CHƯƠNG 1 KHÁ! QUÁT VỀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP HÀ NỘ! TỪ THÒI PHÁP THUỘC ĐẾN TRƯÓC TẠM CHIẾM (1888- 2/1947).1- CÔNG THƯƠNG NGHIỆP HÀ NỘI TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1888 -1945).1- Bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp ở Hà Nội. Ngày 6/6/1884, triều đình Huế ký hoà ước Patơnốt. Từ đây, thực dân Pháp chính thức đặt ách cai trị trên toàn lãnh thổ nước ta, biến Việt Nam thành một thuộc địa, bóc lột sức người sức của và là một thị trường tiêu thụ hàng hoá của nước Pháp. Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương bao gồm Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Campuchia trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa.
Năm 1899, Liên bang Đông Dương có thêm Lào. Việt Nam bị chia thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc kỳ là. nửa bảo hộ và Trung kỳ là xứ bảo hộ, Nam kỳ là thuộc địa. Đứng đầu toàn Liên bang Đông Dươns là viên toàn quyền, thay mặt Chính phủ Pháp cai trị Đông Dương.
Dưới toàn quyền là Thống đốc (Nam kỳ), Thống sứ (Bắc kỳ) và Khâm sứ (Trung kỳ, Lào, Campuchia). Theo chỉ dụ của triều đình Huế Ị ngày 1/10/1888 (ngày 6 tháng 8 năm Đồng Khánh thứ 3), Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp. Nhưng thực tế, do nhận thấy vị trí chiến lược quan trọng của Hà Nội đối với Bắc kỳ và Việt. Nam, thực dân Pháp đã nhanh chóng tìm cách khống chế Hà Nội ngay sau khi đánh chiếm thành lần thứ nhất (1873).
Theo Hiệp ước Giáp Tuất (1874), Pháp được đặt tại Hà Nội một viên lãnh sự với lực lượng lính bảo vệ không quá 100 người. Tiếp đó, ngày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ĐịA GIỐI THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 1939 Nguồn: Hồ sơ lưu trữ tại Pháp - Bibliothèque A. Tư liệu do cố PGS, TS. Dương Kinh Quốc cung cấp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 31/2/1874, trong “Điều khoản bổ sung” của “Hiệp ước thương mại” (Traité de commerce),thực dân Pháp đòi chính phủ Nam triều phải cấp đất xây dựng lãnh sự quán và đồn binh. Vâng mệnh triều đình, ngày 11/1/1875, Tổns đốc Hà Nội Trần Đình Túc đã ký hiệp định dành vùng Đồn Thuỷ ven sông Hồng cho thực dân Pháp xây dựng khu lãnh sự. Theo hiệp định ngày 31/8/1875, khu Đồn Thuỷ có diện tích 15ha5035 là khu đất đầu tiên của Hà Nội thuộc quyền quản lý, sử dụng của Pháp. Tháng 7/1888, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập Thành phố Hà Nội, xếp Hà Nội vào loại thành phố cấp I.
Địa bàn thành phố gồm một phần đất của huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương cũ. Theo bản đồ của người Pháp vẽ năm 1890, địa giới của nội thành được quy định như sau: - Đông Bắc - Tày Nam: từ Yên Phụ xuống vườn Bách Thảo - Ô Thụy Chương xuống Ồ Yên Trạch (nay là nhà in Tiến Bộ). - Tây Nam - Nam: từ thôn Yên Trạch đến ồ Kim Liên - Ô Cầu Dền, ô Đông Mác thẳng ra sông Hồng. - Đông: từ Ô Yên Phụ xuống Ô Đông Mác (bao gồm cả bãi Cơ Xá trên sông).
Từ 1890 đến 1943, trong quá trình thực dân Pháp phá thành Hà Nội “đô thị hoá”, mở các đường phố, các tuyến xe điện, xây dựng các công sở, vila, nhà ở, địa giới trên hầu như không thay đổi. Khu vực ngoại thành được thực dân Pháp lập từ năm 1889 (Zône suburbaine autour de la ville de Hà Nội) gồm phần đất còn lại của huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương, một số xã thuộc huyện Từ Liêm và Thanh Trì, năm 1942 được gọi là Đại lý Hoàn Long (Délégation Spéciale de Hà Nội). Về phương diện hành chính, Đại lý trực thuộc thẳng toà Đốc lv Hà Nội (ngang với nội thành). Về tổ chức bộ máy chính quyền thành phố, trước cả hiệp ước Hácmăng (Harmand 25/8/1883), thực dân Pháp đã cử Bônan làm càng sứ đầu tiên ở Hà Nội ngay sau khi đánh thành Hà Nội lần thứ hai.
Năm 1886, thực dân Pháp tự tiện thành lập Hội đổng Tư vấn thành phố gồm cả người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Pháp và người Việt. Đứng đầu Hội đồng này là viên Đốc lý ngưòỉ Pháp. Hội đồng này tồn tại đến năm 1888, trước thời điểm Hà Nội bị biến thành nhượng địa thì đổi thành Hội đồng thành phô' với 16 đại biểu gồm 12 người Pháp, 4 người Việt. Năm 1928, số đại biểu người Việt mới tăng lên 6.
Năm 1941, số người Việt tăng lên 10 (số người Pháp vẫn giữ 12, tổng số đại biểu Hội đồng thành phố ấn định cho Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn là 22). Đốc lý thành phố (Maire) do Thống sứ Bắc kỳ đề cử, toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm; có quyền ra nghị định về các vấn đề chính trị - kinh tế - xã hội của thành phố và chủ toạ Hội đồng thành phố. Trước Đốc lý có hai Phó đốc lý (Maire adjoint). Chính quyền cơ sở được Pháp chia thành các khu (8 quartier) và các khu phố nhỏ (43 khu) ở nội thành với 1.
Đứng đầu mỗi khu phố nhỏ là Trưởng phố. ở ngoại thành, trước và sau khi có Đại lý Hoàn Long, cấp Tổng và .rã được giữ nguyên như thời phong kiến (9 tổng, 82 xã với 10. Trực tiếp chỉ đạo bộ máy chính quyền thành phố là bộ máy cai trị thực dân Pháp cấp liên bang Đông Dương và Bắc kỳ: Phủ toàn quyền Đông Dương, Sở mật thám Đông Dương, Bộ tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Toà thượng thẩm, Phủ thống sứ Bắc kỳ, Hội đồng bảo hộ Bắc kỳ (1898), Viện dân biểu Bắc kỳ (1926). Mọi hoạt động của chính quyền thành phố đểu chịu sự lãnh đạo và giám sát chặt chẽ của các cơ quan Trang ương do thực dân Pháp nắm quyền chỉ đạo.
Một hệ thống tổ chức cai trị và hoạt động từ cơ quan Trung ương xuống địa phương chặt chẽ, mang tính đàn áp của thực dân Pháp đã được xác lập từ đầu thế kỷ, biến Hà Nội thành thủ phủ của Bắc kỳ và của cả Liên bang Đông Dương.2- Chính sách đầu tư vốn của tư bản Pháp cho công thương nghiệp ở Đông Dương và Bắc kỳ. Trước khi trở thành nhượng địa của Pháp, công thương nghiệp Hà Nội đã phát triển, và đã có những yếu tố của kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi của thành phố trong sông (sông Hồng) và trên sông (sông Tô), thương mại là thế mạnh vốn có của Hà Nội. Mạng lưới các chợ: Chợ Gạo - chợ Bạch Mã - chợ Cầu Đông, san sát nhau từ cửa sông Tô (Giang Khẩu) đến cửaíÈtông của Thành đã tạo nên khu thương mại sầm uất nhất nối Hà Nội với các miền trong nước và với nước ngoài (Trung Hoa, Ân Độ, Hà Lan, Anh, Java.
Trước khi trở thành nhượng địa của Pháp, Hà Nội đã có 64 hãna buôn người Âu, 72 hãng buôn người Hoa. Đến thăm Hà Nội, tận mắt chứng kiến quang cảnh phố phường, một tác giả nước ngoài đã viết: “Mặc dù không còn là nơi vua chúa ở nữa, tôi cho rằng đó vẫn là một thành phố đứng đầu vương quốc về nghệ thuật, công nghiệp, thương nghiệp, về sự giàu có, số dân đông đúc, về sự lịch duyệt và học vấn. Phải nói rằng, trong khắp vương quốc, không có ngành công nghiệp nào khác ngoài Kẻ Chợ và tất cả Bắc Kỳ, Nam Kỳ không nơi nào vượt qua được nơi này. Chính ở đó đã tụ tập từ các nơi về những văn nhân, thợ giỏi, nhà buôn lớn, chính ở đó đã sản xuất ra các mặt hàng thiết yếu và những đồ mỹ nghệ xa hoa.
Tóm lại, đó chính là trái tim của đất nước”[46, 141]. Ngoài khu vực ngã ba sông Tô - sông Hổng - khu “kinh tế mở” - khu vực cảng sông, Hà Nội còn có mạng lưới hệ thống chợ khá lớn trên các cửa ô nối Hà Nội với các tỉnh Bắc kỳ: chợ Bưởi, chợ Cầu Giấv, chợ cầu Mọc, chợ Mơ. Động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế hàng hoá Hà Nội phát triển nhanh trong thế kv XVII, x v m , XIX., chính là mạng lưới chợ và hoạt độns của các thương nhân ở Thăng Long ngày càng tăng hon, quv mô buôn bán lớn hơn, trong đó các thương nhân người Hoa cũng đóng vai trò đáng kể. Trên đà phát triển của kinh tế hàng hoá (thế kỷ XVII - x v n i) , các phường của Thăng Long giữ truyền thống sản xuất hàng tiểu công nghiệp đa dạng và tinh xảo nhất nước.
Các cơ sở sản xuất thủ công có 2 cấp độ: - Quan xưởng đúc tiền của Nhà nước phong kiến. - Xưởng làm hàng thủ công ở cdc phô' nghé hoặc làng nghề. Trải qua 9 thế kỷ sản xuất hàng hoá phục vụ vua, quan, sĩ tử và dãn kinh thành, trình độ chuyên môn hoá kỹ thuật, mỹ thuật của thợ thủ công Hà Nội đã đạt mức khá cao. Các lò, xưởng sản xuất thường có 5 - 20 nhàn công.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Người chủ xưởng vừa tổ chức sản xuất vừa là người chủ bán hàng sản xuất ra. Một số nghề đã có sự phân công chuyên môn hoá: chạm bạc, khảm trai, vàng lá, vàng nén, gốm. Thực dân Pháp đến xâm lược và cai trị Hà Nội đã cắt ngang mạch phát triển tự nhiên của công thương nghiệp thành phố, áp đặt phương thức sàn xuất tư bản chủ nghĩa « Từ đó, công thương nghiệp Hà Nội đã biến chuyển không bình thường dưới tác động của các chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa của tư bản Pháp. Ngay sau khi chiếm xong toàn cõi Việt Nam, Paul Doumer, Toàn quyền đầu tiên của Đông Dương đã thiết kế và cho thực thi một chương trình khai thác thuộc địa toàn diện nhằm khai thác và bóc lột Đông Dương, biến Đông Dươns thành thị trường tiêu thụ hàng hoá của nước Pháp.
Nền sản xuất của Đông Dương chỉ được phát triển trong giới hạn bổ sung cho công nghiệp chính quốc, cung cấp những nguyên liệu, vật phẩm mà nước Pháp khôn2 có. Ngay sau đó, nước Pháp thiết lập một chế độ tài chính ngân sách, tiền tệ; thành lập Ngân hàng Đông Dương (1875) để nắm và chi phối toàn bộ hoạt động của các công ty ở Đông Dương; quy định ngân sách chuns cho Liên bang Đông Dương và ngân sách riêng cho mỗi xứ (1897); ra các nguyên tắc “đồng hoá thuế quan” Đông Dương với chính quốc (từ 26/2/1887 đến 15/10/1940). Đây là những công cụ bảo vệ quyền lợi cho tư bản Pháp tiến hành kinh doanh ở Đông Dương.