Chương 1 đến Chương 5 tập trung vào những vấn đề quan trọng của chứng cứ số như: Chứng cứ số là gì, các định nghĩa đã có, nguyên tắc trong pháp y kỹ thuật số. Nhận thức của con người về chứng cứ số, sự cần thiết của chứng cứ điện tử phục vụ cho quá trình điều tra chứng minh tội phạm, và những thách thức của nó. Xây dựng các khái niệm thuật ngữ có liên quan đến tội phạm máy tính và điều tra tội phạm máy tính. Vấn đề độ tin cậy của chứng cứ điện tử tại Tòa án, dựa vào thiết lập và thực thi chuỗi quy trình thu thập, phân tích, bảo quản dữ liệu điện tử, cũng như trình bày của chuyên gia hay điều tra viên, để Tòa án có cơ sở đánh giá trên các tiêu chí chấp nhận của chứng cứ.
Thảo luận các vấn đề pháp lý nảy sinh khi điều tra, liên quan đến tội phạm máy tính, trên cơ sở pháp luật của châu Âu và Hoa Kỳ. Phần 2 từ Chương 6 đến Chương 9 tập trung về điều tra số, chủ yếu là công tác bảo vệ, điều tra tại hiện trường số, thu thập chứng cứ điện tử, thực nghiệm hiện trường số, hay các vấn đề liên quan đến công nghệ và tội phạm. Phần 3 từ Chương 10 đến Chương 14 tập trung vào điều tra số các loại tội phạm cụ thể không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài. Phần 4, Phần 5 từ Chương 15 đến Chương 25 là phần pháp y số cho máy tính, mạng, thiết bị di động, phần này nghiên về công nghệ và kỹ thuật (Eoghan Casey, 2011).
Quyển sách có các khái niệm, kiến thức cơ bản cho chứng cứ điện tử góc độ pháp luật. Đồng thời, cuốn sách cũng cung cấp cho chúng ta những điều cần thiết trong điều tra và pháp y số, đây là hai nền tảng kiến thức quan trọng cho việc thu thập chứng cứ điện tử. Bên cạnh đó sách cũng cung cấp cho chúng ta kiến thức chuyên sâu về việc áp dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật để thu thập chứng cứ điện tử trong môi trường máy tính, mạng, thiết bị di động. Tuy nhiên, quyển sách này chưa trình bày những nội dung liên quan đến việc sử dụng chứng cứ điện tử chứng minh trong hoạt động tố tụng.
9 c) Tài liệu “Electronic Evidence in Civil and Administrative Proceedings” của Ủy ban Bộ trưởng Hội đồng châu Âu ngày 30/01/2019 về chứng cứ điện tử trong tiến trình tố tụng dân sự và hành chính. Nhằm tạo nguyên tắc đồng thuận giữa các quốc gia trong Liên minh Châu Âu, Ủy ban Bộ trưởng của Hội đồng châu Âu phát hành ấn phẩm “Electronic Evidence in Civil and Administrative Proceedings” về chứng cứ điện tử. Tài liệu này giải thích, hướng dẫn các các vấn đề pháp lý có liên quan đến chứng cứ điện tử. Tài liệu hỗ trợ các quốc gia thành viên, trong việc điều chỉnh hoạt động của cơ quan tư pháp và cơ chế giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến chứng cứ điện tử, trong tố tụng dân sự và hành chính như: (1) Lấy lời khai là chứng cứ miệng được thực hiện bởi một liên kết từ xa, qua hệ thống mạng máy tính, viễn thông.
(2) Các vấn đề trong sử dụng bằng chứng điện tử. (3) Thu thập, thu giữ và chuyển giao chứng cứ. (4) Giải thích thế nào là sự phù hợp hay là tính liên quan của chứng cứ điện tử. (5) Thế nào là độ tin cậy của chứng cứ điện tử.
(6) Yêu cầu đạt được trong lưu trữ, bảo quản chứng cứ trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ điện tử. (7) Yêu cầu trong lưu trữ, bảo tồn chứng cứ điện tử của Tòa án. (8) Nâng cao nhận thức cho các chủ thể tham gia tố tụng, thấy được sự cần thiết của chứng cứ điện tử, có kiến thức đủ để đánh giá chứng cứ, tăng cường các biện pháp đào tạo để họ đủ trình độ sử dụng chứng cứ điện tử. Tài liệu này cũng định nghĩa chứng cứ điện tử là bất kỳ bằng chứng nào thu được từ dữ liệu điện tử, được lưu trữ hoặc được tạo ra bởi bất kỳ thiết bị điện tử nào, mà hoạt động của thiết bị đó phụ thuộc vào chương trình phần mềm hoặc dữ liệu hay được lưu trữ trên thiết bị điện tử hoặc truyền qua hệ thống máy tính hoặc mạng (The Committee of Ministers of the Council of Europe, 2019).
Tài liệu này mang tính hỗ trợ các cơ quan tư pháp thực hiện công việc của mình trong sử dụng chứng cứ điện tử. Nó chủ yếu được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, của quá trình công tác tư pháp từ các quốc gia thành viên trong cộng đồng châu Âu. Tuy nhiên, quyển sách chưa lý giải một cách đầy đủ bản chất thuộc tính và quy trình thu thập, sử dụng chứng cứ điện tử để thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm chứng minh tình huống pháp lý, chưa nêu được cơ sở, tiêu chí đánh giá và chấp nhận chứng cứ trong các vụ án dân sự, hành chính. d) Tài liệu “Electronic evidence guide: A basic guide for Police Officers, Prosecutors and Judges” của tập thể tác giả Nigel Jones, Esther George, Fredesvinda Insa Mérida, Uwe Rasmussen, Victor Völzow, xuất bản năm 2014.
Tài liệu này hệ thống hóa các đặc trưng, nguồn gốc cũng như việc sử dụng chứng cứ điện tử. Tài liệu trang bị những kiến thức bổ ích cho Điều tra viên, Công tố viên, Thẩm phán và các chuyên gia tư pháp hình sự, về cách thức thu thập, xác định và 10 xử lý chứng cứ điện tử bảo đảm tính xác thực và khả năng chấp nhận trước tòa (Nigel Jones et al, 2014). Tài liệu là nguồn tri thức bổ ích cho các cơ quan tư pháp, giải quyết các vấn đề có liên quan đến chứng cứ điện tử trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, việc thực hiện theo hướng dẫn đối với các chủ thể khác nhau, khi tham gia tố tụng hình sự với những vai trò khác nhau là điều không đơn giản.
Ngoài ra, hướng dẫn chưa phải là cơ sở pháp lý thống nhất để các quốc gia khác nhau phải tuân theo. Do đó, tài liệu có ý nghĩa hướng dẫn thi hành hơn là một nền tảng lý thuyết để xây dựng các chế định về chứng cứ điện tử. e) Tài liệu “Hướng dẫn sử dụng chứng cứ điện tử ACPO Good Practice Guide for Digital Evidence” của Hiệp hội Cảnh sát trưởng ở Anh năm 2011. Tài liệu liên quan đến việc thu thập, phân tích, trình bày chứng cứ điện tử.
Tài liệu cho rằng, trong trường hợp cần thiết phải truy cập vào dữ liệu gốc thì chứng cứ điện tử phải được người có đủ năng lực để làm điều đó và phải có tài liệu chứng minh về sự cần thiết đó. Tài liệu cho rằng việc thu thập chứng cứ điện tử cần được lập biên bản và lưu giữ tất cả hành động đó dựa trên nền tảng kỹ thuật số (Association of Chief Police Officers of England, 2011). Mặc dù, chỉ giới hạn trong lĩnh vực hình sự, dành cho đối tượng là nhân viên và cơ quan tư pháp, hơn nữa chỉ đơn thuần là hướng dẫn thực hành nhưng các nguyên tắc sử dụng chứng cứ điện tử của nó đáng để chúng ta tìm hiểu, suy ngẫm và nghiên cứu. f) Bài viết “ACPO principles for digital evidence: Time for an update?” của Graeme Horsman đăng trên Tạp chí Elsevier B.
Bài báo chỉ ra các nguyên tắc về chứng cứ điện tử được nêu trong tài liệu ACPO Good Practice Guide for Digital Evidence năm 2011, của Hiệp hội Cảnh sát trưởng Anh là chưa thật sự hợp lý. Tác giả chỉ ra các vấn đề chưa phù hợp đó là: Các tiêu chí đánh giá còn mơ hồ; các nguyên tắc trên chưa phù hợp với từng ngữ cảnh của việc sử dụng chứng cứ điện tử; các nguyên tắc chưa phù hợp với tốc độ phát triển của công nghệ. Từ đó, tác giả đề xuất 8 nguyên tắc trong sử dụng chứng cứ số, tập trung vào thẩm quyền cho phép thu thập chứng cứ điện tử; trách nhiệm; năng lực chủ thể tham gia tố tụng; bảo đảm quyền lợi của các bên; ý thức trách nhiệm, yêu cầu khách quan không thiên vị; bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu; có cơ chế kiểm tra ngược được, bảo đảm tính chính xác; thiết lập tài liệu thật cụ thể cho từng giai đoạn, thậm chí từng thao tác (Graeme Horsman, 2020). g) Tài liệu “The admissibility of electronic evidence in Court: Fighting against hightech crime introduction” của Hội đồng Liên minh Viễn thông quốc tế - ITU năm 2005.
11 Tài liệu có tên tạm dịch là “Sự chấp nhận của bằng chứng điện tử tại Tòa án: Chiến đấu chống lại tội phạm công nghệ cao”. Tài liệu cho rằng các nước ở châu Âu vận dụng pháp luật, để thừa nhận tính pháp lý của chứng cứ điện tử ở hầu hết các lĩnh vực dân sự và hình sự (AEC, 2005). Tại Pháp, trong lĩnh vực dân sự, việc mô tả bằng chứng tài liệu là kết quả của sự tổ chức sắp xếp logic các chữ cái, ký tự, số hay bất kỳ dấu hiệu hoặc biểu tượng nào khác có ý nghĩa rõ ràng, bất kể hỗ trợ và phương thức truyền tải nào và tài liệu điện tử cũng được hiểu như vậy. Luật Tố tụng Dân sự của Hà Lan quy định chứng cứ có thể có được bởi bất kỳ nguồn nào, phương tiện gì ngoại trừ những nguồn, phương tiện bị pháp luật nghiêm cấm.
Ở Luxemburg, Bộ luật Dân sự đã được cập nhật và chứa định nghĩa chữ ký điện tử, giải thích nó như là tập dữ liệu được kết nối với một tài liệu pháp lý, theo một cách không thể tách rời bảo đảm tính toàn vẹn. Luật tố tụng Hình sự của Đức có các điều khoản áp dụng cho bằng chứng điện tử, cụ thể các điều khoản liên quan đến bảo vệ dữ liệu trong quá trình điều tra. Họ nêu chi tiết các điều kiện để thu thập dữ liệu mà không quan tâm cụ thể cho các trường hợp. Luật Tố tụng Hình sự của Đức còn chấp nhận các quy phạm pháp luật về các biện pháp cần tuân thủ khi lưu dữ liệu cá nhân thu được trong các cuộc điều tra từ cơ sở dữ liệu của cảnh sát có được.2 Trong nước Việc nghiên cứu chứng cứ điện tử trong thời gian qua ở nước ta chưa nhiều.
Cụ thể, có một số công trình nghiên cứu về chứng cứ điện tử: a) Bài viết “Pháp luật về chứng cứ điện tử tại Việt Nam” của Nguyễn Thành Minh Chánh, Khoa Luật Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 08/4/2021.