Sổ tay kiểm lâm thú ăn thịt nhỏ ở Việt Nam".
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa hồi cứu tư liệu, điều tra xã hội học và khảo sát thực địa:
-
Kế thừa chọn lọc tài liệu: Kế thừa dữ liệu điều kiện tự nhiên, tài nguyên rừng, kinh tế - xã hội giai đoạn 2013 - 2014; Báo cáo kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các loài nguy cấp tại Rừng đặc dụng Cham Chu năm 2010 và Báo cáo điều tra đa dạng sinh học năm 2014 của Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu.
-
Phương pháp phỏng vấn: Áp dụng quy trình phỏng vấn 3 bước đối với 5 cán bộ kiểm lâm và 25 người dân địa phương thường xuyên đi rừng (người có kinh nghiệm, thợ săn thuộc các nhóm dân tộc Tày, Dao):
- Bước 1: Người được phỏng vấn tự miêu tả các loài thú từng bắt gặp hoặc săn bắt, địa điểm, thời gian và tập tính ghi nhận.
- Bước 2: Sử dụng tranh ảnh, hình vẽ màu chuẩn hóa từ tài liệu của FFI, TRAFFIC để người dân đối chiếu, xác thực thông tin và bổ sung địa điểm xuất hiện.
- Bước 3: Quan sát, đo đếm và chụp ảnh các mẫu vật thú rừng được người dân lưu giữ trong nhà (hộp sọ, sừng, nanh, móng vuốt, da).
- Phương pháp khảo sát thực địa theo tuyến: Thực hiện 2 đợt khảo sát tại 7 tuyến thuộc 2 xã Yên Thuận và Phù Lưu. Chiều dài mỗi tuyến tương đương 4 đến 5 giờ đi bộ qua các dạng sinh cảnh đặc trưng:
- Tuyến 1: Cao Đường - Đá Trắng (4 giờ; rừng nguyên sinh cây gỗ lớn trên núi đá vôi).
- Tuyến 2: Cao Đường - Khuổi Cùng (5 giờ; rừng ven suối, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh trên núi đá vôi).
- Tuyến 3: Cao Đường - Nậm Tậu (4 giờ; rừng thứ sinh núi đất, rừng nguyên sinh núi đá vôi).
- Tuyến 4: Cao Đường - Nà Trang (5 giờ; rừng thứ sinh núi đất, rừng nguyên sinh núi đá vôi).
- Tuyến 5: Thôm Tấu - Kết Tử, Bó Hon (4 giờ; rừng ven suối, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh trên núi đá vôi).
- Tuyến 6: Nặm Nương - Quan Ba, Thẩm Ký (5 giờ; rừng thứ sinh núi đất, rừng nguyên sinh núi đá vôi).
- Tuyến 7: Lăng Đán - Lũng Giàng (4 giờ; rừng thứ sinh núi đất, rừng nguyên sinh núi đá vôi).
Điều tra ban ngày thu thập dấu vết gián tiếp (dấu chân, vết ủi đất của Lợn rừng, vết đào bới của Chồn vàng, vết cắn, phân) và quan sát trực tiếp cá thể. Điều tra ban đêm thực hiện ở điều kiện cho phép. Riêng bộ Dơi được điều tra bằng đèn pin đội đầu trong hang đá vôi và quan sát bằng ống nhòm dưới tán rừng.
- Phương pháp thu thập và định danh mẫu vật: Ghi nhận số lượng, năm săn bắt, chủ hộ lưu giữ mẫu vật (sừng Sơn dương, nanh Lợn rừng). Dữ liệu sau đó được tổng hợp nội nghiệp, tra cứu khóa phân loại để xác định bậc phân loại khoa học.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê quy hoạch đất lâm nghiệp tỉnh Tuyên Quang, hồ sơ quản lý của Hạt kiểm lâm Cham Chu và nguồn số liệu ngoại nghiệp thực chứng thu thập trong năm 2014 - 2015.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Nội dung chương đặt vấn đề về vai trò sinh thái và giá trị kinh tế của lớp Thú trong hệ sinh thái rừng; phân tích thực trạng suy giảm tài nguyên rừng tại Việt Nam và tính cấp thiết của công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng núi Đông Bắc. Tác giả phân tích tính cấp bách tại Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu – nơi có diện tích rừng tự nhiên rộng lớn nhưng thiếu dữ liệu điều tra toàn diện về các nhóm thú nhỏ, dẫn đến khó khăn trong công tác lập kế hoạch bảo tồn. Từ đó, xác định rõ mục đích, mục tiêu, ý nghĩa học tập và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết thành tựu nghiên cứu khu hệ thú trên thế giới (phát hiện các loài linh trưởng mới tại Nam Mỹ, thú ăn sâu bọ ở Tanzania, các nhóm gặm nhấm tại Peru) và lịch sử nghiên cứu khu hệ thú tại Việt Nam qua các giai đoạn:
- Thời kỳ phong kiến trước thế kỷ XVIII (ghi chép trong sách của Lê Quý Đôn, Đại Nam nhất thống chí).
- Giai đoạn thực dân Pháp (thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX với các đoàn khảo sát Pavie, Delacour, công trình danh lục của Osgood năm 1932 gồm 127 loài).
- Giai đoạn sau 1954 đến 1975 ở miền Bắc (công trình của Lê Hiền Hào, Đào Văn Tiến).
- Giai đoạn sau 1975 đến nay với các công trình toàn diện của Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Trường Sơn.
Phần điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội mô tả địa hình núi Cham Chu với 3 đỉnh cao trung tâm (đỉnh Cham Chu 1.154 m, đỉnh Khau Vuông 1.050 m), chia cắt thành 3 kiểu địa hình: núi cao tỏa tia, dải đồng bằng thung lũng hẹp và địa hình ngập nước. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 22,9°C, lượng mưa trung bình 1.661 mm (tập trung 65,24% vào các tháng 6, 7, 8, 9). Mạng lưới thủy văn có mật độ 1,9 km/km² với hệ thống sông Lô, sông Khuổi Guồng. Thảm thực vật có 7 kiểu chính, trong đó rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp chiếm diện tích lớn nhất (6.071,5 ha), rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi trung bình (5.648,9 ha) và rừng trên núi đá vôi (2.284,8 ha). Hệ thực vật có mạch ghi nhận 906 loài thuộc 425 chi, 136 họ. Động vật có xương sống trên cạn ghi nhận sơ bộ 38 loài thú, 47 loài chim, 11 loài bò sát.
Về kinh tế - xã hội, toàn khu có 29.703 nhân khẩu thuộc 6.832 hộ tại 83 thôn bản, gồm 8 dân tộc (Tày chiếm 52,3%, Dao 24,7%, Kinh 16,0%, các dân tộc khác 7,0%). Lao động nông nghiệp chiếm 85% dân số. Quỹ đất sản xuất nông nghiệp trong vùng lõi chỉ có 235,8 ha (chiếm 1,5% diện tích tự nhiên, bình quân đất trồng cây hàng năm đạt 0,195 ha/người), tạo áp lực xâm canh đất dốc và phát triển cam sành Hàm Yên vào phân khu phục hồi sinh thái.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết đối tượng, địa điểm, thời gian thực hiện đề tài; xây dựng hệ thống 5 nội dung nghiên cứu trọng tâm. Chương này mô tả chi tiết phương pháp kế thừa dữ liệu; thiết kế bộ câu hỏi và quy trình 3 bước phỏng vấn kiểm lâm, người dân; xác lập hải trình 7 tuyến điều tra ngoại nghiệp tại xã Yên Thuận và xã Phù Lưu với thời lượng đo bằng giờ đi bộ; kỹ thuật tìm kiếm dấu vết cơ học ngoài thực địa; cách thức ghi nhận và lưu giữ mẫu vật sinh học; phương pháp tổng hợp phân tích nội nghiệp theo chuẩn phân loại học hiện hành.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ kết quả điều tra nguyên sinh:
- Đã lập danh lục gồm 48 loài thú thuộc 18 họ, 6 bộ tại Khu rừng đặc dụng Cham Chu. Bổ sung 10 loài thú nhỏ (8 loài gặm nhấm, 2 loài dơi) so với báo cáo năm 2014 của khu bảo tồn. Nêu rõ 2 loài còn nghi ngờ về sự hiện diện là Báo gấm (Neofelis nebulosa) và Dơi lá quạt (Rhinolophus paradoxophus).
- Phân tích cấu trúc phân loại học: Bộ Ăn thịt chiếm ưu thế tuyệt đối (18 loài, 37,5%), kế tiếp là Bộ Gặm nhấm (14 loài, 29,17%), Bộ Linh trưởng (7 loài, 14,58%), Bộ Guốc chẵn (5 loài, 10,42%), Bộ Dơi (3 loài, 6,25%) và Bộ Tê tê (1 loài, 2,08%).
- So sánh đa dạng thành phần loài với 4 khu vực lân cận ở miền Bắc (Na Hang, Kim Hỷ, Thần Sa - Phượng Hoàng, VQG Ba Bể), chỉ ra chỉ số đa dạng loài của Cham Chu thấp hơn các khu bảo tồn này.
- Phân bố sinh cảnh: Thống kê số loài xuất hiện trên 4 sinh cảnh chính (Rừng núi đất: 31 loài; Rừng núi đá vôi: 22 loài; Làng bản nương rẫy: 14 loài; Thủy vực: 4 loài). Phân tích tập tính thích nghi sinh học và đặc điểm cấu trúc rừng ảnh hưởng đến sự phân bố của từng nhóm loài.
- Đánh giá giá trị khu hệ thú: Phân tích giá trị sinh thái (chuỗi thức ăn, cân bằng quần xã), giá trị kinh tế (cung cấp thực phẩm, dược liệu trước đây), giá trị khoa học và bảo tồn nguồn gen (nhiều loài linh trưởng và thú ăn thịt nằm trong Sách đỏ và các phụ lục bảo vệ nghiêm ngặt).
- Nhận diện các mối đe dọa trực tiếp: Tình trạng săn bắn bẫy bắt thú rừng bằng súng tự chế và bẫy dây thép; khai thác gỗ quý (Nghiến, Trai, Chò chỉ); khai thác củi đun và lâm sản ngoài gỗ; tình trạng phá rừng mở rộng nương rẫy trồng cam sành; chăn thả gia súc tự do trong rừng đặc dụng. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của Hạt kiểm lâm Cham Chu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp: Bảo vệ nguyên vẹn sinh cảnh sống, tăng cường kiểm tra tuần tra rừng, tuyên truyền giáo dục môi trường, hỗ trợ sinh kế và quy hoạch vùng canh tác cây có múi cho người dân vùng đệm.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về hiện trạng đa dạng thành phần loài, phân bố sinh cảnh và nguyên nhân suy giảm tài nguyên thú tại Rừng đặc dụng Cham Chu. Kiến nghị các cơ quan chức năng tỉnh Tuyên Quang và các tổ chức bảo tồn tiếp tục đầu tư kinh phí, thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái quần thể các loài nguy cấp, đặc biệt là nhóm thú nhỏ và linh trưởng.
Kết quả và đóng góp
Cấu trúc phân loại khu hệ thú Rừng đặc dụng Cham Chu
Dữ liệu điều tra của khóa luận đã xác định khu hệ thú tại Rừng đặc dụng Cham Chu gồm 48 loài, thuộc 18 họ và 6 bộ. So với tổng số thú toàn quốc (ghi nhận 310 loài, 37 họ, 12 bộ trong các tài liệu phân loại được đối chiếu), Cham Chu chiếm 50,00% số bộ, 48,64% số họ và 15,48% số loài.
| STT |
Tên bộ thú (Bộ phổ thông / Tên khoa học) |
Số họ |
Tỷ lệ (%) |
Số loài |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Bộ Linh trưởng (Primates) |
2 |
11,11 |
7 |
14,58 |
| 2 |
Bộ Tê tê (Pholidota) |
1 |
5,56 |
1 |
2,08 |
| 3 |
Bộ Ăn thịt (Carnivora) |
6 |
33,33 |
18 |
37,50 |
| 4 |
Bộ Guốc chẵn (Artiodactyla) |
3 |
16,67 |
5 |
10,42 |
| 5 |
Bộ Gặm nhấm (Rodentia) |
5 |
27,78 |
14 |
29,17 |
| 6 |
Bộ Dơi (Chiroptera) |
1 |
5,56 |
3 |
6,25 |
| Tổng |
6 bộ |
18 |
100,00 |
48 |
100,00 |
Trong các bộ, Bộ Ăn thịt (Carnivora) chiếm ưu thế lớn nhất về cả số họ (6 họ) và số loài (18 loài), đại diện bởi các họ Chó (Canidae), Gấu (Ursidae), Triết/Chồn (Mustelidae), Cầy (Viverridae), Cầy lỏn (Herpestidae), Mèo (Felidae). Đứng thứ hai là Bộ Gặm nhấm (Rodentia) với 5 họ và 14 loài. Bộ Tê tê (Pholidota) có tính đa dạng thấp nhất với duy nhất 1 họ và 1 loài Tê tê (Manis pentadactyla).
So sánh với các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia miền Bắc
Khóa luận đã so sánh mức độ phong phú khu hệ thú của Cham Chu với 4 khu rừng đặc dụng khác tại vùng Đông Bắc (số liệu năm 2013):
| TT |
Khu bảo tồn thiên nhiên / Vườn quốc gia |
Số bộ |
Số họ |
Số loài |
Tỷ lệ số loài Cham Chu so với khu vực (%) |
| 1 |
Khu RĐD Cham Chu (Tuyên Quang, 2014) |
6 |
18 |
48 |
100,00 |
| 2 |
Khu BTTN Na Hang (Tuyên Quang, 2013) |
8 |
23 |
62 |
77,42 |
| 3 |
Khu BTTN Kim Hỷ (Bắc Kạn, 2013) |
7 |
23 |
68 |
70,59 |
| 4 |
Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (Thái Nguyên, 2013) |
8 |
25 |
56 |
85,71 |
| 5 |
Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn, 2013) |
7 |
23 |
65 |
73,85 |
Kết quả so sánh cho thấy số lượng loài thú tại Khu rừng đặc dụng Cham Chu đạt mức độ đa dạng thấp hơn so với tất cả các khu BTTN và VQG lân cận được đối chiếu. Nguyên nhân được tác giả chỉ ra là do địa bàn Cham Chu chịu áp lực dân sinh lớn hơn, thiếu vắng các nghiên cứu bẫy bắt thú nhỏ quy mô lớn và mức độ phân mảnh sinh cảnh diễn ra nhanh chóng.
Đặc điểm phân bố theo sinh cảnh
Dựa trên kết quả điều tra tuyến và phỏng vấn, sự phân bố của 48 loài thú theo 4 dạng sinh cảnh được tổng hợp cụ thể:
| Dạng sinh cảnh |
Ký hiệu |
Số loài ghi nhận |
Tỷ lệ so với tổng số loài (%) |
Nhóm loài ưu thế và đặc trưng |
| Rừng trên núi đất |
A |
31 |
64,58 |
Thú Ăn thịt (Báo lửa, Lửng chó, Cầy), Guốc chẵn (Lợn rừng, Nai, Hoẵng), Gặm nhấm (Dúi nâu, Nhím, Sóc) |
| Rừng trên núi đá vôi |
B |
22 |
45,83 |
Linh trưởng (Cu li, Khỉ mốc, Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch), Dơi (Rhinolophus), Mèo rừng |
| Làng bản nương rẫy |
D |
14 |
29,16 |
Các loài Chuột (Rattus), Sóc bay trâu, Sóc chuột hải nam, Cầy mác |
| Thủy vực |
C |
4 |
8,30 |
Rái cá thường, Rái cá vuốt bé, Tê tê, Mèo rừng kiếm ăn ven suối |
Sinh cảnh rừng núi đất lưu giữ số loài cao nhất do cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng tán, nguồn thức ăn dồi dào và điều kiện làm tổ dưới đất, trong hang hốc thuận lợi. Sinh cảnh thủy vực và làng bản nương rẫy có số lượng loài thấp nhất do diện tích manh mún và chịu tác động trực tiếp, thường xuyên từ các hoạt động sinh hoạt, canh tác của con người.
Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Bổ sung dẫn liệu khoa học: Đề tài đã bổ sung 10 loài thú vào danh lục khu hệ thú Rừng đặc dụng Cham Chu so với báo cáo điều tra năm 2014 của Hạt kiểm lâm (nâng tổng số từ 38 lên 48 loài). 10 loài bổ sung gồm: Chuột cống (Rattus norvegicus), Chuột bụng bạc (Rattus argentiventer), Chuột bụng trắng (Rattus niviventer), Chuột rừng (Rattus remotus), Chuột núi (Rattus sabanus), Chuột đồng bé (Rattus losea), Chuột nhà (Rattus flavipertus), Dúi nâu (Cannomys badius), Dơi lá tai dài (Rhinolophus macrotis), Dơi lá mũi nhỏ (Rhinolophus pusillus).
- Xác thực tình trạng phân loại: Xác định 2 loài thú quý hiếm chưa đủ căn cứ khẳng định chắc chắn sự tồn tại ngoài thực địa (chỉ ghi nhận qua lời kể hồi cứu), xếp vào diện nghi ngờ cần điều tra bổ sung: Báo gấm (Neofelis nebulosa) và Dơi lá quạt (Rhinolophus paradoxophus).
- Giải pháp bảo tồn tác giả đề xuất:
- Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát rừng: Thành lập các tổ tuần tra liên ngành giữa Kiểm lâm và chính quyền xã Yên Thuận, Phù Lưu; xóa bỏ các điểm nóng săn bắn, tịch thu súng săn tự chế và bẫy cơ học.
- Quản lý sử dụng đất bền vững: Rà soát lại quy hoạch nương rẫy, khoanh định cụ thể diện tích trồng cam sành Hàm Yên, chấm dứt tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp tại phân khu phục hồi sinh thái.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tổ chức các chiến dịch truyền thông về bảo vệ động vật hoang dã cho đồng bào dân tộc Tày, Dao; lồng ghép quy ước bảo vệ rừng vào hương ước thôn bản.
- Hỗ trợ sinh kế: Triển khai các chương trình giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng; hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi có kiểm soát để giảm bớt việc chăn thả gia súc tự do trong vùng lõi bảo tồn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế do điều kiện thực hiện:
- Phạm vi khảo sát thực địa mới chỉ tập trung trên địa bàn 2 xã (Yên Thuận và Phù Lưu) trong tổng số 5 xã thuộc địa bàn rừng đặc dụng, chưa bao quát được các xã Trung Hà, Hà Lang và Hòa Phú thuộc huyện Chiêm Hóa.
- Thời gian khảo sát ngoại nghiệp kéo dài từ tháng 9/2014 đến tháng 5/2015, chưa đại diện đầy đủ cho các chu kỳ biến động mùa trong năm, đặc biệt là các giai đoạn di cư hoặc biến động sinh sản của thú nhỏ.
- Phương pháp điều tra nhóm thú nhỏ (Dơi, Gặm nhấm) chủ yếu dựa vào phỏng vấn, quan sát trực quan và tìm kiếm hang hốc; chưa áp dụng các kỹ thuật chuyên sâu như chăng lưới mờ (mist net) bắt dơi quy chuẩn, bẫy kẹp chuyên dụng (Sherman trap) bắt gặm nhấm hoặc hệ thống bẫy ảnh tự động (camera trap) để kiểm chứng sự có mặt của các loài thú ăn thịt lớn đang bị nghi ngờ như Báo gấm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:
- Mở rộng các tuyến khảo sát sang sườn Đông thuộc huyện Chiêm Hóa.
- Ứng dụng bẫy ảnh kỹ thuật số hiện đại tại các khu vực rừng núi đá vôi hiểm trở nhằm xác minh chắc chắn sự tồn tại của loài Báo gấm (Neofelis nebulosa) và các loài thú móng guốc nguy cấp.
- Nghiên cứu sâu về cấu trúc quần thể và sinh học sinh thái của hai loài linh trưởng đặc hữu: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) và Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi).
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Đa dạng sinh học khi thực hiện các đề tài điều tra thực địa hoặc nghiên cứu phân loại động vật rừng.
- Cán bộ kỹ thuật, lực lượng kiểm lâm tại Ban quản lý Rừng đặc dụng Cham Chu và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang sử dụng làm cơ sở dữ liệu nền phục vụ công tác xây dựng phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn tiếp theo.
Các phần đáng tham khảo nhất trong công trình:
- Hệ thống bảng danh lục 48 loài thú có đối chiếu tên khoa học, nguồn thu thập thông tin và sinh cảnh phân bố.
- Thiết kế quy trình phỏng vấn 3 bước kết hợp hình ảnh chuẩn hóa và kiểm tra mẫu vật thực tế tại nhà dân bản địa, là phương pháp hiệu quả đối với các khu vực khó tiếp cận thú lớn.
- Mô tả chi tiết lộ trình, sinh cảnh và thời gian đi bộ của 7 tuyến điều tra thực địa tại khu vực Yên Thuận, Phù Lưu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khu hệ thú tại Khu rừng đặc dụng Cham Chu có bao nhiêu loài và bộ nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Khóa luận đã ghi nhận tổng cộng 48 loài thú, thuộc 18 họ và 6 bộ. Trong đó, Bộ Ăn thịt (Carnivora) chiếm ưu thế cao nhất về cả số họ và số loài, với 6 họ (chiếm 33,33% tổng số họ) và 18 loài (chiếm 37,50% tổng số loài của khu hệ). Đứng thứ hai là Bộ Gặm nhấm (Rodentia) với 5 họ (27,78%) và 14 loài (29,17%).
2. Khóa luận đã bổ sung bao nhiêu loài thú mới cho Khu bảo tồn Cham Chu so với báo cáo điều tra năm 2014?
So với Báo cáo điều tra năm 2014 của Hạt kiểm lâm Cham Chu (khi đó chỉ ghi nhận 38 loài thú), tác giả khóa luận đã bổ sung thêm 10 loài mới vào danh lục, nâng tổng số lên 48 loài. 10 loài này gồm 8 loài gặm nhấm: Chuột cống, Chuột bụng bạc, Chuột bụng trắng, Chuột rừng, Chuột núi, Chuột đồng bé, Chuột nhà, Dúi nâu; và 2 loài dơi: Dơi lá tai dài, Dơi lá mũi nhỏ.
3. Hai loài thú nào trong danh lục được ghi nhận ở trạng thái nghi ngờ sự có mặt?
Hai loài thú ghi nhận ở trạng thái nghi ngờ (ký hiệu NN trong danh lục) và cần có thêm các cuộc điều tra thực địa chuyên sâu để khẳng định chắc chắn là Báo gấm (Neofelis nebulosa) thuộc họ Mèo (Felidae) và Dơi lá quạt (Rhinolophus paradoxophus) thuộc họ Dơi lá mũi (Rhinolophidae). Thông tin về hai loài này chủ yếu thu nhận gián tiếp qua phỏng vấn người dân.
4. Dạng sinh cảnh nào tại Rừng đặc dụng Cham Chu có số lượng loài thú phân bố nhiều nhất?
Sinh cảnh rừng trên núi đất (ký hiệu A) có số lượng thú phân bố phong phú nhất với 31 loài, chiếm 64,58% tổng số loài của toàn khu hệ. Tiếp theo là rừng trên núi đá vôi (22 loài, chiếm 45,83%), làng bản nương rẫy (14 loài, chiếm 29,16%) và thấp nhất là sinh cảnh thủy vực (4 loài, chiếm 8,30%).
5. Yếu tố nhân sinh nào đang tạo ra áp lực suy giảm lớn nhất đối với khu hệ thú tại địa phương?
Áp lực lớn nhất xuất phát từ việc thiếu hụt quỹ đất sản xuất lương thực (đất nông nghiệp trong vùng lõi chỉ có 235,8 ha, bình quân cây hàng năm đạt 0,195 ha/người), dẫn đến tình trạng người dân phá rừng làm nương rẫy và mở rộng vùng trồng cam sành Hàm Yên xâm lấn vào rừng đặc dụng. Bên cạnh đó là nạn săn bắn trộm thú bằng súng tự chế, bẫy cơ học và khai thác gỗ quý (gỗ Nghiến, Trai lý).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Diễn đã phản ánh hiện trạng khu hệ thú tại Rừng đặc dụng Cham Chu với 48 loài thuộc 18 họ và 6 bộ, trong đó bổ sung được 10 loài thú nhỏ so với dữ liệu điều tra năm 2014. Nghiên cứu đã làm rõ đặc trưng phân bố của các nhóm thú trên 4 dạng sinh cảnh chính, chỉ ra sinh cảnh rừng núi đất là nơi tập trung đa dạng loài cao nhất nhưng cũng chịu nhiều tác động nhân sinh tiêu cực. Những số liệu về hiện trạng săn bắn, canh tác nương rẫy và sự thu hẹp sinh cảnh được trình bày trong đề tài là cơ sở thực tiễn phục vụ Hạt kiểm lâm Cham Chu và các cơ quan hữu quan xây dựng phương án quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả.