ĐẶT VẤN ĐỀ Trong lớp Côn trùng, bộ Cánh phấn (Lepidoptera) là một bộ rất đa dạng và phong phú, đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Pha trƣởng thành đƣợc gọi là bƣớm, đƣợc ngƣời ta ví nhƣ “Những bông hoa biết bay”, là một đối tƣợng thƣờng đƣợc sử dụng trong văn học và nghệ thuật. Các loài bƣớm hoạt động vào ban ngày (Rhopalocera) có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của con ngƣời. Chúng tham gia tích cực vào quá trình thụ phấn cho hoa, làm tăng năng suất cây trồng.
Nhiều loài bƣớm có màu sắc rực rỡ đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp. Đây là nhóm côn trùng rất phong phú về số lƣợng và đa dạng về nơi ở, chúng có khả năng thích ứng cao với sự biến đổi của môi trƣờng. Chính vì vậy, bƣớm ngày thƣờng đƣợc sử dụng là sinh vật chỉ thị cho tình trạng của hệ sinh thái, đặc biệt trong đánh giá chất lƣợng rừng, đánh giá hiệu quả của công tác bảo tồn thông qua việc quan sát sự biến động của quần thể các loài bƣớm theo thời gian. Khi nghiên cứu về các loài bƣớm ngày, ngoài việc nghiên cứu đặc điểm về hình thái, cần phải quan tâm đến đặc điểm của cả quần thể để từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp làm cho chúng đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lƣợng và có lợi cho sản xuất, phục vụ tham quan du lịch… Cộng hoà dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào là một nƣớc có đa dạng sinh học cao.
Cũng nhƣ nhiều nƣớc khác trong khu vực, CHDCND Lào đang gặp những vấn đề khó khăn trong công tác bảo tồn. Với sức ép của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội thông qua các hoạt động khai thác, tác động của con ngƣời vào rừng, nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học đã đƣợc nhiều nhà khoa học dự báo. Vì vậy việc nghiên cứu và bảo tồn tính đa dạng sinh học hiện nay là một vấn đề cấp bách trên toàn thế giới. Vƣờn Quốc Gia (VQG) Nam Ka Đinh đƣợc thành lập ngày 29 tháng 10 năm 1993.
Số liệu thống kê cho thấy VQG Nam Ka Đinh có 180 loài thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 vật thân gỗ thuộc 83 chi, 59 họ, chƣa có nghiên cứu về các loài động vật. Cho đến nay nghiên cứu về các loài côn trùng còn rất ít, chƣa có nghiên cứu đƣợc thực hiện trực tiếp ở VQG Nam Ka Đinh, tỉnh BolyKhamXay, CHDCND Lào. Bƣớm ngày có vai trò quan trong trong hệ sinh thái rừng, một thành phần quan trọng trong các chuỗi thức ăn, góp phần tạo nên cân bằng sinh thái. Vì vậy ngoài các nghiên cứu về thực vật, động vật bậc cao, nghiên cứu về khu hệ bƣớm là hết sức cần thiết.
Đề tài : “Nghiên cứu Đa dạng sinh học Bướm ngày (Rhopalocera) tại Vườn Quốc Gia Nam Ka Đinh tỉnh Borikhamxay nước CHDCND Lào và đề xuất các giải pháp quản lý.” đã đƣợc thực hiện với mục tiêu: cung cấp thông tin cơ bản về đặc điểm của khu hệ bƣớm ngày phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về Bƣớm ngày (Rhopalocera) Bƣớm ngày (bộ phụ Râu hình chuỳ (Rhopalocera) thuộc Bộ Cánh vảy (Lepidoptera), lớp Côn trùng (Insecta), ngành Chân khớp (Arthropoda). Cơ thể bƣớm ngày gồm ba phần: Đầu, Ngực, Bụng.
Đầu có một đôi râu đầu (antenna), phía cuối phình to dạng hình chuỳ hoặc dùi trống, nằm bên một đôi mắt kép lớn, miệng hút thích hợp với loại thức ăn dạng lỏng nhƣ mật hoa, nƣớc. Ngực đƣợc cấu tạo bởi 3 đốt, mỗi đốt mang một đôi chân. Đốt ngực giữa và đốt ngực sau mang một đôi cánh vảy, có nhiều vân hoa sặc sỡ. Bụng bƣớm có nhiều đốt, cuối bụng là cơ quan sinh dục ngoài.
Vòng đời bƣớm trải qua 4 giai đoạn là: trứng, sâu non, nhộng và trƣởng thành. Thức ăn chủ yếu của sâu non bƣớm ngày là lá cây, trong khi thức ăn chính của con trƣởng thành là mật hoa, chất ngọt. Các loài bƣớm ngày đƣợc chia thành 11 họ: 1. PAPILIONIDAE – Họ Bƣớm phƣợng (Swallowtails, birdwings, dragontails): Mắt kép không có lông, râu đầu ngắn, ba đôi chân phát triển đầy đủ.
Sải cánh từ 40 đến 105mm. Trên thế giới họ Papilionidae có khoảng 600 loài thuộc 26 giống, ở Việt Nam có khoảng 60 loài (Đặng Thị Đáp và nnk, 2008), ở Lào có 63 loài (Cotton and Rachelli, 2006). PIERIDAE – Họ Bƣớm phấn (Whites Marbles & Sulphurs): Kích thƣớc trung bình với sải cánh rộng 32-51 mm, thƣờng có màu trắng, vàng, da cam. Toàn thế giới có 1000 loài thuộc 75 giống, khoảng 60 loài có trên lãnh thổ Việt Nam và Lào (Đặng Thị Đáp và nnk, 2008).
DANAIDAE – Họ Bƣớm đốm (Tigers & Crows): Kích thƣớc trung bình đến khá lớn (sải cánh 76-102 mm), thƣờng có màu đen, da cam hoặc trắng. Thân có nhiều đốm trắng vì vậy đƣợc gọi là bƣớm đốm. Họ có khoảng 300 loài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
SATYRIDAE – Họ Bƣớm mắt rắn (Satyrs/Browns): Họ Satyridae gồm những loài bƣớm nhỏ (sải cánh 25-73 mm) màu nâu và xám, mép sau cánh có kiểu trang trí hình vỏ sò hoặc răng cƣa, cánh thƣờng có nhiều vân ở phía trên hoặc phía dƣới dạng mắt (eyespots) nên đƣợc gọi là bƣớm mắt rắn. Họ có khoảng 3000 loài. AMATHUSIIDAE – Họ Bƣớm rừng (Amathusiids ): Kích thƣớc lớn đến rất lớn, thƣờng có màu sắc đẹp, thƣờng sống dƣới tán rừng, ít khi xuất hiện ở khoảng trống. Việt Nam có khoảng 30 loài.
NYMPHALIDAE - Họ Bƣớm giáp (Nymphalids): Nymphalidae là một họ bƣớm rất lớn, bao gồm 3000 loài rất đa dạng về màu sắc, hình dạng. Kích thƣớc sải cánh từ 38-76 mm. Chân trƣớc thoái hóa. Việt Nam đã ghi nhận đƣợc trên 200 loài.
ACRAEIDAE - Họ Bƣớm ngọc (Acraeids): Kích thƣớc nhỏ đến trung bình. Đây là một họ bƣớm nhỏ, có thể chỉ có hai loài ở Việt Nam. Cánh dài và trong, màu vàng cam và màu đen, chân trƣớc thoái hóa. LIBYTHEIDAE – Họ Bƣớm mỏ dài (Beaks, Snout Butterfly): Họ Libytheidae có cấu tạo đặc biệt, bƣớm trông nhƣ có vòi, bởi chúng có đôi râu miệng dài, thò ra ở phía trƣớc đầu tạo thành một cái “vòi” vì thế chúng có tên tiếng anh là Snout Butterfly.
Cánh trƣớc với đỉnh cụt, cánh sau có một điểm trang trí kiểu vỏ sò. Họ có khoảng trên 10 loài. RIODINIDAE – Họ Bƣớm ngao (Riodinids, Metalmarks): Có khoảng 1000 loài, sải cánh 16-51mm. Đa số có màu nâu, xám hoặc gỉ sắt, cánh thƣờng có vân màu óng ánh kim.LYCAENIDAE – Họ Bƣớm xanh (Blues & coppers): Là một họ lớn (5000-7000 loài), kích thƣớc nhỏ (sải cánh 22-51mm), nhiều loài trong số chúng có đuôi ở cánh sau, rất phong phú về số loài và hình dạng, màu sắc.
Họ đƣợc chia thành bốn nhóm gồm nhóm màu xanh (blues), màu nâu đồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Việt Nam có trên 220 loài thuộc họ này.HESPERIIDAE – Họ Bƣớm nhảy (Skippers): Thân ngắn và rộng, cánh ngắn, hầu hết có màu nâu hoặc màu xám với những vệt sáng hơn. Hesperiids đƣợc tìm thấy ở mọi môi trƣờng sống, thƣờng hoạt động mạnh vào lúc sáng sớm, buổi tối hoặc lúc hoàng hôn. Khoảng gần 3000 loài đã đƣợc mô tả.
Kích thƣớc nhỏ đến trung bình (sải cánh 13-64mm). Bƣớm nhảy có đầu to nên còn đƣợc gọi là họ Bƣớm đầu to, thân có nhiều lông, cánh dạng tam giác. Tình hình nghiên cứu bƣớm ngày trên thế giới Trên thế giới có khoảng 14000 loài bƣớm ngày tập trung nhiều ở khu vực nhiệt đới châu Á, Châu Mỹ, châu Phi. Nghiên cứu của Warren (1985) đã chỉ ra rằng, những khu rừng có tán rậm thƣờng ít các loài bƣớm phân bố hơn những khu rừng thƣa.
Sự đa dạng của các loài bƣớm tăng lên với sự tăng thêm về quy mô sinh cảnh và sự đa dạng của thực vật (Price, 1975), hầu hết trong số chúng phụ thuộc vào sự khép tán của rừng (Collins & Morris, 1985; Sutton & Collins, 1991). Bƣớm ngày tồn tại trong những sinh cảnh rất cụ thể, và sinh cảnh này bị ảnh hƣởng bởi nhiều nhân tố phi sinh vật và sinh vật (Ramos, 2000; Spitzer et al. Sinh cảnh bị tác động cũng ảnh hƣởng rất lớn đến thành phần và số lƣợng quần thể các loài Bƣớm. Sự đa dạng loài và sự phong phú của các loài trong quần xã bƣớm cao nhất ở nơi rừng bị tác động vừa phải và giảm rất mạnh ở khu vực rừng bị đô thị hoá, đặc biệt các loài đặc hữu bị biến mất khi sinh cảnh của chúng bị đô thị hoá (Blair & Launer, 1997; Brown, 1996).
Nghiên cứu của Schulze et al. (2004a, b) cho thấy, sinh cảnh rừng thứ sinh có sự đa dạng quần xã Bƣớm cao hơn rất nhiều so với ở khu đất canh tác nông lâm nghiệp. Tuy nhiên, ở những sinh cảnh rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh có thảm thực vật gần giống nhau thì sự khác biệt về thành phần loài Bƣớm là không đáng kể. Các loài Bƣớm có phạm vi phân bố rộng thƣờng đƣợc bắt gặp ở những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khu vực rừng thấp, thƣờng bị tác động của con ngƣời.
Trong khi đó, các loài Bƣớm đặc hữu thƣờng giới hạn ở các sinh cảnh rừng trên đai cao lớn hơn 500m (Lewis et al. Ngoài biến động theo sinh cảnh và độ cao, các loài Bƣớm còn là nhóm động vật dễ bị tác động bởi những thay đổi của thời tiết. Sự phong phú của các loài Bƣớm thƣờng tăng lên trong những ngày có thời tiết ấm áp (Roy et al. Thời tiết thuận lợi làm tăng số lƣợng cá thể của các loài bƣớm trong những năm sau (Brunzel & Elligsen, 1999).
Theo nghiên cứu của Pollard (1988) ở Anh, vào những năm mùa hè ấm áp và khô ráo, quần thể của các loài bƣớm tăng, trong khi Janzen & Schoener (1968) lại nhận thấy, vào mùa khô ở rừng nhiệt đới, khu vực ẩm có sự phong phú cũng nhƣ đa dạng côn trùng cao hơn so với khu vực khô. Tình hình nghiên cứu bƣớm ngày ở Châu Á Với điều kiện phát triển về khoa học, một số nƣớc Châu Á đã nhận thức sớm hơn các nƣớc khác về tầm quan trọng của Bƣớm ngày. Do đó các nghiên cứu cơ bản về Bƣớm ngày tại những quốc gia này đƣợc thực hiện sớm hơn. Nhờ vậy các nghiên cứu về Bƣớm ngày cũng có điều kiện thuận lợi so với các nƣớc có hệ thống thông tin còn yếu.