Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn dé nghiên cứu công chúng phát thanh Chương 2: Thực trạng công chúng phát thanh tại tỉnh Bình Dương và công tác thính giả của Đài PT-TH tỉnh Bình Dương. Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị 14 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN DE NGHIÊN CUU CÔNG CHÚNG PHÁT THANH 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Công chúng Thuật ngữ “Public” với nghĩa “công chúng” có nguồn gốc với Latinh publicus (còn poplicus), từ Populus, để từ tiếng Anh “quần chúng”, và nói chung là chỉ đến một số dân chúng quy mô lớn (“nhân dân”) với một số vấn đề quan tâm chung. Vì vậy, trong khoa học chính trị và lịch sử, công chúng là một quan thé các cá nhân gan liền với các van đề công dân, hoặc các van dé của văn phòng hoặc nhà nước. Trong tâm lý xã hội, tiếp thị và quan hệ công chúng, công chúng có một định nghĩa tình huéng hơn.
John Dewey định nghĩa trong (Dewey 1927) là một nhóm người, khi đối mặt với một van dé tương tự, nhận ra nó và tự t6 chức dé giải quyết nó. Do đó, định nghĩa của Dewey về công chúng là tình huống: mọi người tô chức về một tình huống. Được xây dựng dựa trên định nghĩa tình huống này của công chúng là lý thuyết tình huống về công chúng của James E. Trong quan hệ công chúng và lý thuyết truyền thông, công chúng khác với các bên liên quan hoặc thị trường.
Công chúng là một tập hợp con của một tập hợp các bên liên quan trong một tổ chức, bao gồm những người có liên quan đến một vấn đề cụ thể. Mặc dù thị trường có mối quan hệ trao đôi với tô chức, thường là một thực thé thụ động do tô chức tạo ra, nhưng công chúng không nhất thiết phải có mối quan hệ trao đổi, nó vừa tự tạo ra vừa tự tô chức. Công chúng là mục tiêu của các nô lực quan hệ công chúng. Trong 15 trường hợp này, công chúng mục tiêu là những người cần sự tham gia của công chúng để đạt được các mục tiêu của tổ chức; Sự can thiệp của công chúng là những người hình thành và hòa giải ý kiến, những người truyền tải thông tin đến công chúng mục tiêu; Những người có ảnh hưởng là công chúng mà công chúng mục tiêu tìm kiếm lời khuyên và các đánh giá giá trị của họ ảnh hưởng đến cách công chúng mục tiêu đánh giá bất kỳ tài liệu quan hệ công chung nao.
[6] Công chúng thường là mục tiêu, đặc biệt là trong chương trình nghị sự chính trị, bởi vì lá phiếu của họ là điều kiện cần thiết dé thúc day sự nghiệp. Như đã thay ở Massachusetts từ năm 2003 đến năm 2004, dé hôn nhân đồng giới được thông qua liên bang, nó phải “giành được đủ số tiêu bang và đủ sự ủng hộ của công chúng.” Quan điểm của lý thuyết quan hệ công chúng về công chúng là tình huống, Dewey và Gruniger; Công chúng, một công chúng chỉ đơn giản được coi là một nhóm cá nhân; Xây dựng chương trình nghị sự và coi công chúng như một điều kiện để tham gia chính trị, không phải là tạm thời; và "những câu chuyện của con người", tức là công chúng (theo lời cua Gabriel M. Vasquez, trợ lý giáo sư tại Trường Truyền thông Dai học Houston) là một tập hợp của “những cá nhân phát triển nhận thức nhóm xung quanh các tình huống có vấn đề và hành động để giải quyết các tình huống có vấn đề” (Vasquez 1993, tr. Các trường công lập thường bị tranh cãi vì "xây dựng chương trình nghị su" của họ, đặc biệt là trong cuộc tranh luận về việc nên dạy các khóa học tôn giáo hay các khóa học thế tục.
Bất cứ khi nào một người ở trong môi trường công cộng, việc thúc day chương trình nghị sự là điều phổ biến, nhưng các trường học có quyền lực đặc biệt trong vấn đề này. Trong hệ thống trường công lập, những người trong hệ thống có trách nhiệm xác định chương trình nghị sự đang được thúc đây. Kirk Hallahan, một giáo sư tại Đại học bang Colorado, đã đề xuất một khái niệm không theo ngữ cảnh về công chúng, định nghĩa công chúng là 16 “một nhóm người có liên quan đến một tổ chức, những người thể hiện các mức độ hoạt động khác nhau-thụ động, và họ có thể (hoặc không) tương tác với những người khác về mối quan hệ của họ với tô chức.” Bài báo Public as Social Experience của Samuel Mateus năm 2011 được cho là nhìn nhận khái niệm này theo một cach khác: công chúng “không phải là một khán giả đơn giản bao gồm những người tiêu dùng truyền thông, cũng không chi là một cơ quan phê bình hợp lý trong phạm vi công cộng”. Ông tin rằng “khái niệm này cũng nên được nhìn nhận dưới góc độ của nguyên tắc công khai, thay vì công khai phê phán và thao túng (.
Phù hợp với điều này, công chúng có thể được coi là kết quả của các hoạt động xã hội được thực hiện bởi các cá nhân chia sẻ các đại diện biểu tượng và cảm xúc chung trong công chúng. Từ quan điểm viết thường, khái niệm này là một nhóm các chủ thể công khai tìm kiếm cảm giác thân thuộc. Do đó, từ góc độ này, công chúng vẫn là một khái niệm cơ bản của đời sống xã hội, mặc dù có một cách tiếp cận khác so với công chúng trong lĩnh vực công cộng vào thế kỷ 18. Đầu tiên ông đề cập đến các cấu trúc và cấu trúc xã hội, trong đó các lớp trải nghiệm xã hội liên tục được thiết lập.2 Báo chí và công chúng báo chí Theo tác giả Lê Thu Hà (2015) trong luận án tiễn sĩ ngành Báo chí học với dé tài “Xu hướng tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam” thì khái niệm sản phẩm báo chí được đề cập như sau “sản phẩm báo chí là sản phẩm hoàn chỉnh về nội dung cũng như hình thức chuyển tải như tờ báo in, kênh phát thanh, kênh truyền hình, trang báo điện tử và phương tiện báo chí di động” Công chúng báo chí nói chung có thé được hiểu là những đối tượng tiếp nhận và được các sản phẩm báo chí tác động hoặc hướng vào dé tác động.
“Đối tượng tiếp nhận là các cá thể hay tập thể người tiếp nhận thông điệp 17 trong quá trình truyền thông. Cũng có thể nói, các cá thé hay nhóm người tiếp nhận thông điệp là đối tượng tác động đầu tiên của truyền thông. Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi về tâm lý, nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận” (Tạ Ngọc Tắn, 2001, tr. Phạm Thanh Tịnh (2013, tr.21) trong Công chúng báo chí đã đưa ra khái niệm về công chúng báo chí như sau “Công chúng báo chí là người được được các sản phẩm truyền thông tác động hoặc hướng vào dé tác động.
Đó là độc gia của báo in, thính giả của đài phát thanh, khán giả của đài truyền hình. Công chúng đó là một cộng đồng người và giới hạn nhỏ bé như làng, xã đến những cộng đồng to lớn trên phạm vi quốc tế. Đây là một hay nhiều tầng lớp xã hội, có trình độ hay nhu cầu chung về thông tin dành cho họ” Những nghiên cứu trình bày ở trên cho thấy mặc dù các nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau nhưng cơ bản đều có cùng một bản chất. Kế thừa các khái niệm của các nghiên cứu kể trên, đồng thời kết hợp với thực tiễn báo chí hiện nay thì quan điểm công chúng báo chí được sử dụng trong luận văn này là: Công chúng báo chí là đối tượng mà báo chí (bao gồm báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử, báo di động) hướng vào dé tác động, nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình.
Đồng thời, công chúng còn tương tác trở lại, tham gia vào quá trình sáng tạo sản phẩm — phát tán thông tin, giám sát, quyết định vai trò, vị thé xã hội của sản phẩm báo chí — truyền thông.3 Phát thanh và công chúng phát thanh Trong số các loại hình báo chí thì phát thanh ra đời từ khá sớm, chỉ sau loại hình bao in. Tính đến thời điểm hiện tại có nhiều khái niệm về phát thanh khác nhau. Phát thanh sớm nhất là hệ thống điện báo không dây, không có âm thanh. Dé có thé phát sóng âm thanh, thiết bị phát hiện và khuếch đại điện tử 18 phải được kết hợp.
Van nhiệt điện tử (một loại ống chân không) được phát minh vào năm 1904 bởi nhà vật lý người Anh John Ambrose Fleming. Ông đã phát triển một thiết bị mà ông gọi là “van dao động” (vì nó chỉ truyền dòng điện theo một hướng). Dây tóc hoặc cực âm được nung nóng có khả năng phát ra các điện tử nhiệt, và khi nó ở điện áp cao hơn, các điện tử này sẽ chảy đến tắm (hoặc cực dương). Tuy nhiên, các electron không thê đi theo hướng ngược lại vì tam không được nung nóng va do đó các ion nhiệt không thé phát ra electron.
Sau này được gọi là van Fleming, nó có thể được sử dụng như một bộ chỉnh lưu cho dong điện xoay chiều và một máy dd sóng vô tuyến. Điều này cải thiện đáng ké thiết bị tinh thé, sử dụng các diode thé ran ban dau dựa trên tinh thé và cái gọi là râu mèo dé chỉnh lưu tín hiệu vô tuyến. Tuy nhiên, vẫn cần một bộ khuếch đại. Triode (hơi thủy ngân chứa day lưới điều khiển) được phát minh bởi Robert von Lieben người Áo vào ngày 4 tháng 3 năm 1906, và vào ngày 25 tháng 10 năm 1906, Lee De Forest đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho triode của mình.
Nó không thực sự được sử dụng cho đến năm 1912, khi khả năng phóng đại của nó được các nhà nghiên cứu công nhận. Theo định nghĩa của Baudino và Kittross (1977), phát thanh là việc truyền âm thanh (âm thanh) thông qua sóng vô tuyến đến các máy thu vô tuyến thuộc về khán giả công cộng, đôi khi với siêu dữ liệu liên quan. Trong phát thanh trên mặt đất, sóng vô tuyến được phát bởi các đài phát thanh trên đất liền, trong khi trong vô tuyến vệ tinh, sóng vô tuyến được phát bởi các vệ tinh trên quỹ đạo trái đất. Để tiếp nhận được nội dung, người nghe phải có máy thu phát thanh quảng bá (Radio).
Các đài phát thanh thường được gắn với một mạng vô tuyến cung cấp nội dung ở một định dạng vô tuyến chung, cho du đó là phát sóng chung hay đồng phát sóng, hoặc cả hai.