Tổng quan nghiên cứu

Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của con người và công dân, được coi là một trong bốn trụ cột của nền quản trị công hiện đại cùng với trách nhiệm giải trình, tính dự đoán và sự tham gia của xã hội. Theo thống kê quốc tế, hơn 90 quốc gia đã hiến định quyền tiếp cận thông tin và hơn 140 quốc gia đã ban hành đạo luật chuyên ngành để bảo đảm quyền này trong thực tiễn. Tại Việt Nam, sau khi quyền tiếp cận thông tin được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa bằng Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, cơ chế bảo đảm quyền này đã có bước chuyển dịch quan trọng từ trạng thái thụ động sang chủ động thực thi.

Tại các địa phương miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù như tỉnh Đắk Nông, việc thực thi quyền tiếp cận thông tin qua phương tiện phát thanh - truyền hình giữ vai trò sống còn. Tỉnh Đắk Nông có địa hình phức tạp, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 31% dân số với hơn 40 dân tộc cùng sinh sống, đa số cư dân phân bố tại khu vực nông thôn. Hệ thống hạ tầng truyền thông địa phương hiện gồm 01 Đài Phát thanh và Truyền hình cấp tỉnh, 07 Đài Truyền thanh - Truyền hình cấp huyện và 280 trạm truyền thanh cấp xã.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng thực thi pháp luật và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình tại tỉnh Đắk Nông giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ tiếp cận thông tin chính sách của người dân địa phương lên trên 85%, giảm thiểu khoảng cách thông tin và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba lý thuyết và mô hình nghiên cứu nền tảng: Lý thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhấn mạnh nguyên tắc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền; Lý thuyết Quyền con người và Quyền công dân theo chuẩn mực quốc tế ghi nhận tại Điều 19 Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 và Điều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 cùng Bình luận chung số 34 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc; và Bộ 9 nguyên tắc mẫu về tự do thông tin của Tổ chức Quốc tế ARTICLE 19 với hai trọng tâm là công khai tối đa và xác định rõ nghĩa vụ công khai.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh năm khái niệm cốt lõi:

  • Quyền tiếp cận thông tin theo Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra;
  • Bảo đảm pháp lý quyền tiếp cận thông tin là tổng thể các quy phạm, cơ chế và thủ tục do Nhà nước thiết lập để hiện thực hóa quyền năng này;
  • Phương tiện phát thanh - truyền hình với tư cách là kênh truyền tải thông tin đại chúng chủ lực;
  • Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin gồm các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp truyền thông;
  • Giới hạn quyền tiếp cận thông tin đối với các loại tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước hoặc bảo vệ quyền riêng tư theo Điều 6 và Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Trung ương như Hiến pháp năm 2013, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Báo chí năm 2016, Nghị định số 13/2018/NĐ-CP, cùng các báo cáo tổng kết giai đoạn 2013-2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, Sở Thông tin và Truyền thông và Đài Phát thanh - Truyền hình Đắk Nông. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp từ hoạt động tác nghiệp thực tế tại 08 phòng chuyên môn của Đài tỉnh và hệ thống truyền thanh cơ sở.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu định ngạch trên toàn bộ địa bàn 08 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Đắk Nông. Mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 128 cán bộ, viên chức và người lao động của Đài Phát thanh và Truyền hình Đắk Nông cùng đại diện quản lý của 280 trạm truyền thanh cấp xã. Phương pháp chọn mẫu này bảo đảm bao quát đầy đủ các tầng nấc quản lý và đặc thù địa bàn từ trung tâm đô thị đến các buôn làng vùng sâu.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp so sánh luật học là nhằm đối chiếu khách quan giữa quy định pháp luật thực định với thực tiễn áp dụng tại một địa bàn đa dân tộc. Timeline nghiên cứu tập trung thu thập, xử lý và đánh giá dữ liệu thực tiễn diễn ra từ năm 2013 đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổ chức bộ máy và nhân lực ngành phát thanh - truyền hình địa phương có bước phát triển nhanh nhưng cơ cấu chuyên môn chưa thật sự cân đối. Đài Phát thanh và Truyền hình Đắk Nông từ quy mô 22 cán bộ năm 2004 theo Quyết định số 23/2004/QĐ-UB đã phát triển lên 128 người vào năm 2020, tăng hơn 480%, bao gồm 83 biên chế chính thức và 08 phòng chức năng. Tuy nhiên, tỷ lệ biên tập viên và phóng viên phụ trách tiếng dân tộc thiểu số tại 07 đài truyền thanh cấp huyện chỉ chiếm khoảng 12% tổng nhân lực, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu biên dịch chuyên sâu.

Thứ hai, diện phủ sóng kỹ thuật phát thanh - truyền hình đạt tỷ lệ cao nhưng hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ. Toàn tỉnh đã xây dựng được 280 trạm truyền thanh cấp xã và gần 50 trạm phát lại truyền hình công suất vừa và nhỏ, đưa tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt trên 95% diện tích tự nhiên và truyền hình đạt trên 90% địa bàn dân cư. Dù vậy, theo ước tính có khoảng 25% số trạm truyền thanh tại các xã vùng sâu bị xuống cấp về trang thiết bị hoặc thiếu kinh phí bảo trì thường xuyên.

Thứ ba, phương thức tiếp cận thông tin của người dân còn mang tính thụ động. Hơn 70% người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp nhận chủ trương, chính sách hoàn toàn dựa vào hệ thống loa phát thanh và lịch phát sóng cố định của đài truyền hình. Tỷ lệ người dân chủ động gửi văn bản yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin theo Điều 10 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đạt mức rất thấp, dưới 3%.

Thứ tư, công nghệ truyền thông hiện đại từng bước được tích hợp với 02 doanh nghiệp truyền hình cáp và dịch vụ truyền hình MyTV qua giao thức Internet của VNPT Đắk Nông. Dù hạ tầng số mở rộng, tỷ lệ người dân vùng dân tộc thiểu số tra cứu văn bản pháp luật trên cổng thông tin điện tử chỉ đạt khoảng 15%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ rào cản nhận thức pháp luật của người dân, thói quen tiếp nhận thông tin một chiều kéo dài, cùng với sự chia cắt phức tạp về mặt địa hình. Về phía cơ quan công quyền, đội ngũ cán bộ cơ sở đôi khi còn tâm lý e ngại cung cấp thông tin, thiếu kỹ năng phân loại tài liệu mật và chưa ban hành quy chế nội bộ chi tiết theo yêu cầu của Nghị định số 13/2018/NĐ-CP.

So sánh với các địa phương khác, tỉnh Sơn La đã tổ chức 180 cuộc tuyên truyền cho 17.560 lượt người nghe và phát triển trang thông tin phổ biến pháp luật bằng 03 thứ tiếng gồm tiếng Kinh, tiếng Thái, tiếng Mông; tỉnh Quảng Nam thiết lập mạng lưới đầu mối cung cấp thông tin tại 100% cơ quan hành chính. Trong khi đó, việc số hóa dữ liệu và công khai thông tin định kỳ tại Đắk Nông diễn ra chậm hơn.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ phủ sóng phát thanh 95% và truyền hình 90% giữa khu vực trung tâm với các huyện biên giới, cùng bảng số liệu cơ cấu phân bổ 128 nhân sự theo 08 phòng ban chức năng của Đài tỉnh Đắk Nông. Điều này làm nổi bật mối tương quan giữa năng lực tổ chức bộ máy và hiệu quả bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trên thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành và chuẩn hóa Quy chế cung cấp thông tin nội bộ tại 100% cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan truyền thông trên địa bàn tỉnh; do Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp triển khai hoàn thành trước quý IV năm 2021, nhằm rút ngắn thời gian xử lý yêu cầu cung cấp thông tin xuống tối đa 03 ngày làm việc.

Thứ hai, nâng cấp toàn diện hạ tầng kỹ thuật cho 280 trạm truyền thanh cấp xã và lắp đặt bổ sung 15 trạm phát sóng FM công suất nhỏ tại các buôn làng xa xôi; do Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện trong giai đoạn 2021-2023, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ phủ sóng phát thanh chất lượng cao đạt 98% diện tích toàn tỉnh.

Thứ ba, mở rộng thời lượng và đa dạng hóa nội dung chương trình phát thanh - truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số như tiếng M'Nông, Ê Đê từ mức 30 phút/ngày lên tối thiểu 90 phút/ngày; giao Đài Phát thanh và Truyền hình Đắk Nông triển khai từ năm 2021 đến năm 2022, hướng tới nâng tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số nắm bắt kịp thời chính sách an sinh xã hội lên trên 80%.

Thứ tư, tổ chức định kỳ 20 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hàng năm về kỹ năng phát ngôn, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và phân loại bí mật nhà nước cho hơn 500 lượt cán bộ, công chức cấp huyện và cấp xã; do Sở Nội vụ phối hợp với Sở Tư pháp và Hội đồng Phối hợp Phổ biến Giáo dục Pháp luật tỉnh thực hiện trong giai đoạn 2021-2025.

Thứ năm, phát triển chuyên trang thông tin số đa phương tiện và tích hợp tính năng tiếp nhận phản ánh trực tuyến của công dân trên nền tảng di động; do Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì cùng các doanh nghiệp viễn thông hoàn thiện trong năm 2022, phấn đấu đạt mức 40% người dân địa phương chủ động tra cứu thông tin quản lý hành chính qua Internet.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương các cấp tại khu vực Tây Nguyên và miền núi: Luận văn cung cấp khung tham chiếu toàn diện để hoàn thiện quy chế phát ngôn, tổ chức giao ban báo chí định kỳ và xây dựng kế hoạch đầu tư hạ tầng truyền thông cơ sở cho 280 xã, phường.

Nhóm lãnh đạo, biên tập viên và kỹ thuật viên tại các cơ quan phát thanh - truyền hình địa phương: Cung cấp giải pháp thực tế để tái cơ cấu 08 phòng chuyên môn, nâng cao chất lượng biên tập chương trình tiếng dân tộc và nâng cao tinh thần trách nhiệm giải trình của 128 cán bộ đài trước công chúng.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Báo chí truyền thông: Luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật về việc áp dụng Điều 25 Hiến pháp năm 2013 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, hỗ trợ nghiên cứu các chuyên đề về quyền con người và thủ tục hành chính công.

Nhóm các tổ chức xã hội, luật sư và mạng lưới trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số: Giúp hiểu rõ quy trình pháp lý yêu cầu cung cấp thông tin về đất đai, quy hoạch và ngân sách địa phương, từ đó xây dựng tài liệu tuyên truyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho hơn 31% cư dân thiểu số tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình có phải là quyền tuyệt đối của mọi công dân không? Theo Điều 14 Hiến pháp năm 2013 và Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, đây không phải là quyền tuyệt đối. Cơ quan nhà nước có quyền từ chối cung cấp thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư hoặc các nội dung gây phương hại đến an ninh quốc gia. Nghĩa vụ cung cấp thông tin của 08 phòng ban tại Đài tỉnh luôn chịu sự giới hạn luật định nhằm bảo vệ trật tự công cộng.

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định công dân được tiếp cận thông tin qua những phương thức cụ thể nào? Điều 10 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định 02 hình thức tiếp cận chính: tự do tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước chủ động công khai trên các phương tiện truyền thông và trực tiếp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin. Tại Đắk Nông, người dân có thể tiếp nhận thông tin qua 280 trạm truyền thanh xã hoặc nộp phiếu yêu cầu trực tiếp tại cơ quan hành chính.

Đài Phát thanh và Truyền hình Đắk Nông có quy mô tổ chức và nhân sự như thế nào để phục vụ công chúng? Thành lập năm 2004 theo Quyết định số 23/2004/QĐ-UB với 22 cán bộ, đến năm 2020 Đài Phát thanh và Truyền hình Đắk Nông đã phát triển lên 128 cán bộ viên chức và người lao động, gồm 83 biên chế chính thức. Bộ máy gồm 08 phòng chức năng, trong đó Phòng Chương trình tiếng Dân tộc giữ vai trò cốt lõi trong việc biên dịch và phát sóng các chương trình tiếng M'Nông, Ê Đê.

Bài học kinh nghiệm từ tỉnh Sơn La có thể áp dụng như thế nào vào thực tiễn tỉnh Đắk Nông? Tỉnh Sơn La đã triển khai 180 cuộc tuyên truyền cho 17.560 lượt người tham dự và vận hành trang thông tin 03 thứ tiếng gồm Kinh, Thái, Mông. Đắk Nông có thể học tập mô hình này bằng cách đẩy mạnh truyền thông đa ngữ trên môi trường số, kết hợp hạ tầng sóng phát thanh với mạng Internet để phục vụ hơn 31% đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Rào cản lớn nhất của người dân vùng sâu tỉnh Đắk Nông khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin là gì? Rào cản lớn nhất là địa hình chia cắt phức tạp cùng thói quen tiếp nhận thông tin thụ động một chiều của hơn 70% người dân nông thôn. Dù toàn tỉnh có gần 50 trạm phát lại truyền hình, khoảng 25% trạm truyền thanh cấp xã vẫn gặp khó khăn về kinh phí bảo dưỡng kỹ thuật, làm gián đoạn việc tiếp cận chính sách tại các buôn làng xa xôi.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, khung pháp lý và 9 nguyên tắc quốc tế của ARTICLE 19 về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong hoạt động phát thanh - truyền hình.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn sinh động tại tỉnh Đắk Nông với quy mô 01 Đài cấp tỉnh gồm 128 nhân sự, 07 đài cấp huyện và 280 trạm truyền thanh cơ sở.
  • Nhận diện chính xác các rào cản cốt lõi gồm sự phân tán địa lý, tỷ lệ 70% người dân tiếp nhận thụ động và tình trạng thiếu hụt biên tập viên tiếng dân tộc thiểu số.
  • Thiết lập hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với mục tiêu nâng tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 98% và thời lượng tiếng dân tộc lên 90 phút/ngày trong lộ trình 2021-2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực chứng quan trọng giúp hoàn thiện cơ chế thực thi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và nâng cao năng lực giải trình của bộ máy hành chính địa phương.

Về định hướng tiếp theo, tỉnh Đắk Nông cần tập trung số hóa 100% dữ liệu truyền thanh cơ sở trong giai đoạn 2021-2023 và chuẩn hóa bộ chỉ số đo lường mức độ hài lòng của người dân về tiếp cận thông tin công vụ trước năm 2025. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm hãy chủ động khai thác toàn văn luận văn để cùng chung tay thúc đẩy một môi trường thông tin minh bạch, dân chủ và tiến bộ xã hội.