Tổng quan luận án
Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện giao tiếp công vụ cơ bản nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành các quy tắc xử sự chung trong hoạt động thực tiễn, đồng thời đóng vai trò điều hành, quản lý và duy trì trật tự xã hội. Trong bối cảnh cải cách hành chính tại Việt Nam, yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu lực của hệ thống văn bản đòi hỏi phải tiếp cận và khai thác nguồn lực ngôn ngữ một cách hệ thống.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng các công trình phân tích diễn ngôn pháp luật trước đó tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào phân tích cấu trúc diễn ngôn hoặc kỹ thuật soạn thảo thuần túy, trong khi các đơn vị ngôn ngữ cụ thể và cơ chế vận hành của chúng trong việc hiện thực hóa quyền lực nhà nước chưa được xem xét thỏa đáng từ góc độ ngôn ngữ học chức năng.
Mục tiêu chung của luận án là nghiên cứu các chức năng ngôn ngữ trong văn bản quản lý nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn, làm rõ cách thức các chức năng này được hiện thực hóa và tác động của chúng đối với chất lượng cũng như hiệu quả giao tiếp công vụ. Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phân tích diễn ngôn văn bản quản lý nhà nước.
- Khảo sát, phân tích các chức năng ngôn ngữ thể hiện tính tư tưởng, tính liên nhân và tính văn bản của diễn ngôn văn bản quản lý nhà nước.
- Rút ra những chức năng tiêu biểu của ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu tổng thể của đề tài là hoạt động của các chức năng ngôn ngữ trong văn bản quản lý nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn, nơi thông tin được chuyển tải nhằm thể hiện tư tưởng và quyền lực của Nhà nước Việt Nam dưới sự chi phối của các nguồn lực ngôn ngữ.
Phạm vi và nguồn ngữ liệu khảo sát của luận án tập trung vào nhóm văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm:
- Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1999);
- Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007);
- Luật Giáo dục năm 2005;
- Các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành các bộ luật trên;
- Khi cần thiết, luận án mở rộng đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2009) và một số thông tư của các Bộ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được hệ thống hóa qua hai bối cảnh nghiên cứu quốc tế và trong nước:
Nghiên cứu quốc tế
- Ngữ pháp văn bản và phân tích ngôn ngữ pháp luật giai đoạn đầu: Từ giữa thế kỷ XX, các công trình ngữ pháp văn bản (textual linguistics) đặt nền móng cho việc phân tích văn bản chuyên ngành. Các tác giả như Danet (1980, 1985), Aiken (1977), Hager (1959), Christie (1985) đã tập trung khảo sát bản chất phức tạp về cú pháp của ngôn ngữ pháp luật; Kurzon (1986) đề xuất nghiên cứu văn bản pháp luật làm cơ sở xây dựng năng lực ngôn ngữ pháp lý.
- Phân tích thể loại (Genre Analysis) và ngôn ngữ học ứng dụng: Từ đầu thập niên 1980, V.K. Bhatia (1982, 1983, 1987, 1993, 1997) cùng Maley (1987) đã chuyển trọng tâm sang phân tích thể loại chuyên sâu. Bhatia xây dựng mô hình 7 bước phân tích thể loại, phân định các tiểu loại ngôn ngữ pháp luật theo bối cảnh giao tiếp nói/viết và mức độ thể chế hóa.
- Phân tích diễn ngôn phê phán (CDA): Trường phái này hình thành vào những năm cuối thế kỷ XX với các đại diện tiêu biểu như Norman Fairclough (1989, 1995, 2001), Teun van Dijk (1979, 1985, 1993), Ruth Wodak (1999), Chouliaraki & Fairclough (1999) và Fowler (1979). CDA xem ngôn ngữ là một thực tiễn xã hội, tập trung giải mã mối quan hệ giữa ngôn ngữ, quyền lực và ý thức hệ.
Nghiên cứu tại Việt Nam
- Hướng tiếp cận ngữ pháp văn bản và liên kết: Trần Ngọc Thêm (1985) với công trình "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt", Nguyễn Viết Thắng (1995) với "Hệ thống liên kết diễn ngôn tiếng Việt", và Diệp Quang Ban (1998, 2003) với "Văn bản và liên kết văn bản trong tiếng Việt".
- Hướng tiếp cận ngữ dụng học và phong cách học: Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong "Dụng học Việt ngữ" đã dành chương riêng nghiên cứu về diễn ngôn; Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (1993), Cù Đình Tú (1983), Hữu Đạt (2001) đã phân loại và miêu tả đặc điểm phong cách hành chính - công vụ.
- Hướng tiếp cận phân tích diễn ngôn chuyên ngành: Nguyễn Trọng Đàn (2003) nghiên cứu diễn ngôn thư tín thương mại; Lê Đông và Lê Thị Biên (2001) khảo sát ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt; Tạ Thị Thanh Hiền (2008) phân tích đối chiếu ngôn ngữ diễn ngôn Hiến pháp Việt Nam và Hiến pháp Hoa Kỳ.
- Hướng tiếp cận phân tích diễn ngôn phê phán: Nguyễn Hòa (2003, 2006, 2008) là tác giả đầu tiên giới thiệu có hệ thống lý thuyết CDA vào Việt Nam và đề xuất mô hình tích hợp phân tích diễn ngôn.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án định vị nghiên cứu tại điểm giao thoa giữa Ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday và Phân tích diễn ngôn phê phán, giải quyết khoảng trống trong việc khảo sát toàn diện và hệ thống 3 siêu chức năng ngôn ngữ (tư tưởng, liên nhân, văn bản) trên ngữ liệu văn bản quy phạm pháp luật tiếng Việt, từ đó làm rõ phương thức ngôn ngữ xác lập quyền lực và tính quy chuẩn của Nhà nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic Functional Linguistics - SFL): Tiếp cận theo quan điểm của M.A.K. Halliday (1985) và Martin (1984), xem ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu học xã hội (social-semiotic). Ngữ cảnh tình huống (Context of situation) gồm 3 tham số: Trường diễn ngôn (Field of discourse), Không khí chung của diễn ngôn (Tenor of discourse) và Cách thức diễn ngôn (Mode of discourse). Ba tham số này tương ứng với 3 siêu chức năng ngôn ngữ:
- Siêu chức năng tư tưởng (Ideational function): Gồm nghĩa kinh nghiệm (experiential) được hiện thực hóa qua hệ thống chuyển tác (transitivity) và nghĩa logic (logical) qua các quan hệ liên kết cú pháp.
- Siêu chức năng liên nhân (Interpersonal function): Thể hiện qua hệ thống thức (mood) và hệ thống tình thái (modality).
- Siêu chức năng văn bản (Textual function): Thể hiện qua cấu trúc Đề - Thuyết (Theme - Rheme), cấu trúc thông tin (Given - New) và hệ thống liên kết (cohesion).
- Phân tích diễn ngôn phê phán (CDA): Sử dụng khung phân tích của Fairclough (1995) với 3 cấp độ: miêu tả cấu trúc văn bản, giải thích quá trình tương tác xã hội và tương giải ý thức hệ; kết hợp khung phân tích nhận thức - xã hội của Van Dijk và mô hình phân tích diễn ngôn tích hợp 5 yếu tố của Nguyễn Hòa (2008).
- Phân tích thể loại (Genre Analysis): Vận dụng mô hình của V.K. Bhatia (1987, 1993) về biến thể ngôn ngữ thể chế chính thức, cấu trúc phát triển nhận thức và tính chất giao tiếp một chiều, gián tiếp của văn bản luật.
| Tham số ngữ cảnh (Halliday) | Siêu chức năng ngôn ngữ | Phương thức hiện thực hóa trong ngữ pháp |
|---|---|---|
| Trường diễn ngôn (Field) | Chức năng tư tưởng (Ideational) | Hệ thống chuyển tác (quá trình, tác thể), quan hệ logic |
| Không khí diễn ngôn (Tenor) | Chức năng liên nhân (Interpersonal) | Hệ thống thức, vị từ tình thái, động từ ngôn hành |
| Cách thức diễn ngôn (Mode) | Chức năng văn bản (Textual) | Cấu trúc Đề - Thuyết, thông tin Cũ - Mới, phép liên kết |
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Vận dụng CDA kết hợp với SFL để phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc văn bản với bối cảnh thể chế và quyền lực nhà nước.
- Phương pháp miêu tả: Khảo sát và định danh các đơn vị từ vựng, cú pháp thể hiện các chức năng ngôn ngữ trên văn bản quy phạm pháp luật.
- Thủ pháp thống kê định lượng: Đo lường tần số xuất hiện của các kiểu cú, loại quá trình chuyển tác, vị từ tình thái, phương thái và động từ ngôn hành để hỗ trợ cho các nhận định định tính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng về văn bản quản lý nhà nước và khung lý thuyết phân tích diễn ngôn:
- Bản chất văn bản quản lý nhà nước: Đối chiếu hai cách hiểu theo nghĩa rộng (văn bản của mọi cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp) và nghĩa hẹp (chủ yếu là văn bản chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính). Luận án lựa chọn cách hiểu theo nghĩa rộng đối với nhóm văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội và Chính phủ ban hành.
- Phân loại văn bản quản lý nhà nước: Tổng hợp các tiêu chí phân loại của khoa học hành chính (theo thẩm quyền ban hành, tên gọi, nội dung, hiệu lực pháp lý) thành 4 nhóm văn bản chính:
- Văn bản quy phạm pháp luật;
- Văn bản hành chính cá biệt;
- Văn bản hành chính thông thường;
- Văn bản chuyên môn - kỹ thuật.
- Cơ cấu của quy phạm pháp luật: Phân tích 3 bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật gồm Giả định (nêu điều kiện, hoàn cảnh áp dụng), Quy định (nêu quyền và nghĩa vụ của chủ thể) và Chế tài (nêu biện pháp xử lý khi vi phạm).
- Đặc điểm giao tiếp thể chế: Khẳng định tính chất giao tiếp gián tiếp, một chiều, tính chính thức và tính quyền lực tối cao của Nhà nước. Tác giả văn bản luật không phát ngôn với tư cách cá nhân mà là người thừa hành thể chế hóa ý chí của cơ quan quyền lực nhà nước.
- Cơ sở lý thuyết SFL, CDA và Thể loại: Trình bày chi tiết quan điểm của Halliday về ngữ cảnh và chức năng, các khuynh hướng CDA của Fairclough, Van Dijk, Wodak, mô hình tích hợp của Nguyễn Hòa và lý thuyết phân tích thể loại của Bhatia.
Chương 2: Khảo sát chức năng tư tưởng trong diễn ngôn văn bản quản lí nhà nước
Chương 2 phân tích cách thức văn bản quản lý nhà nước phản ánh hiện thực khách quan và kiến tạo các mô hình hành vi xã hội:
- Hệ thống chuyển tác (Transitivity): Phân tích 6 loại quá trình ngôn ngữ trong các điều luật:
- Quá trình vật chất (Material processes): Chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất, dùng để miêu tả các hành động, hoạt động quản lý, thực thi công vụ và các hành vi bị cấm hoặc bắt buộc thực hiện.
- Quá trình quan hệ (Relational processes): Sử dụng để định danh, xác lập quyền hạn, trách nhiệm, định nghĩa khái niệm và phân loại các đối tượng pháp lý.
- Quá trình phát ngôn (Verbal) và tinh thần (Mental): Xuất hiện với tần số thấp, thường chỉ giới hạn trong các quy định về khiếu nại, tố cáo, thẩm vấn, hoặc nhận thức pháp luật.
- Cơ chế biểu đạt tác thể và khách thể hóa: Khảo sát các cấu trúc câu lược bỏ tác thể hoặc ẩn tác thể (sử dụng câu bị động, câu vô nhân xưng) nhằm tạo tính khách quan tuyệt đối, phi cá nhân hóa và nhấn mạnh tính phổ quát của quy phạm pháp luật.
- Nghĩa logic: Phân tích mạng lưới liên kết cú pháp biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả ("Nếu... thì..."), quan hệ nguyên nhân - kết quả và quan hệ tương phản trong cấu trúc quy phạm (Giả định - Quy định - Chế tài).
Chương 3: Khảo sát chức năng liên nhân trong diễn ngôn văn bản quản lí nhà nước
Chương 3 khảo sát phương thức thiết lập quan hệ quyền uy và nghĩa vụ pháp lý giữa Nhà nước và các chủ thể xã hội:
- Hệ thống thức (Mood): Văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu sử dụng thức trần thuật nhưng mang giá trị hiệu lực hành vi sai khiến/mệnh lệnh gián tiếp. Cấu trúc câu tường thuật khách quan được dùng để biểu thị ý chí quyền lực bắt buộc thi hành của Nhà nước.
- Hệ thống tình thái (Modality):
- Tình thái nghĩa vụ/bắt buộc (Obligation): Các vị từ tình thái như phải, có trách nhiệm, bắt buộc được sử dụng để xác lập nghĩa vụ công dân và trách nhiệm công vụ.
- Tình thái cho phép/trao quyền (Permission/Authority): Các tổ hợp từ như có quyền, được quyền, được phép dùng để cấp quyền hoặc phân định thẩm quyền quản lý.
- Tình thái cấm đoán (Prohibition): Các từ ngữ như nghiêm cấm, không được, không được phép xác lập giới hạn hành vi và chế tài pháp lý.
- Hành động ngôn từ và động từ ngôn hành (Performatives): Phân tích các động từ thực hiện quyền lực thể chế trực tiếp như quy định, ban hành, đình chỉ, bãi bỏ, xử phạt, công nhận. Các vị từ này mang hiệu lực thực thi ngay khi văn bản được ban hành hợp pháp.
Chương 4: Khảo sát chức năng văn bản trong diễn ngôn văn bản quản lí nhà nước
Chương 4 nghiên cứu phương thức tổ chức thông tin và tạo tính mạch lạc cho văn bản:
- Cấu trúc Đề - Thuyết (Theme - Rheme):
- Phân tích tần số sử dụng Đề ngữ đánh dấu (Marked Themes) gồm các cụm từ chỉ điều kiện, phạm vi thời gian, không gian pháp lý đứng đầu câu ("Trong trường hợp...", "Khi phát hiện...", "Đối với người..."), giúp định hướng ngữ cảnh áp dụng của quy phạm.
- Đề ngữ không đánh dấu (Unmarked Themes) thường là chủ thể pháp lý (cơ quan, tổ chức, công dân), tạo sự tập trung trực tiếp vào đối tượng chịu sự điều chỉnh.
- Cấu trúc thông tin Cái đã cho - Cái mới (Given - New): Phân tích trình tự triển khai các điều khoản từ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng (thông tin đã biết) đến các quyền, nghĩa vụ cụ thể và chế tài áp dụng (thông tin mới cần thiết lập).
- Các phương thức liên kết văn bản: Khảo sát các phép liên kết hình thức và ngữ nghĩa gồm:
- Phép lặp từ vựng: Chiếm tỷ lệ vượt trội nhằm bảo đảm tính chính xác đơn nghĩa, tránh mơ hồ trong giải thích pháp luật.
- Phép nối: Sử dụng hệ thống liên từ logic chuyên biệt (và, hoặc, trừ trường hợp, đồng thời).
- Phép quy chiếu (Reference): Quy chiếu nội văn (dẫn chiếu điều, khoản, chương trong cùng văn bản) và quy chiếu ngoại văn (dẫn chiếu sang các luật, nghị định khác), tạo nên tính chỉnh thể của hệ thống pháp luật.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận
- Vận dụng mô hình Ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday và Phân tích diễn ngôn phê phán vào loại hình văn bản quản lý nhà nước bằng tiếng Việt, cung cấp một khung phân tích ngôn ngữ học toàn diện từ cấp độ siêu chức năng đến cấu trúc bề mặt.
- Làm sáng tỏ cơ chế ngôn ngữ hiện thực hóa tính quyền lực, tính thể chế và tính chuẩn mực khách quan của văn bản quy phạm pháp luật tiếng Việt qua các phương tiện chuyển tác, tình thái, cấu trúc Đề - Thuyết và mạng lưới liên kết.
Đóng góp về thực tiễn
- Cung cấp luận cứ ngôn ngữ học hỗ trợ cho các cơ quan lập pháp, hành pháp và các nhà soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật trong việc lựa chọn, sử dụng chuẩn xác các đơn vị ngôn ngữ, cấu trúc câu và phương thức định danh.
- Đóng góp nguồn ngữ liệu và khung phân tích ứng dụng cho công tác giảng dạy ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học văn bản, phong cách học tiếng Việt, cũng như các chuyên đề bồi dưỡng kỹ thuật soạn thảo văn bản và giao tiếp hành chính.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Chuẩn hóa việc sử dụng các vị từ tình thái (phân định rõ mức độ bắt buộc, cho phép, khuyến nghị) trong quy chuẩn hóa kỹ thuật soạn thảo văn bản.
- Nâng cao tính nhất quán trong cấu trúc Đề - Thuyết và mạng lưới dẫn chiếu nội văn/ngoại văn nhằm hạn chế sự mơ hồ, chồng chéo ngữ nghĩa trong việc thực thi văn bản quy phạm pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chủ yếu tập trung khảo sát trên nhóm văn bản quy phạm pháp luật cấp trung ương (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục và các Nghị định hướng dẫn liên quan), chưa mở rộng khảo sát trên toàn bộ các loại văn bản hành chính thông thường hoặc văn bản hành chính cá biệt ở cấp địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi phân tích sang các thể loại văn bản hành chính cá biệt (quyết định kỷ luật, quyết định bổ nhiệm) và văn bản hành chính thông thường (công văn, tờ trình, báo cáo).
- Khảo sát sự biến đổi chức năng ngôn ngữ của văn bản quản lý nhà nước theo tiến trình lịch sử cải cách thể chế hoặc nghiên cứu so sánh đối chiếu đa ngữ giữa văn bản quản lý nhà nước tiếng Việt và văn bản hành chính của các quốc gia khác.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống, phương pháp Phân tích diễn ngôn phê phán (CDA) và Phân tích thể loại áp dụng trên ngữ liệu tiếng Việt.
- Nhà soạn thảo văn bản và chuyên viên pháp chế: Tham khảo các phân tích về vị từ tình thái, cấu trúc chuyển tác, cấu trúc Đề - Thuyết và phép liên kết nhằm tối ưu hóa độ chuẩn xác, minh bạch khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
- Người làm công tác quản lý và đào tạo hành chính: Sử dụng các kết quả phân tích để biên soạn giáo trình, bài giảng về kỹ thuật soạn thảo văn bản hành chính và giao tiếp công vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những khung lý thuyết ngôn ngữ học chính nào?
Luận án kết hợp 3 khung lý thuyết chính: Ngữ pháp chức năng hệ thống (SFL) của M.A.K. Halliday (khảo sát 3 siêu chức năng: tư tưởng, liên nhân, văn bản); Phân tích diễn ngôn phê phán (CDA) của Norman Fairclough, Teun van Dijk, Ruth Wodak và mô hình tích hợp của Nguyễn Hòa; Lý thuyết phân tích thể loại (Genre Analysis) của V.K. Bhatia.
2. Điểm đặc thù về chủ thể giao tiếp trong văn bản quy phạm pháp luật là gì?
Theo phân tích thể loại của Bhatia được luận án tiếp thu, tác giả văn bản luật không phát ngôn với tư cách cá nhân. Người soạn thảo văn bản (writer) chỉ là người thừa hành kỹ thuật, trong khi chủ thể phát ngôn thực sự (originator) là cơ quan quyền lực nhà nước đại diện cho ý chí toàn dân. Người đọc thực tế là các chuyên gia pháp luật, thẩm phán, luật sư có nhiệm vụ giải thích và áp dụng luật cho công dân.
3. Siêu chức năng liên nhân được biểu hiện chủ yếu qua những phương tiện ngôn ngữ nào trong văn bản?
Siêu chức năng liên nhân được thể hiện qua hệ thống thức trần thuật mang hiệu lực sai khiến gián tiếp, hệ thống vị từ tình thái (bắt buộc, cho phép, cấm đoán) và hệ thống động từ ngôn hành mang tính quyền lực thể chế trực tiếp như quy định, ban hành, bãi bỏ, đình chỉ, xử phạt.
4. Vì sao văn bản quy phạm pháp luật ưu tiên sử dụng phép lặp từ vựng thay cho các phép thế hay tỉnh lược?
Trong phân tích chức năng văn bản, phép lặp từ vựng chiếm tỷ lệ vượt trội vì văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi tính chính xác, đơn nghĩa và nhất quán tuyệt đối về mặt thuật ngữ pháp lý, tránh tạo ra kẽ hở hoặc sự mơ hồ trong cách hiểu và áp dụng quy phạm.
5. Ngữ liệu khảo sát trọng tâm của luận án bao gồm những văn bản cụ thể nào?
Ngữ liệu trọng tâm gồm Bộ luật Hình sự (1985, sửa đổi 1999), Bộ luật Lao động (1994, sửa đổi 2002, 2006, 2007), Luật Giáo dục (2005) cùng các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành các bộ luật này, có mở rộng đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hà Nguyên là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chức năng ngôn ngữ trong văn bản quản lý nhà nước tiếng Việt dựa trên sự kết hợp giữa Ngữ pháp chức năng hệ thống và Phân tích diễn ngôn phê phán. Bằng việc khảo sát toàn diện 3 siêu chức năng tư tưởng, liên nhân và văn bản trên ngữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, luận án đã làm sáng tỏ cơ chế ngôn ngữ thể hiện quyền lực, ý chí và tính quy phạm của Nhà nước. Công trình đóng góp hệ thống cứ liệu học thuật phục vụ việc chuẩn hóa kỹ thuật lập quy và nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng tại Việt Nam.