CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG LĨNH VỰC PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH 1. Quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình 1. Khái niệm, đặc điểm quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình 1. Khái niệm quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, thông tin là yếu tố thường xuyên được đề cập đến, ở đâu người ta cũng nói đến thông tin.
Nói cách khác, thông tin là nền tảng của tất cả các hoạt động của xã hội. Xét từ góc độ lịch sử, thông tin tạo ra các cuộc cách mạng về khoa học, kỹ thuật, gắn bó chặt chẽ, mật thiết và có tính quyết định đến sự phát triển của xã hội loài người. Mọi tri thức của nhân loại đều được cập nhật, lưu trữ và phổ biến dưới dạng thông tin về những điều đã diễn ra, về những điều người ta đã biết, đã nói, đã làm. Thông tin không thể cầm giữ như các hiện vật được.
Chính vì vậy, tùy theo góc độ và mục đích sử dụng, có rất nhiều cách hiểu về thông tin. Thông tin hình thành trong quá trình nhận biết hiện tượng xung quanh, trong quá trình giao tiếp. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “thông tin là tin tức được truyền đi cho biết hoặc tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh”. Theo các cách hiểu trên, mọi tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới tự nhiên và xã hội đều trở thành thông tin.
Tuy nhiên, trong thực tế không phải mọi thông tin đều có ý nghĩa với nhà nước, xã hội và đều được sử dụng trong quản lý nhà nước, đều là nhu cầu cần tiếp cận của mọi công dân. Khoản 1 Điều 2 Luật TCTT năm 2016 quy định “Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra” [41]. Theo đó, khái niệm thông tin được đề cập trong Luật TCTT có nghĩa rằng, thông tin đó 9 phải do cơ quan nhà nước tạo ra trong quá trình thực thi công vụ, được người có thẩm quyền ký, đóng dấu hoặc xác nhận bằng văn bản và được lưu giữ trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác. Như vậy, mỗi lĩnh vực nghiên cứu khác nhau thì có định nghĩa về thông tin khác nhau.
Các khái niệm, quan điểm về thông tin nêu trên rất đa dạng và đều phù hợp theo từng lĩnh vực nghiên cứu. Trong phạm vi đề tài, chỉ đề cập đến thông tin mà công dân có thể tiếp cận do cơ quan nhà nước tạo ra. Ngày nay, trong một thế giới mở, nhu cầu thông tin của cá nhân, tổ chức ngày càng nhiều, càng đa dạng, phong phú, tùy theo nhu cầu của mình mà cần những thông tin khác nhau: thông tin về tri thức của nhân loại trên các lĩnh vực tự nhiên, xã hội; thông tin chính trị, thông tin kinh tế, xã hội, thôngtin pháp luật; thông tin trong nước, thông tin quốc tế. Với vai trò của thông tin như đã nói ở trên thì nó có tầm quan trọng như một thứ tài sản, tài sản ấy thuộc sở hữu chung của cộng đồng mà không một cá nhân hay tổ chức nào được độc quyền nắm giữa hay ngăn cản và ngăn cấm người khác tiếp cận, trừ phi những thông tin này có liên quan đến việc đảm bảo an ninh quốc gia hoặc đời tư cá nhân được luật pháp quy định một cách rõ ràng, cụ thể.
Vì lẽ đó, tiếp cận thông tin dần trở thành một thuật ngữ ngày càng phổ biến. Đó là quyền được tiếp cận các thông tin đang được các cơ quan nhà nước quản lý, kiểm soát để thỏa mãn nhu cầu trong của sống của mình hay để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác được pháp luật ghi nhận. Nhận thức được tầm quan trọng của thông tin và nhu cầu TCTT đối với con người và xã hội, quyền TCTT được quốc tế cũng như các quốc gia ghi nhận ở hai góc độ là quyền con người và quyền công dân. Thứ nhất, quyền TCTT luôn là một bộ phận không thể thiếu của quyền con người.
Trong tất cả các công ước quan trọng về quyền con người như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966… đều ghi nhận quyền thông tin, quyền TCTT như một cấu thành căn bản. Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948 quy định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày 10 tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tực do giữ quan điểm không có sự can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận cà chia sẻ các ý tưởng và và thông tin bằng bất kì bằng phương tiện nào mà không có giới hạn về biên giới”. Phát triển những nội trên, khoản 2 Điều 19 ICCPR cũng quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp vào. Mặc dù Điều 19 ICCPR không đề cập đến thuật ngữ “quyền tiếp cận thông tin” nhưng tại Bình luận chung số 34 của Ủy ban nhân quyền (HRC) đã đặc biệt lưu ý đến quyền tiếp cận các thông tin được nắm giữ bởi cơ quan nhà nước.
HRC giải thích rằng, quyền này được bao hàm trong khoản 2 Điều 19 ICCPR. Theo đó, mọi người có quyền tiếp cận thông tin mà các cơ quan công quyền nắm giữ. Các thông tin ấy bao gồm các dạng hồ sơ do một cơ quan công quyền nắm giữ, bất kể hình thức lưu trữ, nguồn tin và ngày xác lập. Các cơ quan công quyền là các cơ quan được nêu trong đoạn 7 của Bình luận chung này bao gồm “Tất cả mọi nhánh quyền lực nhà nước (hành pháp, lập pháp và tư pháp) và các cơ quan công quyền và tổ chức của Chính phủ, dù ở cấp độ nào quốc gia, khu vực hay địa phương”.
Quyền TCTT làm tăng tính chủ động của chủ thể có nhu cầu thông tin khi có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin phải cung cấp thông tin mà họ cần với điều kiện thông tin đó nằm trong giới hạn cho phép. Một điều cần lưu ý là quyền TCTT cũng chỉ có nghĩa là quyền tìm kiếm, tiếp nhận thông tin mà không bao gồm quyền chia sẻ, phổ biến thông tin được cơ quan nhà nước, các tổ chức và các nhân khác trong xã hội chia sẻ. Nó khác với thuật ngữ “quyền tự do thông tin”…hàm chứa một nội hàm rộng với nghĩa là công nhận và bảo hộ quyền của con người được tự do tìm kiếm, tiếp nhận, lưu giữ, phổ biến, sử dụng thông tin dưới tất cả các hình thức khác nhau với bất kỳ người nào khác. Như vậy, dưới góc độ quyền con người, quyền TCTT là quyền rất căn bản mà mọi người ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng.
Đó là quyền được biết thông tin của Nhà nước, nắm bắt được những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục và những vấn đề khác trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích, đến 11 cuộc sống của họ nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận. Thứ hai, quyền TCTT là quyền cơ bản của công dân vì được pháp luật các nước ghi nhận trong Hiến pháp, được các văn bản pháp luật khác cụ thể hóa. Chủ thể của quyền TCTT luôn là các cá nhân đặt trong mối quan hệ với nhà nước, và nhà nước là một bên bảo đảm thực hiện quyền này bằng pháp luật dựa trên mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể. Ở Việt Nam, quyền TCTT được Hiến định trong nhóm quyền cơ bản của con người, công dân tại Điều 25, Hiến pháp 2013 “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.
Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” [35]. Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam hiến định về quyền TCTT, bởi quyền này trong Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 đã được ghi nhận với tên gọi là quyền được thông tin tại Điều 69. Tuy nhiên, khái niệm và nội hàm của quyền TCTT đến năm 2016 mới được giải thích một cách chính thức và đầy đủ trong Luật TCTT. Theo đó, Luật TCTT năm 2016 chỉ ra rằng TCTT là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra vì đây là loại thông tin được đánh giá là quan trọng nhất và đại diện cho loại thông tin mà các công dân bình thường đều cần đến khi thực hiện các quyếtđịnh có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
Với tư cách là một quyền công dân, quyền TCTT là một trong những hình thức, phương thức, phương tiện để nhân dân làm chủ đất nước, thật sự tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Chỉ khi tiếp cận thông tin về hoạt động của bộ máy nhà nước một cách công khai, trung thực thì người dân mới có thể tham gia vào quản lý xã hội và thực hiện quyền làm chủ thực sự của mình, quản lý, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, vừa nâng cao tính minh bạch, tính trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừa bệnh quan liêu, phòng ngừa tham nhũng. Như vậy theo ý nghĩa chung nhất, có thể hiểu quyền TCTT là quyền của mọi công dân được tiếp cận những thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước. Công 12 dân có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức cung cấp những thông tin, tiếp cận những thông tin mà họ nắm giữ một cách dễ dàng và nhanh chóng mà không bị ngăn cản, hạn chế vì những lý do xuất phát từ ý chí chủ quan của những những người này hoặc những lý do ngoài các quy định của pháp luật.