Chương 1. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 2. Đặc điểm và vai trò của các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với sự hình thành cấu trúc cảnh quan và sử dụng lãnh thổ lưu vực vịnh Cửa Lục Chương 3. Đặc điểm cấu trúc cảnh quan lưu vực vịnh Cửa Lục Chương 4.
Định hướng tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường theo các tiểu vùng cảnh quan 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về khu vực nghiên cứu Lưu vực vịnh Cửa Lục nằm ở phía Bắc thành phố Hạ Long và vịnh Hạ Long, có tọa độ địa lý trong khoảng 106o50’ - 107o15’ kinh đông và 20o54’47” - 21o15’ vĩ bắc (Hình 1. Lưu vực bao gồm phần lớn địa phận hành chính của huyện Hoành Bồ ở phía bắc, một số phường thuộc thành phố Hạ Long ở phía nam và một phần thị xã Cẩm Phả ở phía đông.
Phía bắc lưu vực giáp tỉnh Bắc Giang và huyện Ba Chẽ; phía đông, tây và nam giáp thị xã Cẩm Phả và thành phố Hạ Long. Một phần lớn diện tích xã Kỳ Thượng và Đồng Sơn thuộc huyện Hoành Bồ nằm ở phía bắc đường chia nước của lưu vực qua hai xã này. Lưu vực có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp (phần lớn thấp hơn 1000 m), nghiêng về phía nam. Vịnh Cửa Lục nằm trong vùng đệm của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, thông với vịnh Hạ Long ở phía nam qua eo Cửa Lục; Là một vịnh nửa kín, có vai trò điều tiết chế độ thuỷ hải văn các sông trước khi đổ ra vịnh Hạ Long.
Khi thuỷ triều rút, mặt nước vịnh thu hẹp nhanh chóng để lộ những bãi triều nghiêng thoải dần về phía nam (Nguyễn Cao Huần và nnk 2004. 14) [50], bị chia cắt bởi các dòng sông chảy qua vịnh và những lạch triều nhỏ. Xung quanh vịnh có rừng ngập mặn và bãi triều. Vịnh có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội khu vực và góp phần đáng kể hạn chế ô nhiễm trực tiếp môi trường nước vịnh Hạ Long.
Eo Cửa Lục phân chia thành phố Hạ Long thành hai phần: phần phía đông là trung tâm hành chính và đô thị tập trung dân cư liền kề với khu vực khai thác than Hòn Gai - Cẩm Phả, phần phía tây là một trung tâm du lịch cấp quốc gia. Dân cư trên lưu vực phân bố chủ yếu trên các dải đồng bằng hẹp xung quanh vịnh và dọc theo quốc lộ 18B. Các dải đồng bằng khá thuận lợi đối với việc mở rộng quỹ đất phát triển đô thị và khu công nghiệp. Nằm ở trung tâm của cực phía đông Khu vực kinh tế trọng điểm phía bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, thành phố Hạ Long (bao gồm cả vịnh Cửa Lục) là nơi được quy hoạch tập trung nhiều hạng mục phát triển kinh tế - xã hội quan trọng cấp quốc gia và các vùng như cảng biển nước sâu Cái Lân, cầu Bãi Cháy, các khu công nghiệp, sản xuất than, điện và vật liệu xây dựng, phát triển du lịch, phát triển nuôi trồng thuỷ sản và bảo tồn thiên nhiên.
Các hoạt động phát triển trên chủ yếu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tập trung ở khu vực thành phố Hạ Long và xung quanh ven bờ vịnh Cửa Lục. Sản xuất than phân bố chủ yếu ở phía đông vịnh, trên lưu vực sông Diễn vọng. Trên các khu vực đồi, núi thấp hoạt động kinh tế chủ yếu là phát triển rừng. Những năm gần đây, nhất là từ sau 1999, khu vực xung quanh vịnh đã trở thành trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh và đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc đất nước.
Khai thác và sử dụng tài nguyên đã làm biến đổi cơ bản cảnh quan và môi trường khu vực. Phân tích các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1- Nghiên cứu địa lý tổng hợp - Nghiên cứu cảnh quan phục vụ khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên: Cảnh quan là đơn vị lãnh thổ tự nhiên được xem như hệ thống phức tạp của các hợp phần cấu thành (cấu trúc đứng) và một hệ thống quan hệ giữa các đơn vị cảnh quan cấp nhỏ có quan hệ, tương tác bởi dòng vật chất và năng lượng (cấu trúc ngang). Những nghiên cứu địa lý ứng dụng trong đó nhấn mạnh nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp thực chất là nghiên cứu cảnh quan phục vụ quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên cho các vùng cụ thể đã được các tác giả trên thế giới đề cập khá kỹ trong nhiều tác phẩm (Shishenko P.), gần đây tác phẩm nổi tiếng (Integrated Environmental Planning) của James K. Lain (2003), Trường Đại học Ohio, Mỹ đề cập đến Quy hoạch môi trường tổng hợp theo quan điểm địa lý học.
Tiếp cận cảnh quan được đưa vào nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên ở nước ta từ những năm 1960 trở lại đây và đã nhanh chóng trở thành một lĩnh vực nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, đặc biệt là trong nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng lãnh thổ. Có nhiều nhà khoa học đã ứng dụng tiếp cận nghiên cứu cảnh quan trong nhiều lĩnh vực khác nhau: nghiên cứu xây dựng bản đồ (Nguyễn Thành Long và nnk, 1992; Nguyễn Thơ Các, 1999); Nghiên cứu, đánh giá các hệ sinh thái (Phạm Quang Anh và nnk, 1985; Nguyễn Văn Trương, 1992; Đào Thế Tuấn, 1984; Nguyễn Cao Huần, 2005; Phạm Hoàng Hải, 1997); Ứng dụng cảnh quan trong nghiên cứu lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch bảo vệ môi trường (Nguyễn Cao Huần và nnk, 2002, 2004, 2005; Phạm Quang Anh 1996, 2002; James K. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm cảnh quan cũng đã được các nhà khoa học ứng dụng trong một số nghiên cứu gần đây ở tỉnh Quảng Ninh nhằm xây dựng cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Một số nghiên cứu đáng lưu ý: “Đánh giá tải lượng bồi lắng và ô nhiễm môi trường nước trên lưu vực vịnh Cửa Lục”, “Nghiên cứu lập Quy hoạch bảo vệ môi trường thị xã Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh” (Nguyễn Cao Huần, Hoàng Danh Sơn và nnk 2004, 2006) v.
2- Nghiên cứu lưu vực vịnh Cửa Lục Do có vị trí quan trọng đối với chiến lược phát triển kinh tế vùng và mối liên hệ đặc biệt về mặt địa lý tự nhiên với vịnh Hạ Long và thành phố Hạ Long, lưu vực vịnh Cửa Lục được khá nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu, nhất là từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Có thể tóm tắt những nghiên cứu chính liên quan đến mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài luận án theo một số nhóm vấn đề như sau: a- Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên lưu vực và vịnh Cửa Lục: Đặc điểm địa chất khu vực được nghiên cứu rất sớm, ngay từ khi người Pháp đặt chân lên đất nước ta. Các nhà địa chất và kỹ sư mỏ người Pháp đã tiến hành nghiên cứu nhằm tìm kiếm và khai thác gấp khoáng sản, trong đó có than đá thuộc bể than Hòn Gai. Những nghiên cứu đầu tiên do J.
Deprat thực hiện, tiếp đó là Ch. Các bộ sưu tập cổ sinh vật do J. Patte nghiên cứu và kết quả đã được đăng trong các tập kỷ yếu (memoire) (từ 1912 đến 1927) và các tập san (từ năm 1931) của Sở Địa chất Đông dương. [35] Điều kiện địa lý tự nhiên khu vực được J.
Renaud nghiên cứu và nêu khá rõ trong một báo cáo khẳng định ưu thế xây dựng cảng biển nước sâu tại khu vực Hạ Long đăng trên tạp chí của Hiệp hội Địa lý Paris. Renaud cho rằng “vịnh Cửa Lục (còn gọi là vịnh Hone-gac hay là vịnh Courbet) là một vịnh nhỏ, nửa kín nhưng do có tính ổn định cao, luồng lạch khá sâu nên có điều kiện tốt nhất cho phát triển cảng nước sâu so với nhiều khu vực khác thuộc dải ven biển đông bắc đất nước” (J. Nghiên cứu này lần đầu tiên khẳng định các điều kiện địa lý tự nhiên cơ bản cho việc xây dựng cảng nước sâu Cái Lân sau này. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nghiên cứu của người Pháp tuy còn rất sơ lược, chủ yếu bằng các lộ trình, không tiến hành nghiên cứu một cách có kế hoạch cấu trúc địa chất, các phân vị địa hình, hệ động thực vật v.v của lãnh thổ nhưng đã cho thấy tính đa dạng, phức tạp của các điều kiện địa lý tự nhiên khu vực.
[35] Sau khi hoà bình lập lại năm 1954, các nhà địa chất Việt Nam, đứng đầu là Nguyễn Văn Chiển, Lê Đình Hữu, Phạm Đình Long, Trần Đức Lương, Bùi Phú Mỹ, Phạm Văn Quang, Nguyễn Trường Tri đã cùng các nhà khoa học Liên Xô cũ là A. Vaxilevxkaia tiếp tục mở rộng và từng bước hoàn thiện các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đất nước, trong đó có khu vực Hạ Long (Đovjikov A. , Trần Đức Lương và nnk, 1971) [35]. Việc nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội khu vực Hạ Long được đặc biệt quan tâm kể từ sau khi vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thiên nhiên Thế giới lần thứ nhất (17/12/1994).
Ngay sau thời điểm này, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã lập dự án “Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp công nghệ phòng chống ô nhiễm môi trường do khai thác than ở vùng than Quảng Ninh”. Đề tài đã nêu khá rõ những nét đặc trưng về địa chất, địa mạo lưu vực và đáy vịnh Cửa Lục, đồng thời cũng cảnh báo xu thế biến đổi môi trường địa chất khu vực, các nguy cơ ô nhiễm môi trường và các hiện tượng sạt lở, sụt lún, bồi lấp v.v (Đặng Văn Bát và nnk, 1996. Môi trường địa chất khu vực vịnh Cửa Lục được đề cập trong một số công trình nghiên cứu như là cơ sở quan trọng đối với phân tích tác động qua lại giữa hoạt động phát triển và môi trường địa chất hiện đại, nhằm dự báo tác động và các sự cố môi trường có thể ảnh hưởng tới vịnh Cửa Lục và vịnh Hạ Long (Nguyễn Hữu Cử và nnk, 1998) [16]. Tài nguyên rừng và các hệ sinh vật trên khu vực được nghiên cứu đồng thời với các nghiên cứu về địa chất khoáng sản và địa lý tự nhiên.