Mở đầu bằng nghiên cứu của Nguyễn Đức Thanh và Lê Thị Hải (1999) về giá trị du lịch của VQG Cúc Phương thông qua việc sử dụng phương pháp TCM, phương pháp này tiếp tục được nhân rộng để định giá giá trị giải trí của các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên khác trong cả nước như khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Mun, VQG Ba Bể, BQG Bạch Mã. Ngoài phương pháp TCM, phương pháp CVM cũng được áp dụng phổ biến để xác định giá trị phi sử dụng của tài nguyên cũng như lợi ích của việc tiến hành các chương trình bảo tồn, cải thiện chất lượng môi trường. Gần đây, một phương pháp đánh giá mới dựa trên thị trường giả định và lựa chọn hành vi cũng đã được thực hiện trong nghiên cứu của Đỗ Nam Thắng (2008) để xác định giá trị của bảo tồn ĐNN của VQG Tràm Chim. Nghiên cứu của Đinh Đức Trường (2010) đã áp dụng thử nghiệm một số phương pháp và quy trình đánh giá tiên tiến của TG để đánh giá giá trị kinh tế tổng thể và từng phần gồm giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị phi sử dụng của tài nguyên ĐNN tại vùng cửa sông Ba Lạt, tỉnh Nam Định.
Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý dựa trên các kết quả đánh giá giá trị kinh tế. Sử dụng tài nguyên phát triển sản xuất và bảo vệ môi trƣờng. Tài nguyên và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ sinh thái xác định, cũng có quan niệm cho rằng khi đề cập tới bảo vệ môi trường cũng có nghĩa bao hàm cả bảo vệ tài nguyên. Tuy nhiên khi nói tới tài nguyên thường gắn với hoạt động kinh tế, là yếu tố đầu vào của hệ thống kinh tế, chúng có thể đo đếm và hạch toán được trong sổ sách kế toán, còn môi trường bao gồm hệ thống tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống và 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động của con người.
Như vậy trong môi trường có cả tài nguyên và người ta thường sử dụng cụm từ “Môi trường thiên nhiên”. Để bảo vệ tài nguyên và môi trường, trước hết phải bảo vệ môi trường thiên nhiên, ta thường đề cập tới cụm từ “Bảo vệ môi trường” là chính, còn đối với tài nguyên thường sử dụng cụm từ “Khai thác và sử dụng tiết kiệm tài nguyên”, xét về bản chất kinh tế, trong bối cảnh thể chế kinh tế thị trường, thường dùng cụm từ “Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên”. Như vậy bảo vệ tài nguyên và môi trường như thế nào là tốt nhất, từ năm 2010, chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã có những tiếp cận mới trong bảo vệ tài nguyên và môi trường, đó là quản trị môi trường (Environmental Governance) và kinh tế xanh (Green Economy) nhằm thay đổi cách nhìn nhận và tiếp cận mới về tài nguyên và môi trường phù hợp với xu thế phát triển hiện nay trên quy mô toàn cầu. Để bảo vệ tài nguyên và môi trường cần có những thay đổi trong cách tiếp cận mới sau đây.
- Thứ nhất, thay đổi cách nhìn nhận mới có tính tổng hợp, bảo vệ tài nguyên và môi trường phải dựa trên cơ sở nền tảng của hệ sinh thái, nghĩa là không quản lý đơn lẻ một thành phần nào mà tiếp cận dựa trên tính đặc thù của từng hệ sinh thái để đảm bảo sự liên kết và cân đối hài hòa của các thành phần tự nhiên trong hệ sinh thái vốn có của nó, không phá vỡ thành phần cấu trúc cũng như chức năng vốn có của hệ sinh thái. - Thứ hai, thay đổi cách thức nhìn nhận trong quản lý đối với bảo vệ tài nguyên và môi trường so với trước đây giữa cách nhìn nhận quản lý truyền thống với cách nhìn nhận quản lý mới đối với hệ sinh thái thể hiện quan bảng so sánh sau đây. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4:Bảng so sánh cách nhìn nhận trong quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường Quản lý truyền thống Quản lý hệ sinh thái Nhấn mạnh vào các sản vật và sự khai Nhấn mạnh sự cân bằng giữa những sản thác tài nguyên thiên nhiên vật, văn hóa và tính toàn vẹn sinh thái Quan điểm cứng nhắc, ổn định, cao trào Quan điểm không cứng nhắc, linh hoạt cộng đồng Giảm thiểu, đặc tính xác định Nhìn nhận tổng quát Dự đoán và kiểm soát Không chắc chắn và linh hoạt Các giải pháp được phát triển bởi các cơ Các giải pháp được phát triển thông qua quan quản lý tài nguyên và môi trường thảo luận giữa các bên tham gia đưa ra Xây dựng sự đồng thuận, các vấn đề đa Sự đối đầu phân cực các vấn đề đơn lẻ phương và đối tác cùng hợp tác - Thứ ba, xem xét lại sự đề cao đối với con người trong hệ thống tự nhiên dẫn đến tàn phá thiên nhiên, phải coi con người như là thành phần quan trọng của tự nhiên để điều chỉnh hành vi của mình. Con người sống được và tồn tại được là nhờ vào thiên nhiên gồm các nguồn tài nguyên và môi trường tự nhiên.
Thiên nhiên là cơ sở tiền đề cho sự sống và phát triển của con người. - Thứ tư, từ bỏ phương thức phát triển kinh tế cũ của mô hình “Kinh tế nâu”, hướng tới chuyển đổi mô hình phát triển mới, theo một cấu trúc kinh tế mà hiện nay các nước đang tiếp cân, đó là “Kinh tế xanh”, không chỉ mang lại phúc lợi cho còn người mà phải duy trì và phát triển hệ sinh thái. Muốn vậy bên cạnh khai thác phải đầu tư trở lại cho tự nhiên để phục hồi hệ sinh thái. Đối với những tài nguyên không tái tạo nguồn lợi thu được cần gìn giữ và đầu tư cho phát triên, chẳng hạn như đầu tư cho vốn con người.
- Thứ năm, trong bối cảnh của thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài nguyên và môi trường cần có sự kết hợp hài hòa giữa các giải pháp quản lý gồm các giải pháp về điều hành và kiểm soát với các giải pháp kinh tế. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nên tảng của các giải pháp này là thay đổi nhận thức của con người, chú trọng tới đạo đức, khơi dậy cái “tâm” của con người đối với thiên nhiên. Ngoài ra cần phải lượng giá được tài sản của thiên nhiên để có sự so sánh giữa các phương án lựa chọn phục vụ cho thiết kế chính sách và lựa chọn trong bảo vệ tài nguyên và môi trường. Việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh hướng tới phát triển bền vững, có sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và có môi trường sống trong lành, tốt đẹp.
Đối với VQGXT hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên ở đây rất phổ biến, đặc biệt là hình thức khai thác thủ công sử dụng các công cụ thô sơ trong khu vực RNM và bãi triều thu hút đến 70% số hộ, và 30% còn lại đầu tư thuyền đánh cá biển và đăng đáy. Tuy nhiên, người dân mỗi xã lại có địa điểm khai thác, hình thức và loại thủy sản được khai thác mang tính chất đặc trưng do ảnh hưởng của địa bàn cư trú. Trong khi người khai thác tự do thu nhặt tất cả các loại thủy hải sản có giá trị sử dụng và thương mại trên toàn khu vực VQGXT và ngoài biển, thì hoạt động nuôi trồng thủy hải sản lấy tôm và vạng là hai loài chủ lực. Tuy nhiên sản lượng của các loại thủy sản có giá trị như tôm và ngao thì đã giảm mạnh trong vòng 5 năm trở lại đây.
Nguyên nhân của sự suy giảm toàn diện này chưa được phân tích khoa học cụ thể, tuy nhiên theo như kết quả điều tra thì nhận thức của người dân là một điều đáng lo ngại. Khi mà các yếu tố xã hội của hoạt động khai thác như số người tham gia, phương thức, công cụ và địa điểm đánh bắt hầu như không thay đổi sức ép lên tài nguyên ĐNN nói chung và tài nguyên thủy sinh nói riêng tăng gấp đôi và sức ép sinh kế lên người dân cũng tăng theo cấp số tương tự. Đặc biệt, tính dễ bị tổn thương của sinh kế phụ thuộc vào ĐNN nơi đây còn lớn hơn nhiều lần khi bản thân người dân bị động về mặt thị trường và hạn chế trong kỹ năng chế biến nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Rõ ràng bản thân tài nguyên thủy sinh khu vực ĐNN 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com VQGXT và sinh kế của đại bộ phận người dân đang sống dựa vào nguồn lợi thủy sinh ĐNN nơi đây đang bị đe dọa từ nhiều yếu tố, cả chủ quan như nhận thức và cách tổ chức khai thác cũng như khách quan môi trường.
Như vậy đánh giá nhận thức của người dân khi khai thác thủy sản ở các khu vực VQG cho thấy người dân ở khu vực nghiên cứu đã có ý thức trong việc khai thác các loại thủy sản như: không nên khai thác thủy sản nhỏ, thủy sản đang mang trứng, hay các loại thủy sản quý và các loài chết không rõ nguyên nhân. Tuy nhiên người dân vẫn chưa nhận thức được các phương pháp khai thác có tác động tới HST, có 98% số hộ vẫn cho rằng có thể sử dụng điện và hóa chất để đánh bắt thủy sản và 91% vẫn muốn sử dụng các chất kích thích sinh trưởng trong nuôi trồng thủy sản. Các hộ nuôi trồng thủy sản có 58% cho rằng nên nuôi tôm theo chu trình công nghiệp không cần RNM, chỉ có 17% số hộ cho rằng nên nuôi tôm theo kiểu quảng canh kết hợp với phát triển RNM (Theo báo cáo kinh tế xã hội 2008). Rõ ràng, cùng với việc người dân khai thác các nguồn lợi từ thiên nhiên nhiên để làm giàu, VQG Xuân Thuỷ đang phải đối mặt với các vấn đề suy thoái môi trường.
Bởi vậy cần phải có quy hoạch sử dụng hợp lý nguồn lợi tự nhiên ở khu vực và thiết lập cơ chế kiểm soát an ninh và ô nhiễm, mới đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái rất nhạy cảm là đất ngập nước ở khu VQG Xuân Thuỷ. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.