Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Xuân Thủy thuộc địa bàn tỉnh Nam Định được công nhận là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á từ năm 1989, đồng thời giữ vai trò là vùng lõi trọng yếu của Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng. Với diện tích tự nhiên rộng lớn tại cửa sông Ba Lạt, khu vực này cung cấp nền tảng sinh thái thiết yếu cho hơn 48.000 nhân khẩu thuộc 5 xã vùng đệm gồm Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải. Tuy nhiên, áp lực phát triển kinh tế cục bộ đã dẫn tới sự suy giảm nghiêm trọng các dịch vụ môi trường; điển hình là trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000, diện tích rừng ngập mặn sụt giảm 71,4% từ 1.456,7 ha xuống còn 411,9 ha, trong khi diện tích đầm tôm tăng vọt 660,9% lên mức 2.795,5 ha. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là giải quyết mâu thuẫn gay gắt giữa bảo tồn đa dạng sinh học và nhu cầu sinh kế của cộng đồng địa phương vốn phụ thuộc tới gần 50% vào tài nguyên đất ngập nước. Mục tiêu của luận văn là nhận diện, phân loại các loại hình dịch vụ hệ sinh thái, lượng hóa giá trị kinh tế bằng các mô hình chuyên biệt và đánh giá mức độ phụ thuộc sinh kế của người dân tại 5 xã vùng đệm trong năm 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi thiết lập cơ sở khoa học để tái cơ cấu không gian kinh tế ven biển, tối ưu hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và bảo vệ 20,7 km đê biển trước rủi ro biến đổi khí hậu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết Kinh tế học Hệ sinh thái và Đa dạng sinh học TEEB công bố năm 2010 kết hợp mô hình Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ MEA và khung Tổng giá trị kinh tế TEV do Turner phát triển năm 2003. Khung lý thuyết phân loại dịch vụ tự nhiên thành 4 nhóm chức năng cốt lõi: dịch vụ cung cấp (thực phẩm, thủy hải sản, mật ong, rong câu), dịch vụ điều tiết (kiểm soát xói lở, làm sạch nước, chắn bão bảo vệ đê điều), dịch vụ văn hóa (du lịch sinh thái, nghiên cứu giáo dục) và dịch vụ hỗ trợ (chu trình dinh dưỡng, bãi đẻ thủy sinh vật, nơi dừng chân của chim di cư). Các khái niệm trung tâm bao gồm dịch vụ hệ sinh thái, tổng giá trị kinh tế, sinh kế bền vững và tính dễ bị tổn thương sinh thái. Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác hai chiều giữa tình trạng suy thoái cấu trúc sinh học với mức độ an ninh kinh tế hộ gia đình, làm rõ vai trò của nguồn vốn tự nhiên trong ổn định thu nhập ròng cho cư dân bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thông qua quy trình đa phương pháp chặt chẽ trong năm 2013. Cỡ mẫu sơ cấp bao gồm 30 cuộc phỏng vấn cấu trúc chuyên sâu đối với các hộ nuôi tôm, nuôi ngao, thu gom hải sản thủ công, nuôi ong và 10 cuộc phỏng vấn chuyên gia gồm 4 cán bộ Vườn quốc gia cùng 6 lãnh đạo ủy ban nhân dân 5 xã vùng đệm. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu mục tiêu phân tầng theo nhóm sinh kế nhằm phản ánh trung thực cơ cấu kinh tế tại các dải không gian ven đê. Về phân tích kinh tế lượng, luận văn lựa chọn 3 phương pháp trụ cột: phương pháp Giá thị trường để tính toán doanh thu và thu nhập ròng từ nguồn lợi thủy hải sản, phương pháp Chi phí thiệt hại tránh được nhằm ước tính giá trị bảo vệ công trình đối với 20,7 km đê biển trước bão lũ, và phương pháp Chi phí du lịch để lượng hóa giá trị giải trí sinh thái từ tập du khách. Phần mềm hệ thống thông tin địa lý MapInfo được ứng dụng để chồng lớp bản đồ hiện trạng sử dụng đất và phân vùng 4 hệ sinh thái chính với độ chính xác cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về hiện trạng tài nguyên và cơ cấu kinh tế:

Thứ nhất, có sự chuyển đổi không gian sinh thái sâu sắc khi diện tích đầm tôm chiếm 183 cơ sở với tổng quy mô hơn 1.780 ha, trong đó 52,05% tương đương 926 ha là đầm trắng hoàn toàn không có rừng ngập mặn che phủ, kéo theo việc 154 ha đầm nuôi lấn sâu vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của vùng lõi gồm 54 ha tại Cồn Lu và 100 ha tại Cồn Ngạn.

Thứ hai, mức độ phụ thuộc sinh kế của người dân địa phương rất cao nhưng phân hóa mạnh: tỷ lệ tham gia khai thác hải sản tự do thủ công chiếm tới 41,07% số hộ, làm thuê bãi ngao và đầm tôm chiếm 15,77%, nuôi tôm chiếm 9,62%, và kinh doanh dịch vụ hải sản nhỏ lẻ chiếm 3,32%.

Thứ ba, sự xung đột nhận thức về môi trường ở mức báo động khi 98% số hộ phỏng vấn cho rằng có thể sử dụng kích điện hoặc hóa chất trong đánh bắt, 91% mong muốn dùng chất kích thích sinh trưởng và 58% hộ nuôi trồng ủng hộ hình thức thâm canh công nghiệp không cần rừng ngập mặn, trong khi chỉ 17% ủng hộ mô hình sinh thái kết hợp.

Thứ tư, khu hệ sinh thái sở hữu giá trị đa dạng sinh học vượt trội với 192 loài thực vật bậc cao, 156 loài cá với 57 loài có giá trị thương phẩm cao, 154 loài động vật đáy và 219 loài chim cư trú, đại diện cho 26,4% tổng số loài chim của toàn lãnh thổ Việt Nam.

Thảo luận kết quả

Sự sụt giảm năng suất tôm tự nhiên và biến mất của hơn 300 ha cỏ sậy tại Cồn Ngạn bắt nguồn từ việc đắp đập ngăn sông Vọp và bồi lấp sông Trà, gây ngọt hóa vùng cửa sông và mặn hóa cục bộ các diện tích xa biển. Mực nước biển dâng cao 50 đến 70 cm so với năm 2000 cùng các đợt triều cường bất thường đã làm chết đứng 5 ha rừng phi lao phòng hộ tại Cồn Lu và gây sạt lở 6 đến 10 ha rừng ngập mặn ven bờ. So với các phát hiện tại một số khu bảo tồn khác như Cúc Phương hay Tràm Chim, nghiên cứu tại Xuân Thủy chứng minh rằng sự sụt giảm nguồn vốn tự nhiên đe dọa trực tiếp đến tầng lớp dân nghèo khai thác thủ công vốn dễ bị tổn thương nhất. Để trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu này có thể được trình bày thông qua biểu đồ cơ cấu hình tròn thể hiện tỷ lệ 41,07% lao động khai thác tự do, biểu đồ cột ghép thể hiện độ tương phản giữa mức giảm 71,4% của rừng ngập mặn với mức tăng 660,9% của đầm nuôi trồng, cùng bảng ma trận tổng hợp định lượng 4 nhóm dịch vụ hệ sinh thái theo chuẩn mực quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển kinh tế bền vững gắn liền bảo tồn đất ngập nước, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, chuyển đổi đồng bộ mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến sang hình thức nuôi tôm sinh thái kết hợp rừng ngập mặn, bảo đảm tỷ lệ che phủ của cây trang và sú trong đầm đạt tối thiểu 30% đến 50%, cấm triệt để việc chặt phá thảm thực vật tự nhiên. Chủ thể thực hiện là Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Giao Thủy phối hợp các hộ nuôi, triển khai theo lộ trình giai đoạn 2014 đến 2018.

Thứ hai, thiết lập cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và phân bổ nguồn thu từ du lịch sinh thái, trích lập 10% đến 15% tổng phí tham quan để tái đầu tư vào công tác tuần tra bảo vệ rừng và hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho người nghèo. Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy chủ trì phối hợp Quỹ Bảo vệ Môi trường tỉnh Nam Định, thực hiện từ năm 2014.

Thứ ba, triển khai chương trình truyền thông cộng đồng và nâng cao năng lực kỹ thuật, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ 98% hộ có thói quen dùng xung điện xuống dưới 10% trong vòng 3 năm, đồng thời tập huấn kỹ thuật nuôi ngao an toàn sinh học trên 821 ha bãi triều. Ủy ban nhân dân 5 xã vùng đệm cùng Hội Nông dân điều phối thực hiện trong giai đoạn 2014 đến 2016.

Thứ tư, điều chỉnh quy hoạch phân vùng chức năng, thu hồi dứt điểm 154 ha đầm tôm trong vùng lõi Cồn Lu và Cồn Ngạn để phục hồi sinh cảnh tự nhiên cho các loài chim di cư, đồng thời nạo vét dòng chảy lưu thông giữa sông Vọp và sông Trà. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định cùng Ủy ban nhân dân huyện Giao Thủy giám sát thực hiện từ năm 2015 đến 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước như Tổng cục Môi trường, Chi cục Kiểm lâm và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, sử dụng kết quả để xây dựng khung đánh giá kinh tế tài nguyên và quy hoạch mạng lưới 16 khu bảo tồn biển, đất ngập nước quốc gia.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kinh tế Môi trường và Quản lý Tài nguyên, khai thác phương pháp luận kết hợp giữa mô hình TEEB, phương pháp chi phí tránh được và kỹ thuật hệ thống thông tin địa lý MapInfo làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu thực nghiệm.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và định chế quốc tế như Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên IUCN, Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên WWF, Quỹ Môi trường Toàn cầu GEF và Ban Thư ký Công ước Ramsar, ứng dụng số liệu thực địa để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu cho 5 xã ven biển.

Thứ tư, chính quyền địa phương cấp huyện, xã và các hợp tác xã thủy sản vùng đồng bằng sông Hồng, ứng dụng mô hình nuôi xen canh sinh thái nhằm gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu và bảo vệ 20,7 km đê biển trước mùa mưa bão.

Câu hỏi thường gặp

Dịch vụ hệ sinh thái tại Vườn quốc gia Xuân Thủy đóng vai trò quan trọng như thế nào đối với thu nhập của người dân địa phương?
Tài nguyên đất ngập nước trực tiếp bảo đảm sinh kế cho gần 50% số hộ gia đình tại 5 xã vùng đệm, trong đó hoạt động khai thác thủ công đóng góp việc làm cho 41,07% dân cư và nghề nuôi ngao tạo doanh thu trên diện tích canh tác thực tế 821 ha.

Nguyên nhân chính dẫn tới sự sụt giảm 71,4% diện tích rừng ngập mặn tại Xuân Thủy giai đoạn 1986 đến 2000 là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do việc ồ ạt mở rộng diện tích đầm tôm tăng 660,9% từ 432,3 ha lên 2.795,5 ha, biến các vạt rừng tự nhiên thành đầm trắng chiếm tỷ lệ 52,05%, kết hợp việc đắp đê ngăn chặn chu kỳ tuần hoàn triều tự nhiên làm cây rừng bị úng ngập chết khô.

Luận văn đã sử dụng các phương pháp kinh tế môi trường cụ thể nào để lượng giá tài nguyên?
Tác giả đã tích hợp 3 công cụ lượng giá kinh điển gồm phương pháp Giá thị trường đối với thủy sản và mật ong, phương pháp Chi phí thiệt hại tránh được để tính giá trị bảo vệ 20,7 km đê biển, và phương pháp Chi phí du lịch để định giá dịch vụ văn hóa giải trí.

Tác động của biến đổi khí hậu và can thiệp thủy văn biểu hiện rõ nhất ở những khía cạnh nào?
Mực nước biển dâng từ 50 đến 70 cm đã khiến 5 ha rừng phi lao Cồn Lu bị ngập mặn chết khô, đồng thời việc đắp đập ngăn sông Vọp làm xáo trộn độ mặn, khiến loài hà bám phá hủy rễ cây ngập mặn và làm mất hoàn toàn 300 ha cỏ sậy tự nhiên.

Làm thế nào để dung hòa mâu thuẫn giữa phát triển đầm nuôi tôm và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu Ramsar?
Giải pháp hữu hiệu nhất là chuyển đổi sang mô hình nuôi tôm sinh thái duy trì 30% đến 50% độ che phủ rừng ngập mặn, di dời 154 ha đầm tôm khỏi vùng lõi bảo tồn nghiêm ngặt và xóa bỏ triệt để việc lạm dụng hóa chất đánh bắt độc hại.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa toàn diện giá trị kinh tế của các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, chứng minh tài nguyên thiên nhiên quyết định sinh kế của hơn 48.000 dân cư tại 5 xã vùng đệm.
  • Công trình đã chỉ ra mối xung đột sâu sắc giữa mức sụt giảm 71,4% của rừng ngập mặn với sự phát triển tự phát của 183 đầm tôm và tình trạng 98% người dân chưa nhận thức đúng về phương pháp khai thác bền vững.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi là việc hoàn thiện khung phương pháp luận kết hợp giữa lý thuyết TEEB, các mô hình lượng giá kinh tế môi trường và công nghệ bản đồ viễn thám trong điều kiện quản lý thực tế tại Việt Nam.
  • Lộ trình tiếp theo yêu cầu hoàn thành việc thu hồi 154 ha đầm tôm vùng lõi và chuyển đổi 926 ha đầm trắng sang mô hình tôm rừng sinh thái trong giai đoạn 2015 đến 2020.
  • Các nhà hoạch định chính sách, tổ chức bảo tồn và cộng đồng địa phương cần nhanh chóng chung tay hành động để bảo tồn trọn vẹn khu Ramsar Xuân Thủy, bảo đảm tương lai thịnh vượng lâu dài cho dải bờ biển châu thổ sông Hồng.