Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Khởi nguồn từ tâm lí học và nhân học, phê bình cổ mẫu, một nhánh của phê bình huyền thoại có nội hàm rộng lớn hơn, đã có nhiều đóng góp quan trọng cho lĩnh vực nghiên cứu văn học thế kỉ XX. Bằng cách trở về với văn bản, tìm kiếm những mẫu hình cổ xưa thường xuyên được lặp lại thông qua các biểu tượng, nhân vật, motif, khuynh hướng nghiên cứu này đã mở ra cánh cửa bước vào thế giới tinh thần phong phú của nhân loại, đồng thời tiết lộ khả năng bồi đắp khu vườn cổ mẫu của mỗi nhà văn qua các thời kì. Được ghi nhận như là “một người khổng lồ của nền văn học Mỹ” [7], John Steinbeck và những tác phẩm của ông là đối tượng nghiên cứu của đông đảo các nhà phê bình trên thế giới và Việt Nam.
Do đó, lịch sử nghiên cứu sáng tác của nhà văn người Mỹ này đã có một phả hệ lâu dài và phong phú. Trong phần tổng quan, chúng tôi tiến hành khái lược lí thuyết phê bình cổ mẫu, đồng thời tổng thuật, phân tích các công trình nghiên cứu, bài viết về tiểu thuyết John Steinbeck và cổ mẫu trong tiểu thuyết John Steinbeck ở Việt Nam và trên thế giới. Phê bình cổ mẫu: từ cách tiếp cận tâm lí-huyền thoại đến cách tiếp cận lịch sử-xã hội Phê bình cổ mẫu (Archetypal Criticism) là một khuynh hướng nghiên cứu lớn trong lịch sử nghiên cứu văn học, bắt đầu phát triển vào những năm 1930 -1940 và đạt đến đỉnh cao vào những năm 50, 60 của thế kỉ XX. Chiến lược phê bình này là trở về với văn bản, tìm ra những tác phẩm gần gũi hoặc tương tự ở mọi nơi trên thế giới để hiểu rõ sự tái sinh của những nhân vật, kiểu trần thuật và motif cổ mẫu nhất định.
Lược sử phê bình cổ mẫu cho thấy có nhiều cách tiếp cận cổ mẫu tùy thuộc góc nhìn của người nghiên cứu. Trong đó, có thể xem cách tiếp cận tâm lí-huyền thoại, kết hợp giữa lí thuyết của Jung và Frye, là xu hướng nổi trội của phê bình cổ mẫu thời kì đầu. Tuy nhiên, vào cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, các nhà nghiên cứu dần nhận ra những điểm hạn chế của cách tiếp cận này, do đó, hướng đến kết hợp với phương pháp tiếp cận lịch sử-xã hội để khám phá cổ mẫu cả bề rộng lẫn bề sâu. Cách tiếp cận tâm lí-huyền thoại Cổ mẫu (archetype) là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ, được 10 hiểu là những mẫu hình ban đầu, thường được sao chép, mô phỏng, bắt chước về sau.
Ý nghĩa này được tạo nên từ những gốc từ của nó, đó là: “arkhe” mang nghĩa “khởi đầu, nguồn gốc, vị trí đầu tiên” và “typos” mang nghĩa “khuôn mẫu, mô hình hoặc kiểu mẫu” [8]. Trong tiếng Việt, thuật ngữ archetype được chuyển dịch bằng nhiều cách khác nhau: cổ mẫu, mẫu gốc, nguyên mẫu, siêu mẫu, mẫu tượng, mẫu cổ, sơ nguyên tượng. Tuy vậy, thuật ngữ này vẫn được thống nhất trong cách hiểu của giới nghiên cứu như là một yếu tố xuất hiện từ thời cổ xưa và trở thành mẫu số chung cho kinh nghiệm tinh thần của nhân loại. Ngay từ thời cổ đại, với quan điểm “con người có khả năng hòa nhập về tinh thần vào thế giới lí tưởng”, Platon đã đề xuất khái niệm idea, một trong ba khái niệm then chốt của học thuyết Platon, chỉ “những thực tại ở thế giới thứ nhất, ngoài cửa hang.
Những idea này có tính phi vật chất nhưng tồn tại khách quan và vĩnh cửu” [9]. Khái niệm idea của Platon đã khơi gợi cho Carl Jung, nhà tâm lí học người Thụy Sĩ, đề xuất cổ mẫu, một trong những ý tưởng quan trọng và nổi bật trong lí thuyết tâm lí học phân tích của ông. Khái niệm này gắn liền với lí thuyết nổi tiếng của Jung về vô thức tập thể. Quá trình hình thành lí thuyết cổ mẫu được Jung khởi đầu từ năm 1912, đánh dấu sự chia rẽ giữa ông và Sigmund Freud, vốn là thầy của Jung.
Đây cũng là thời điểm Jung bắt đầu theo đuổi hướng nghiên cứu độc lập về tâm lí học chuyên sâu. Các khái niệm, ý tưởng về cổ mẫu của Jung được tập hợp trong cuốn Archetypes and the Collective Unconscious (Cổ mẫu và vô thức tập thể, 1981) [10]. Theo đó, lí thuyết của Jung phân chia tâm lí con người thành ba cấp độ: ý thức cá nhân (ego), vô thức cá nhân (personal unconscious) và vô thức tập thể (collective unconscious). Trong đó, vô thức tập thể là yếu tố tâm lí làm nổi bật học thuyết của Jung so với các nhà tâm lí học khác.
Jung “chọn hạng từ ‘tập thể’ (collective) vì phần này của vô thức không mang tính cá thể mà phổ quát; trái ngược với tinh thần cá nhân, nó có những nội dung và kiểu hành vi gần như có mặt ở khắp nơi, trong mọi cá thể. Nói cách khác, nó giống nhau ở tất cả mọi người, và do đó cấu thành nên một chất nền tinh thần chung của bản tính siêu nhiên hiện diện trong mỗi chúng ta” [11]. Nội dung của vô thức tập thể được ông gọi tên là những cổ mẫu. Như thế, Jung là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “cổ mẫu” để “chỉ ‘những hình ảnh nguyên thủy’ và ‘dư lượng tâm linh’ của các nguyên mẫu được lặp đi lặp 11 lại trong vô thức tập thể của nhân loại và được thể hiện trong huyền thoại, tôn giáo, giấc mơ và mơ mộng cá nhân, cũng như trong các tác phẩm văn học” [12,16].
Theo ông, cổ mẫu tái xuất hiện trong tiến trình lịch sử nhân loại ở bất cứ nơi đâu có hoạt động sáng tạo. Nó lay động mỗi chúng ta bởi vì “nó khơi dậy trong ta một giọng nói to hơn giọng nói của chính ta” [13,599]. Đó là giọng nói của tổ tiên, của vô thức tập thể được lắng đọng qua bao thế hệ. Có thể nói, phải đến Jung cổ mẫu mới được xác lập như một thuật ngữ tâm lí học.
Trong Thăm dò tiềm thức, ông tái khẳng định rằng: cổ mẫu “là những yếu tố tâm thần không thể cắt nghĩa được bằng một sự việc xảy ra trong đời sống. Nó hình như bẩm sinh đã có, có từ nguyên thủy, nó là một thành phần trong gia tài tinh thần nhân loại” [14,95-96]. Ông cũng nhấn mạnh tính chất ban sơ, nguyên thủy của cổ mẫu như là những nội dung vô thức tập thể hiện hữu trong “những hình thức cổ xưa, hoặc đúng hơn là những hình thức nguyên thủy, tức là những hình ảnh chung tồn tại từ những thời đại xa xưa nhất” [15,78]. Cũng theo Jung, mặc dù “thoát thai từ vô thức tập thể” song cổ mẫu vẫn “có tính tự trị” của nó.
Điều này có nghĩa là “cổ mẫu không bó mình vĩnh viễn trong vô thức cộng đồng, như là cái có sẵn, mà nó luôn vận động, do những xung năng nội tại, nhằm phát triển trong xu hướng chống lại sự kiểm soát của ý thức” [DT 16]. Như vậy, những nghiên cứu của Jung đã tiết lộ rằng: cổ mẫu có nguồn cội từ xa xưa, nảy nở trong khu vườn vô thức tập thể, chứa đựng kí ức của cộng đồng, chúng mang tính bẩm sinh và tự trị. Ông cũng cho biết ứng với mỗi một trạng thái của con người sẽ có một cổ mẫu tương ứng, chẳng hạn như cổ mẫu Mẹ (Mother), Tái sinh (Rebirth), Tinh thần (Spirit), Kẻ lừa lọc (Trickster). do đó, số lượng cổ mẫu là vô tận [17].
Cùng với vô thức tập thể, cổ mẫu là một trong những chất liệu quan trọng để Jung “vẽ bản đồ tâm hồn con người” như Murey Stein từng nhận định. Tóm lại, trong lí thuyết tâm lí học phân tích của Jung, cổ mẫu mang tính phổ quát, tự trị và căn bản. Bất kì nền văn hóa hay giai đoạn lịch sử nào cũng đều chia sẻ những mô hình cổ mẫu phổ biến. Những “luận điểm tràn đầy cảm hứng khai phá” [16] của Jung về cổ mẫu đã mở ra hướng tiếp cận tâm lí học, định hình lí thuyết phê bình cổ mẫu và gợi hứng cho rất nhiều nhà nghiên cứu về sau.
Nhiều nhà phê bình như Maud Bokin, Joseph Campbell, Gaston Bachelard, Northrop Frye đã phát triển lí thuyết của Jung về vô thức tập thể và cổ mẫu để khám phá các tác phẩm văn chương. Trong đó, Northrop 12 Frye, nhà phê bình thần thoại người Canada, là người có công rất lớn đối với việc xác lập lí thuyết phê bình cổ mẫu khi mở rộng nội hàm thuật ngữ cổ mẫu của Jung bằng cách xem xét nó từ góc nhìn huyền thoại học. Công trình khoa học có sức ảnh hưởng lớn của Frye, Anatomy of Criticism (Giải phẫu văn chương), gồm có bốn tiểu luận: phê bình lịch sử, phê bình đạo đức, phê bình cổ mẫu và phê bình thể loại. Trong đó, tiểu luận thứ nhất gắn với các lí thuyết về thức (mode), tiểu luận thứ hai bàn về các biểu tượng làm tiền đề cho nghiên cứu cổ mẫu, tiểu luận thứ ba đề cập đến các huyền thoại, tiểu luận thứ tư nghiên cứu cách thức để tác giả và văn bản giao tiếp với độc giả hay khán giả [18].
Frye đề xuất rằng toàn bộ các tác phẩm văn học tạo thành một “thế giới văn chương độc lập” được tạo ra qua các thời đại bằng trí tưởng tượng của nhân loại để đồng hóa thế giới xa lạ và thờ ơ của tự nhiên thành những loại cổ mẫu, đáp ứng những mong muốn và nhu cầu dài lâu của con người. Trong thế giới văn chương này, bốn cổ mẫu thần thoại cơ bản tương ứng với bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông và bốn thể loại chủ yếu: hài kịch, truyện hư cấu, bi kịch, châm biếm. Như bản chất của chu kì tự nhiên, các mô thức tự sự này cũng vận động theo chu kì tuần hoàn, sống và chết, bốn mùa trong năm, bốn giai đoạn của đời người [19]. Khi xem xét mối quan hệ giữa huyền thoại và văn học, Frye phát hiện sự lặp lại của các cấu trúc hoặc ngữ cảnh và nhận định rằng văn học là huyền thoại được tái cấu trúc thông qua những cổ mẫu thần thoại liên tục được tái sinh và làm mới trong các mô thức tự sự khác nhau [13].
Nhìn từ cổ mẫu, Frye cho rằng vũ trụ văn chương không hoàn toàn quá tự trị và cô lập. “Văn học giữ vai trò chủ yếu trong việc biến đổi thế giới vật chất thành một thế giới ngôn từ sống động, dễ nhận thức và lưu lại ấn tượng lâu bền, bởi vì nó đáp ứng những nhu cầu và quan tâm của con người” [12,17].