Chương I: Những quy định chung” Luật Thanh niên Việt Nam (2005), quy định: “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Trong đề tài này lấy độ tuổi của thanh niên từ 18 đến 30 tuổi. Nhiều nhà khoa học khác, trong đó các nhà tâm lí học, giáo dục Việt Nam như L.Vugotxy (1997), Lê Văn Hồng (1997), Đặng Vũ hoạt, Hà Thế Ngữ (1987)… dựa vào hoạt động chủ đạo để xác định tuổi thanh niên. Theo cách này, trong lứa tuổi thanh niên nói chung có ba nhóm: Nhóm thứ nhất: Là những thanh niên đã trưởng thành về cơ thể và tâm lí nhưng vẫn còn theo học trong các trường phổ thông không có điều kiện học lên đó là lao động phổ thông, chưa có tay nghề.
Nhóm thứ hai: Là nhóm sau khi đã tốt nghiệp các trường dạy nghề hoặc cao đẳng, đại học (còn gọi là nhóm có chuyên môn kĩ thuật) Nhóm thứ ba: Là những thanh niên đang trực tiếp lao động sản xuất và các hoạt động khác mang tính nghề nghiệp hoặc bị mất việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm. Thanh niên nông thôn: Luật Thanh niên Việt Nam (2005), Thanh niên nông thôn là những người đang trực tiếp lao động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhưng sinh sống ở nông thôn. Về tuổi đời, thanh niên nông thôn là những người từ 16 đến 30 tuổi. Là tầng lớp thanh niên, thanh niên nông thôn cũng mang đầy đủ phẩm chất của lứa tuổi thanh niên nói chung.
Tuy nhiên, do đặc trưng của lao động nghề nghiệp và môi trường văn hóa – xã hội nông thôn, nên thanh niên nông thôn có nhiều điểm khác biệt với các thanh niên khác (thanh niên công nhân, thanh niên học sinh). Có thể kể ra một số đặc điểm điển hình của thanh niên nông thôn:. 8 Hầu hết thanh niên nông thôn gắn liền với sản xuất nông nghiệp. Ngay cả những người lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn cũng trực tiếp gắn với nông nghiệp và sản phẩm là nông nghiệp Những đặc điểm của thanh niên: Theo Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2002), thanh niên có những đặc điểm sau: Những điểm mạnh của lao động thanh niên: Có thể lực, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp về bộ phận nhân lực trẻ, khỏe, thậm chí trong các công việc dùng sức là chính.
Đối với lao động qua đào tạo: trong thực tế tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, nhu cầu lao động được chia thành các cấu phần khác nhau. Có những công việc đòi hỏi kỹ năng, kinh nghiệm; có những công việc đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và tố chất trẻ. Người sử dụng lao động thường không đánh giá người lao động thanh niên và lao động lớn tuổi theo cùng một cách. Đối với những công việc đòi hỏi kĩ năng và kinh nghiệm thường thì những người lớn tuổi chiếm ưu thế.
Tuy nhiên, đối với những công việc đòi hỏi không chỉ kiến thức, khả năng thích ứng, mà còn các tố chất thuộc về sức khỏe thì lao động thanh niên tốt nghiệp đại học, cao đẳng, và dạy nghề lại chiếm ưu thế. Đối với lao động phổ thông: Trong cơ cấu sử dụng nhân lực của các doanh nghiệp, không phải tất cả các bộ phận đều cần dùng nhân lực qua đào tạo mà vẫn cần một bộ phận nhân lực làm các công việc đơn giản, yêu cầu có sức khỏe là chính. Nhu cầu về lao động này tuy không nhiều, nhưng rõ ràng lao động thanh niên có ưu thế hơn lao động trung niên và cao tuổi. Khả năng cạnh tranh một vị trí làm việc của lao động thanh niên la cao hơn so với lao động ở các nhóm tuổi khác.
Rất nhiều phẩm chất của người lao động thanh niên được doanh nghiệp đánh giá cao. Đây là điểm mạnh để ổn định việc làm. Trong số những phẩm chất này, đáng chú ý nhất là sức khỏe, quan hệ với đồng nghiệp tại nơi làm việc. Nhờ những phẩm chất này mà việc hội nhập vào môi trường làm việc trở nên dễ dàng hơn.
Lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng và dạy nghề còn có những phẩm chất khác nữa như mong muốn thăng tiến trong nghề nghiệp, khả năng tiến bộ trong công việc, quan hệ tốt với đồng nghiệp và dễ hòa nhập vào môi trường làm việc. Những hạn chế của lao động thanh niên:. 9 Đối với lao động thanh niên tốt nghiệp phổ thông, hạn chế lớn nhất là không qua đào tạo nên việc hội nhập vào thị trường lao động không dễ dàng. Đối với lao động thanh niên qua đào tạo, hạn chế lớn nhất là cơ cấu lao động tốt nghiệp Đại học, cao đẳng và trường nghề quá mất cân đối.
Cơ cấu cung lao động mất cân đối thể hiện trước hết ở quan hệ giữa lao động có trình độ đại học với lao động có trình độ cao đẳng và công nhân kỹ thuật. Quan hệ này thường được nhắc tới như thừa thầy – thiếu thợ. Đối với lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng hay trường nghề, hạn chế thứ hai là kiến thức, kỹ năng có được từ trường đào tạo còn có khoảng cách lớn đối với thực tiễn công việc đòi hỏi. Chính vì vậy, sau khi tuyển xong, nhiều doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo lại, hoặc gửi đi đào tạo trước khi có thể sử dụng được họ.
Khoảng cách đối với yêu cầu của người sử dụng lao động có thể xem xét trên các mặt: kinh nghiệm, kiến thức cập nhật, kĩ năng thích nghi, ngoại ngữ, khả năng giao tiếp… Những khía cạnh này ít được đề cập hoặc đề cập không đầy đủ trong quá trình học tập. Đối với lao động thanh niên, họ còn có hạn chế nữa là tác phong lao động công nghiệp, ý thức kỷ luật lao động còn yếu. Lao động phổ thông phần lớn xuất thân từ nông thôn nên ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, chấp hành nội quy lao động… nên không dễ cho lao động phổ thông tìm việc. lối sống hợp tác trong công việc với đồng nghiệp, tuân thủ sự chỉ đạo của cán bộ quản lý còn yếu.
Cũng giống như lao động phổ thông, lao động tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo còn mang nặng tác phong của người lao động ở một nước có phần đông lao động làm việc ở nông thôn. Do nhiều nội dung, nhiều khía cạnh không được trang bị trong trường đào tạo nên họ ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, ngỡ ngàng với những quy định, thủ tục ký kết hợp đồng lao động, chấp hành nội quy lao động. Lao động thanh niên nói chung có các mối quan hệ xã hội, nhất là mạng lưới tuyển dụng rất hạn chế. Đây cũng là điểm yếu của họ khi tìm việc.
Nhiều nghiên cứu về thị trường lao động cho thấy việc tuyển dụng lao động hiện nay chủ yếu thông qua các mối quan hệ xã hội, tồn tại một mạng lưới xã hội trong tuyển dụng lao động. Tâm lý kén việc của người lao động thanh niên: Người lao động phổ thông là thanh niên, mặc dù không có trình độ chuyên môn kĩ thuật nhưng về mặt tâm lý, hầu. 10 hết muốn làm việc tại các đô thị lớn, rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn. Thêm vào đó đa số hiện nay thanh niên muốn làm việc ở khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và ít người muốn làm việc ở khu vực tư nhân.
Với lao động qua đào tạo cũng có tâm lý kén việc. Hầu hết muốn làm việc tại các đô thị lớn ; rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn. Thêm vào đó gần như đa số muốn làm việc ở khu vực nhà nước, chỉ ít người muốn làm việc ở khu vực tư nhân. Trong khi khu vực kinh tế tư nhân là khu vực dẫn đầu về tạo việc làm thì những tâm lý như vậy sẽ là rào cản cho việc hội nhập vào thị trường lao động.
Riêng đối với lao động thanh niên thất nghiệp, chưa có việc làm, họ có những điểm mạnh, điểm yếu nói trên, song họ còn có mặt hạn chế nữa đó là tính năng động trong tìm việc làm còn hạn chế, các kênh tuyển dụng trực tiếp còn chưa được lao động thanh niên sử dụng. Việc quá lệ thuộc vào các trợ giúp bên ngoài có thể là một trong những hạn chế lớn nhất của lao động thất nghiệp, chưa có việc làm. Lao động và thị trường lao động Theo Chu Thanh Hưởng & ctg (2004) Lao động được Ph.Ăngghen định nghĩa: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người” Theo tổ chức lao động (ILO): Lực lượng lao động là một bô phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm. 11 Dân số trong tuổi lao động quy định Có việc làm Không có việc làm Muốn làm việc Không muốn làm việc - Chủ động tìm việc Không chủ động tìm việc - Sẵn sàng làm việc Lực lượng lao động Không thuộc lực lượng lao động Hình 2.1 Cơ cấu lực lượng lao động Nguồn: Ngô Quang An (2012) Hai nhà khoa học Mỹ Ronald Erenbeng và Robert Smith đã đưa ra định nghĩa về thị trường lao động là: “…Thị trường mà đảm bảo việc làm cho người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm, thì được gọi là thị trường lao động”, cách định nghĩa này nhấn mạnh vào mối quan hệ lao động trong điều tiết việc làm, là mối quan hệ về cung – cầu lao động.
Mặt cung của thị trường chính là những người lao động hay nói khác hơn là người cung ứng sức lao động; còn mặt cầu của thị trường chính là người trực tiếp sử dụng sức lao động. Trong khi đó, nhà kinh tế học Nga Mikylski K.I lại cho rằng: “Thị trường lao động được hiểu như một hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội (trong đó có cả pháp luật), đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử dụng lao động”(trích bởi Nguyễn Văn Dũng, 2014). Theo Adam Smith (1826): “Thị trường là một không gian trao đổi hàng hóa dịch vụ”.