Nghiên cứu bán tổng hợp curcumin cải thiện độ tan trong nước tại Trường Đại học Dược Hà Nội

Nghiên cứu của Phạm Thị Hiền về dẫn chất curcumin nhằm cải thiện độ tan trong nước, ứng dụng trong dược phẩm, luận án tiến sĩ dược học.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

436
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. TỔNG QUAN VỀ CURCUMIN

1.1. Cấu trúc hóa học và tính chất của curcumin

1.2. Độ ổn định của curcumin

1.3. Tác dụng sinh học của curcumin

1.4. Nghiên cứu dược động học của curcumin

1.5. Sinh khả dụng của curcumin

2. CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC CURCUMIN

2.1. Hướng nghiên cứu biến đổi chuỗi bên aryl

2.2. Hướng nghiên cứu biến đổi cầu nối β-dicetonheptadien

3. CÁC PHƯƠNG PHÁP HÓA HỌC CẢI THIỆN ĐỘ TAN CỦA MỘT DƯỢC CHẤT

3.1. Phương pháp acyl hóa với anhydrid diacid

3.2. Phương pháp phosphat hóa

3.3. Phương pháp hydroxyethyl hóa

3.4. Phương pháp liên hợp với L-valin

3.5. Phương pháp sulfonat hóa

3.6. Phương pháp sulfat hóa

4. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

5. NGUYÊN LIỆU, TRANG THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. NGUYÊN VẬT LIỆU, TRANG THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU

5.1.1. Nguyên vật liệu

5.1.2. Thiết bị, dụng cụ

5.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

5.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.3.1. Phương pháp tổng hợp hóa học

5.3.2. Các phương pháp đánh giá độ tinh khiết của các dẫn chất

5.3.3. Phương pháp xác định cấu trúc các dẫn chất

5.3.4. Phương pháp thử độ tan của các dẫn chất

5.3.5. Phương pháp đánh giá một số đặc tính sinh dược học của dẫn chất tiềm năng

5.3.6. Phương pháp đánh giá tác dụng sinh học của các dẫn chất

5.3.7. Phương pháp đánh giá hoạt tính chống viêm in vivo của dẫn chất tiềm năng

5.3.8. Phương pháp đánh giá độc tính cấp của dẫn chất tiềm năng

5.3.9. Phương pháp docking

5.3.10. Phương pháp dự đoán tính giống thuốc

6. THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ

6.1. BÁN TỔNG HỢP CÁC DẪN CHẤT MỚI CỦA CURCUMIN HƯỚNG CẢI THIỆN ĐỘ TAN TRONG NƯỚC VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG SINH HỌC CÁC DẪN CHẤT TỔNG HỢP ĐƯỢC

6.1.1. Tổng hợp dẫn chất acid carboxylic của curcumin và tạo muối natri carboxylat

6.1.2. Tổng hợp dẫn chất dinatri O,O′-bis(2-sulfonatoethyl)curcumin (PH5)

6.1.3. Tổng hợp các dẫn chất mono-O-(2-hydroxyethyl)curcumin (PH6) và di-O- (2-hydroxyethyl)curcumin (PH7) của curcumin

6.1.4. Tổng hợp các dẫn chất mới của curcumin thông qua chất trung gian PH6

6.1.5. Tổng hợp các dẫn chất mới của curcumin thông qua chất trung gian PH7

6.1.6. Tóm tắt kết quả tổng hợp hóa học và kết quả phân tích phổ các dẫn chất

6.1.7. Đánh giá sơ bộ độ tan của các dẫn chất

6.1.8. Đánh giá tác dụng sinh học của các dẫn chất

6.2. LỰA CHỌN, NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH TỔNG HỢP DẪN CHẤT TIỀM NĂNG VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH DƯỢC HỌC

6.2.1. Lựa chọn dẫn chất tiềm năng

6.2.2. Xây dựng quy trình tổng hợp dẫn chất mono-O-(2-hydroxyethyl)-curcumin (PH6)

6.2.3. Xây dựng quy trình tổng hợp dẫn chất mono-O-(2-(succinyloxy)ethyl)- curcumin (PH9)

6.2.4. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng và đề xuất tiêu chuẩn cơ sở cho dẫn chất mono-O-(2-(succinyloxy)ethyl)curcumin (PH9)

6.2.5. Đánh giá một số đặc tính sinh dược học của dẫn chất mono-O-(2- (succinyloxy)ethyl)curcumin (PH9)

6.3. ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG VIÊM VÀ ĐỘC TÍNH CẤP TRÊN CHUỘT CỦA DẪN CHẤT MONO-O-(2-(SUCCINYLOXY)ETHYL)- CURCUMIN (PH9)

6.3.1. Đánh giá hoạt tính kháng viêm trên tai chuột theo đường bôi ngoài da

6.3.2. Đánh giá độc tính cấp trên chuột

7. BÀN LUẬN VỀ TỔNG HỢP HÓA HỌC

7.1. Bàn luận về phản ứng tạo dẫn chất acid carboxylic (PH3) và muối carboxylat (PH4)

7.2. Bàn luận về phản ứng tạo muối dinatri O,O′-bis(2-sulfonatoethyl)- curcumin (PH5)

7.3. Bàn luận về phản ứng tạo dẫn chất hydroxyethyl của curcumin (PH6 và PH7)

7.4. Bàn luận về phản ứng tạo các dẫn chất monoester glutarat (PH8) và succinat (PH9 và PH10)

7.5. Bàn luận về phản ứng tạo các dẫn chất diester glutarat (PH14) và succinat (PH15)

7.6. Bàn luận về phản ứng tạo các dẫn chất phosphat PH11 và PH12

7.7. Bàn luận về phản ứng tạo dẫn chất sulfat PH13

7.8. Bàn luận về phản ứng tạo liên hợp PH16

8. BÀN LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CÁC DẪN CHẤT

8.1. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH1 và PH2

8.2. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH3

8.3. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH4

8.4. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH5

8.5. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH6

8.6. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH7

8.7. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH8

8.8. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH9

8.9. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH10

8.10. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH11

8.11. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH12

8.12. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH13

8.13. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH14

8.14. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH15

8.15. Bàn luận về cấu trúc dẫn chất PH16

9. BÀN LUẬN VỀ HOẠT TÍNH SINH HỌC IN VITRO CỦA CÁC DẪN CHẤT

10. BÀN LUẬN VỀ DẪN CHẤT TIỀM NĂNG MONO-O-(2- (SUCCINYLOXY)ETHYL)CURCUMIN (PH9)

10.1. Bàn luận về xây dựng quy trình tổng hợp dẫn chất tiềm năng PH9

10.2. Bàn luận về các đặc tính sinh dược học của dẫn chất PH9

10.3. Bàn luận về hoạt tính chống viêm và độc tính cấp trên chuột của dẫn chất tiềm năng PH9

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu curcumin cải thiện độ tan trong nước

Curcumin, một hợp chất polyphenol có nguồn gốc từ nghệ, đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu nhờ vào các tác dụng sinh học đa dạng của nó. Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn nhất trong việc sử dụng curcumin là độ tan trong nước thấp, điều này hạn chế khả năng hấp thu và hiệu quả điều trị của nó. Nghiên cứu này nhằm mục đích cải thiện độ tan trong nước của curcumin thông qua các phương pháp hóa học khác nhau.

1.1. Đặc điểm hóa học và sinh học của curcumin

Curcumin có cấu trúc hóa học phức tạp, với khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng curcumin có thể tác động tích cực đến nhiều bệnh lý, bao gồm viêm và ung thư. Tuy nhiên, độ tan trong nước của curcumin rất thấp, chỉ khoảng 0.6 mg/ml, điều này gây khó khăn trong việc sử dụng nó như một liệu pháp điều trị hiệu quả.

1.2. Tầm quan trọng của việc cải thiện độ tan trong nước

Cải thiện độ tan trong nước của curcumin không chỉ giúp tăng cường khả năng hấp thu mà còn nâng cao hiệu quả điều trị. Việc phát triển các dẫn chất curcumin có độ tan cao sẽ mở ra cơ hội mới trong việc ứng dụng curcumin trong y học, đặc biệt là trong các sản phẩm dược phẩm.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sử dụng curcumin

Mặc dù curcumin có nhiều lợi ích sức khỏe, nhưng việc sử dụng nó trong điều trị gặp phải nhiều thách thức. Độ tan trong nước thấp là một trong những vấn đề chính, dẫn đến sinh khả dụng kém. Ngoài ra, curcumin cũng dễ bị phân hủy trong môi trường kiềm và dưới ánh sáng, làm giảm hiệu quả của nó.

2.1. Độ tan trong nước của curcumin và ảnh hưởng đến sinh khả dụng

Độ tan trong nước thấp của curcumin ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hấp thu của nó trong cơ thể. Nghiên cứu cho thấy rằng chỉ một lượng nhỏ curcumin được hấp thu vào máu, dẫn đến hiệu quả điều trị không như mong đợi.

2.2. Tác động của môi trường đến độ ổn định của curcumin

Curcumin dễ bị phân hủy trong môi trường kiềm và dưới tác động của ánh sáng. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả của curcumin mà còn tạo ra các sản phẩm phụ không mong muốn, ảnh hưởng đến an toàn và hiệu quả của các sản phẩm chứa curcumin.

III. Phương pháp cải thiện độ tan của curcumin hiệu quả

Nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp hóa học để cải thiện độ tan trong nước của curcumin. Các phương pháp này bao gồm acyl hóa, phosphat hóa, và sulfonat hóa. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, nhưng đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là tăng cường khả năng hòa tan của curcumin.

3.1. Phương pháp acyl hóa với anhydrid diacid

Phương pháp acyl hóa đã được chứng minh là hiệu quả trong việc cải thiện độ tan của curcumin. Bằng cách gắn các nhóm acyl vào phân tử curcumin, độ tan trong nước có thể được tăng cường đáng kể, giúp curcumin dễ dàng hấp thu hơn.

3.2. Phương pháp phosphat hóa curcumin

Phosphat hóa là một phương pháp khác được sử dụng để cải thiện độ tan của curcumin. Việc gắn nhóm phosphat vào phân tử curcumin không chỉ làm tăng độ tan mà còn có thể cải thiện tính ổn định của nó trong môi trường kiềm.

3.3. Phương pháp sulfonat hóa curcumin

Sulfonat hóa là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để tăng cường độ tan trong nước của curcumin. Các dẫn chất sulfonat của curcumin cho thấy khả năng hòa tan cao hơn nhiều so với curcumin nguyên chất, mở ra cơ hội mới cho việc phát triển các sản phẩm dược phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu curcumin

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng các dẫn chất curcumin cải thiện độ tan trong nước có thể mang lại nhiều lợi ích trong điều trị bệnh. Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng những dẫn chất này có thể tăng cường hiệu quả điều trị của curcumin trong các bệnh lý như viêm và ung thư.

4.1. Kết quả thử nghiệm lâm sàng với dẫn chất curcumin

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các dẫn chất curcumin cải thiện độ tan trong nước có thể mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn so với curcumin nguyên chất. Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

4.2. Ứng dụng trong sản phẩm dược phẩm

Các dẫn chất curcumin có độ tan cao đang được nghiên cứu để phát triển thành các sản phẩm dược phẩm mới. Những sản phẩm này không chỉ có khả năng hấp thu tốt hơn mà còn có thể mang lại hiệu quả điều trị cao hơn cho người dùng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu curcumin

Nghiên cứu về curcumin và các dẫn chất của nó đang mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực dược phẩm. Việc cải thiện độ tan trong nước của curcumin không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn tạo ra những sản phẩm dược phẩm an toàn và hiệu quả hơn cho người tiêu dùng.

5.1. Tương lai của nghiên cứu curcumin trong y học

Với những tiến bộ trong nghiên cứu và phát triển, curcumin có thể trở thành một trong những liệu pháp điều trị hiệu quả cho nhiều bệnh lý. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc tối ưu hóa các dẫn chất curcumin để nâng cao hiệu quả điều trị.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển các phương pháp mới nhằm cải thiện độ tan và sinh khả dụng của curcumin. Việc tìm kiếm các dẫn chất mới có thể mang lại những kết quả khả quan trong việc điều trị các bệnh lý khác nhau.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Curcumin là một trong số polyphenol có tác dụng dược lý phong phú, được nhiều nhà nghiên cứu phát triển thuốc quan tâm trong thập kỷ gần đây cho tới nay. Phân tử này đang được sử dụng trong các nghiên cứu tiền lâm sàng để điều trị nhiều bệnh thuộc nhiều hệ khác nhau của cơ thể, đó là: bệnh về tim mạch, hô hấp (dị ứng, hen phế quản), tiêu hóa (viêm dạ dày, tá tràng), xương khớp (viêm khớp dạng thấp), mắt (glaucoma, khô mắt); các bệnh liên quan đến chuyển hóa và ung thư [45], [46], [134], [136]. Khi được dùng ngoài, curcumin có tác dụng kháng khuẩn, chống nấm, chóng lành vết thương và liền sẹo [6]. Ngoài ra, curcumin còn có tác dụng kháng virus, có triển vọng lớn trong điều trị viêm gan B, C, HIV.

Nhược điểm của curcumin là sinh khả dụng thấp (dưới 1 %) do hấp thu kém, chuyển hóa và đào thải nhanh khỏi cơ thể, trong đó yếu tố hóa - lý quan trọng ảnh hưởng đến điều này là tính tan kém trong nước của curcumin (<0,1 µg/mL, 25°C) [45], [127], [152]. Để tăng tính tan trong nước của curcumin nhiều nghiên cứu sử dụng các phương pháp tiếp cận vật lý như: tạo các hệ nano curcumin [67], [90]; hệ micel chứa curcumin [92], liposome [168], hoặc hệ phân tán rắn chứa curcumin [93]…. Hầu hết các phương pháp này đều thu được các hệ mới có hoạt tính cao hơn so với curcumin ban đầu. Song song với đó, cách tiếp cận biến đổi cấu trúc hóa học của curcumin cũng được nhiều nhà nghiên cứu phát triển thuốc quan tâm [136], [149].

Để cải thiện độ tan của curcumin, các tác giả đã liên hợp phân tử này với các nhóm thân nước, đáng chú ý là nhóm phosphat và carboxylat [127], [148]. Năm 2015, Ding và cộng sự đã phosphoryl hóa trực tiếp nhóm -OH phenol của curcumin tạo dẫn chất curcumin-O- yl dihydrophosphat có độ tan cao hơn và hoạt tính chống ung thư tốt hơn so với curcumin ban đầu [41]. Năm 2018, Muangnoi và các cộng sự đã tổng hợp được dẫn chất liên hợp của curcumin với nhóm glutarat và khẳng định dẫn chất này cải thiện được độ tan và khả năng chống nhiễm trùng trên chuột [113]. Những nhóm thân nước khác cũng được các nhà khoa học sử dụng để liên hợp với curcumin là: phân tử đường, amino acid, polymer tan trong nước, dẫn chất của glucoronic.

Các nghiên cứu này đã đạt được một số thành công nhất định trong việc nâng cao hoạt tính và sinh khả dụng của curcumin [41], [87], [127]. Thực tế trên chỉ ra, tổng hợp các dẫn chất mới của curcumin theo hướng cải thiện độ tan trong nước từ nguồn nguyên liệu curcumin sẵn có trong tự nhiên, phát huy những tác dụng rất tốt của phân tử này, là một hướng đi hấp dẫn, có nhiều triển 1 vọng và có ý nghĩa thực tiễn. Chính vì vậy, luận án: ″Nghiên cứu bán tổng hợp một số dẫn chất curcumin nhằm cải thiện độ tan trong nước hướng ứng dụng trong dược phẩm″ được thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Bán tổng hợp được một số dẫn chất mới của curcumin theo hướng cải thiện độ tan trong nước và thăm dò tác dụng sinh học của các dẫn chất mới tổng hợp được.

Lựa chọn và xây dựng được quy trình tổng hợp dẫn chất tiềm năng ở quy mô phòng thí nghiệm. Đánh giá được hoạt tính chống viêm in vivo và độc tính cấp của một dẫn chất tiềm năng. TỔNG QUAN VỀ CURCUMIN 1. Cấu trúc hóa học và tính chất của curcumin 1.

Cấu trúc hóa học Curcumin là hoạt chất chính trong hỗn hợp curcuminoid (chiếm 77 %) được chiết xuất từ củ nghệ vàng (Curcuma longa L.) và một số loài nghệ khác (Curcuma spp. - Cấu trúc phân tử (Hình 1. Cấu trúc phân tử của curcumin - Tên IUPAC: (1E,6E)-1,7-bis(4-hydroxy-3-methoxyphenyl)hepta-1,6-dien-3,5- dion. - Tên khác: Diferuloylmethan, curcumin I.

- Công thức phân tử: C21H20O6. - Khối lượng phân tử: 368,39 đvC [104]. Trong dung dịch, curcumin tồn tại ở dạng cân bằng hỗ biến của dạng diceton đối xứng và dạng ceton-enol được ổn định bằng liên kết hydro nội phân tử [65] (Hình 1. Dạng hỗ biến ceton-enol của curcumin trong dung dịch Trong dung dịch nước, ở pH acid và trung tính, các curcumin tồn tại chủ yếu dưới dạng diceton.

Ngược lại, ở pH > 8, dạng enol chiếm ưu thế hơn [151]. Tùy theo từng dung môi thích hợp, có thể có trên 95 % các curcumin tồn tại ở dạng enol [164]. Tính chất vật lý Độ tan: Curcumin thực tế không tan trong nước ở pH acid và trung tính (<0,1 µg/mL), tan được trong kiềm [187]. Curcumin tan được trong nước khi có mặt các 3 chất hoạt động bề mặt như: natri dodecylsulfat, cetylpyridin bromid, gelatin, polysaccharid, polyethylenglycol, cyclodextrin [70].

Curcumin tan được trong acid acetic, ethanol, methanol, aceton, dimethylsulfoxid, dicloromethan, cloroform, ethyl acetat, acetonitril; ít tan trong n-hexan, cyclohexan.; không tan trong ether [104], [136], [172]. Dạng thù hình: Curcumin tồn tại dưới dạng bột vô định hình hoặc tinh thể hình kim màu vàng cam [104]. Tinh thể curcumin có ba dạng thù hình khác nhau tùy thuộc vào dung môi và tốc độ kết tinh [127]. Sự hấp thụ ánh sáng: Các phân tử curcumin có khả năng hấp thụ bức xạ khả kiến, tạo ra màu vàng.

Curcumin có khả năng phát huỳnh quang (520 nm) khi hấp thụ bức xạ tử ngoại có bước sóng 350 nm [126]. Hệ số phân bố n-octanol / nước của curcumin: 2,56 [171], tính toán theo ALOGPS là 3,62, theo ChemAxon là 4,12 [13]. pKa: Curcumin có 3 giá trị pKa. Giá trị pKa đầu tiên và thứ 2 là của 2 nhóm -OH phenol, giá trị pKa3 là của hydro dạng enol.

Các giá trị pKa của curcumin được xác định bằng một số phương pháp khác nhau cho giá trị khác nhau (Bảng 1. Bảng giá trị pKa của phân tử curcumin Giá trị pKa Phương pháp xác định TLTK pKa1=7,75-7,8 HPLC huỳnh quang [172] pKa2 = 8,55 Dung môi: KCl/HCl (pH 1 - 3), KH2PO4/ NaOH (pH pKa3 = 9,05 6 - 9), NaHCO3/NaOH (pH 9 - 10) Nồng độ ion 0,1 - 0,15 M pKa1 = 8,54 Chuẩn độ đo thế [29] pKa2 = 9,3 Dung môi: Nước : MeOH = 1 : 1 pKa3 = 10,69 pKa1 = 8,38 Chuẩn độ HCl [24] pKa2 = 9,3 pKa3 = 10,51 1. Tính chất hóa học Curcumin có cấu trúc chung là khung diarylheptadien, nhóm diceton và dihydroxyphenyl. Vì vậy, curcumin mang những tính chất hóa học đặc trưng của nhóm polyphenol, diceton, dien, vòng thơm…[3], [7].

Các phản ứng hóa học quan trọng liên quan đến hoạt tính sinh học của curcumin là do nguyên tử hydro linh động 4 đóng góp dẫn đến quá trình oxy hóa curcumin, phản ứng Michael, phản ứng thủy phân. Tất cả đều có vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh học khác nhau của curcumin. Phổ hấp thụ tử ngoại/ khả kiến và huỳnh quang Trong dung dịch đệm aceton-bicarbonat, curcumin cho cực đại hấp thụ tại bước sóng 520 nm [73]. Dải hấp thụ xuất hiện một hình dạng bất đối xứng trong dung môi không phân cực: cloroform, acid acetic, benzen, toluen và carbon tetraclorid.

Hình dạng bất đối xứng chỉ ra có một sự khác nhau trong các dung môi hòa tan có mối liên quan và tác động qua lại với sự xuất hiện dung môi phân cực: methanol, aceton, ethanol, tetrahydrofuran, acetylaceton, acid acetic. Cực đại hấp thụ với các cấu trúc tinh tế xuất hiện ở bước sóng λ = 418 nm khi phổ UV/Vis của hợp chất được đo trong các dung môi khác nhau (như CCl4, DMSO). Sự hấp thụ cực đại của curcumin trong methanol và ethanol là khoảng 420 nm, và dung dịch có màu vàng sáng [72]. Trong một nghiên cứu khác, khi thêm cyclodextrin, cực đại hấp thụ của curcumin trong nước thay đổi từ 420 nm lên 430 nm và sự hấp thụ của phức hợp curcumin - cyclodextrin (10 mM) tại bước sóng 430 nm cũng tăng lên gấp đôi [169].

Đồng (II) có thể làm giảm sự hấp thụ UV của curcumin trong nước tại 427 nm. Vì vậy, khi có mặt ion đồng (II), xuất hiện thêm một dải hấp thụ mới của phức hợp đồng (II)- curcumin tại 361 nm [79]. Ngoài sự ảnh hưởng của dung môi và nước, thì pH cũng gây ảnh hưởng đến sự phát huỳnh quang của curcumin. Ở pH < 1 hoặc pH 8,3, cường độ huỳnh quang giảm và có thể kéo theo phân hủy curcumin, thay đổi tính chất của trạng thái đơn bị kích thích đầu tiên.

Sự hấp thụ và phổ huỳnh quang của curcumin và các dẫn chất trong n- hexan và methanol cũng đã được nghiên cứu [28]. Độ ổn định của curcumin 1. Ảnh hưởng của pH trong dung dịch nước Tại các pH khác nhau, dung dịch curcumin tồn tại ở các dạng khác nhau thể hiện ở sự thay đổi màu sắc của dung dịch. Ở pH < 1, dung dịch nước của curcumin có màu đỏ kèm theo sự có mặt của dạng acid (H4A+).

Ở dạng này curcumin tương đối ổn định. Ở khoảng pH = 1 - 7, curcumin rất ít tan trong nước. Ở khoảng pH này, dung dịch nước của curcumin có màu vàng và tồn tại chủ yếu ở dạng trung tính (H3A). Ở pH > 7,5, dung dịch curcumin xuất hiện màu thay đổi tử cam sang đỏ, curcumin tồn tại ở các dạng ion H2A-, HA2- và A3- (Hình 1.

Các dạng tồn tại của curcumin theo pH dung dịch Độ ổn định của các curcumin phụ thuộc vào pH. Trong các dung dịch đệm sử dụng, curcumin tạo phức hợp với borat, citrat và phtalat trong khi trơ với KCl, KH2PO4 và NaHCO3 [172]. Và cũng ở pH này curcumin nhanh chóng bị phân hủy. Các sản phẩm phân hủy curcumin ở pH = 7 - 10 được xác định bằng phương pháp HPLC.

Các sản phẩm tạo thành ban đầu là acid ferulic và feruloylmethan, ngoài ra còn có các sản phẩm ngưng tụ. Sau đó feruloylmethan nhanh chóng bị chuyển màu (chủ yếu là từ vàng đến vàng nâu) rồi bị phân hủy thành vanillin và aceton. Đặc biệt, curcumin không bền dưới tác dụng của ánh sáng, nhất là trong dung dịch. Sau khi chiếu bức xạ quang học, các sản phẩm được xác định giống như các sản phẩm phân hủy là acid ferulic, acid vanillic và vanillin [164], [80] (Hình 1.

Sản phẩm ngưng tụ Hình 1. Sự phân hủy curcumin trong môi trường kiềm 6 Một số nghiên cứu khác về độ ổn định của curcumin được tiến hành trong dung dịch đệm phosphat pH 7,4 có thêm albumin huyết thanh người (4 % khối lượng/thể tích). Kết quả cho thấy, trong máu người, sự phân hủy curcumin diễn ra chậm hơn, dưới 20 % trong 1 giờ. Mặt khác, thêm glutathion (1 mM), N-acetyl-L-cystein (50 mM) hoặc acid ascorbic (25 mM) vào dung dịch chứa 25µM curcumin trong đệm phosphat (pH 7,4 và 6,5) có thể bảo vệ được sự phân hủy curcumin.

Thêm tế bào protein (0,03 mg protein/mL và đoạn vi lập thể của gan chuột (0,01 mg/mL)) cũng có thể ức chế sự phân hủy curcumin [109], [118], [177].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ