Nghiên cứu kiến nghị bảo tồn và phát huy ngôn ngữ, chữ viết dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

Tổng hợp các kiến nghị bảo tồn và phát huy ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số tại Việt Nam nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Trường đại học

Viện Ngôn ngữ học

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Tác giả

Phan Lương Hùng

Thể loại

Đề tài nghiên cứu
55
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với bức tranh ngôn ngữ phong phú. Hiện nay cả nước ghi nhận 78 ngôn ngữ khác nhau. Tiếng Việt đóng vai trò ngôn ngữ quốc gia. 77 ngôn ngữ còn lại thuộc về 53 cộng đồng dân tộc thiểu số. Hệ thống này phân bố trên năm ngữ hệ chính. Đó là Nam Á, Nam Đảo, Tai-Kadai, Hán-Tạng và Mông-Dao. Trong đó ngữ hệ Nam Á chiếm số lượng đông đảo nhất với 24 ngôn ngữ. Quy mô dân số giữa các tộc người có sự chênh lệch lớn. Sáu dân tộc có dân số vượt mức một triệu người. Ngược lại, 11 nhóm dân tộc có dân số dưới 5.000 người. Dân tộc Ơ Đu ghi nhận số lượng thấp nhất với hơn 400 nhân khẩu. Về mặt loại hình học, hầu hết các ngôn ngữ đều mang đặc trưng đơn lập. Sự phân bố dân cư có nhiều chuyển dịch do di dân tự nhiên và tái định cư thủy điện. Những biến động này tạo nên cảnh huống đa ngữ phức tạp trên khắp cả nước. Sự đa dạng này khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của di sản văn hóa Việt Nam.

1.1. Cảnh huống ngôn ngữ và đặc điểm ngữ hệ

Cảnh huống ngôn ngữ tại Việt Nam mang tính đa dạng và đồng hình sâu sắc. Toàn bộ các ngôn ngữ đều thuộc loại hình đơn lập. Xét theo ngữ âm, ngôn ngữ chia thành nhóm đơn tiết và song tiết. Các ngữ hệ Tai-Kadai, Mông-Dao và Hán-Tạng mang tính đơn tiết điển hình. Trong khi đó, ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo đang diễn ra quá trình đơn tiết hóa liên tục. Nhiều dấu vết phụ tố cổ xưa vẫn còn lưu lại trong vốn từ. Sự đan xen giữa các dòng ngôn ngữ tạo nên bức tranh tiếp xúc ngôn ngữ sống động. Mỗi ngữ hệ đóng góp những giá trị ngữ âm và cú pháp độc đáo vào kho tàng ngôn từ quốc gia.

1.2. Hiện trạng chữ viết của các tộc người

Trong tổng số 77 ngôn ngữ dân tộc thiểu số, chỉ có 33 ngôn ngữ sở hữu hệ thống văn tự. Một số dân tộc lưu giữ chữ viết cổ truyền gắn với văn hóa bản địa. Điển hình gồm chữ Thái cổ, chữ Chăm và chữ Khmer. Những bộ chữ này gắn liền với kinh sách, nghi lễ tôn giáo và phong tục truyền thống. Ngoài ra, nhiều bộ chữ mới dùng tự dạng Latin ra đời trong thế kỷ qua. Chữ viết Êđê, Giarai hay Mông ghi nhận mức độ phổ biến nhất định. Tuy nhiên, hơn một nửa số ngôn ngữ còn lại chưa từng có văn tự riêng. Việc thiếu vắng chữ viết gây khó khăn cho việc lưu giữ tri thức bản địa.

II. Thực trạng ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số đối mặt nguy cơ

Nhiều ngôn ngữ thiểu số đang đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng. Phạm vi sử dụng tiếng mẹ đẻ bị thu hẹp đáng kể trong sinh hoạt hàng ngày. Đa phần các cộng đồng hiện nay tồn tại mô hình song ngữ tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt. Tiếng Việt chiếm ưu thế tuyệt đối trong hành chính, trường học và thương mại. Tiếng dân tộc thiểu số hầu như chỉ còn xuất hiện trong gia đình hoặc nghi lễ. Tỷ lệ người dân biết đọc và viết chữ của tộc người mình còn rất thấp. Thế hệ trẻ ít có cơ hội học chữ bản địa do thiếu tài liệu giảng dạy. Nhiều ngôn ngữ thuộc các nhóm dân số nhỏ rơi vào tình trạng nguy cấp. Khi người lớn tuổi qua đời, kho tàng từ vựng cổ biến mất theo. Quá trình đô thị hóa làm thay đổi nhanh chóng không gian văn hóa truyền thống. Không gian số và mạng xã hội thiếu vắng nội dung bằng tiếng dân tộc. Thực trạng này đe dọa trực tiếp sự tồn vong của di sản ngôn từ.

2.1. Rào cản trong truyền dạy và học tập chữ viết

Hệ thống giáo dục chữ viết dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập. Các trường phổ thông thiếu hụt giáo viên có chuyên môn ngôn ngữ bản địa. Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo chưa phong phú. Phương pháp giảng dạy còn nặng lý thuyết và thiếu thực hành. Chữ cổ truyền thống như Nôm Dao hay Nôm Tày quá phức tạp. Học sinh rất khó tiếp thu các bộ chữ tượng hình này trong thời gian ngắn. Tại nhiều vùng sâu, lớp học tiếng dân tộc chỉ mang tính tự phát. Thiếu chính sách tiền lương hấp dẫn cũng làm giảm động lực của nhà giáo. Tình trạng này khiến việc duy trì kỹ năng viết trong giới trẻ gặp trở ngại lớn.

2.2. Nguy cơ mai một đối với các nhóm dân số ít

Các dân tộc có dân số dưới 5.000 người đối diện nguy cơ biến mất ngôn ngữ cao nhất. Những nhóm như Ơ Đu, Rục hay Si La có số lượng người bản ngữ rất ít. Áp lực hòa nhập kinh tế khiến đồng bào chuyển sang dùng tiếng Việt hoàn toàn. Tiếng mẹ đẻ dần vắng bóng trong các cuộc hội thoại đời thường. Giới trẻ không còn mặn mà với phong tục và tiếng nói của cha ông. Tư liệu văn bản ghi âm ngữ âm các nhóm này còn rất sơ sài. Khi những nghệ nhân lớn tuổi mất đi, ngôn ngữ đứng trước nguy cơ diệt vong vĩnh viễn. Sự suy giảm này làm nghèo nàn bản sắc văn hóa tổng thể của quốc gia.

III. Kiến nghị bảo tồn ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số hiện nay

Công tác bảo tồn ngôn ngữ đòi hỏi chiến lược bài bản và thực tế. Nhà nước cần phân loại chữ viết cụ thể để có hướng tiếp cận phù hợp. Các bộ chữ cổ như Nôm Dao hay Nôm Tày không nên phổ cập đại trà cho học sinh. Loại văn tự này chỉ nên dùng đào tạo chuyên gia nghiên cứu văn bản cổ. Ngược lại, các bộ chữ truyền thống quen thuộc như Khmer hay Thái cần đưa thẳng vào trường học. Đối với hệ chữ Latin mới được chấp nhận như Chăm, Êđê hay Giarai, việc giảng dạy cần mở rộng mạnh mẽ. Những ngôn ngữ chưa có văn tự cần được khảo sát và xây dựng chữ mới theo ký tự Latin. Song song đó, việc đào tạo giáo viên tiếng bản địa là nhiệm vụ cốt lõi. Ngành giáo dục cần xây dựng bộ giáo trình chuẩn hóa và sinh động. Chính quyền địa phương phải có chế độ phụ cấp thỏa đáng cho người truyền dạy. Việc bảo vệ các ngôn ngữ nguy cấp phải gắn với cộng đồng bản xứ.

3.1. Phân loại và định hướng dạy học chữ viết

Định hướng dạy học chữ viết cần căn cứ vào đặc điểm từng loại hình văn tự. Đối với chữ cổ truyền thống phức tạp, mục tiêu chính là đào tạo chuyên gia bảo tồn tài liệu cổ. Đối với các bộ chữ phổ biến đã có truyền thống như chữ Khmer, nhà trường cần duy trì chương trình giảng dạy chính quy. Đối với các hệ chữ Latin hóa đã được cộng đồng chấp nhận, cần tiếp tục biên soạn tài liệu nâng cao. Với các dân tộc chưa có văn tự, cơ quan chuyên môn nên nghiên cứu xây dựng bảng chữ cái mẫu tự Latin. Cách làm này bảo đảm tính thực tiễn và giúp thế hệ trẻ dễ tiếp thu.

3.2. Cứu vãn các ngôn ngữ nguy cấp và ít người

Bảo tồn ngôn ngữ nguy cấp đòi hỏi những biện pháp can thiệp khẩn cấp. Các viện nghiên cứu cần khẩn trương thu âm ngữ liệu và lập từ điển số hóa. Việc xây dựng chữ viết mới cho các nhóm này tạo nền tảng cho việc lưu trữ. Bên cạnh đó, cần tổ chức các lớp học đặc biệt ngay tại thôn bản. Nghệ nhân cao tuổi nên được tôn vinh và trả thù lao để truyền đạt vốn từ cho thanh thiếu niên. Chính sách hỗ trợ trực tiếp giúp cộng đồng duy trì môi trường giao tiếp tiếng mẹ đẻ. Việc phục hồi không gian văn hóa bản địa sẽ mang lại sức sống bền lâu cho tiếng nói dân tộc.

IV. Phát huy ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số trong đời sống mới

Ngôn ngữ và chữ viết dân tộc thiểu số là tài sản vô giá của quốc gia. Phát huy di sản này giúp củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Trong thời đại số, việc bảo tồn cần ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại. Cần phát triển các phông chữ chuẩn Unicode cho mọi hệ chữ viết dân tộc. Các ứng dụng từ điển di động và phần mềm dịch tự động cần được đầu tư phát triển. Môi trường số giúp thanh niên tiếp cận tiếng mẹ đẻ một cách trực quan và hào hứng. Đồng thời, các cơ quan truyền thông cần tăng thời lượng phát sóng tiếng dân tộc. Việc xuất bản sách báo và sản xuất nội dung số song ngữ cần được mở rộng. Các cơ sở tôn giáo như chùa Khmer hay nhà thờ cũng đóng vai trò truyền dạy chữ viết rất hiệu quả. Khi tiếng nói và chữ viết hòa nhập vào nhịp sống hiện đại, giá trị văn hóa sẽ phát triển bền vững.

4.1. Ứng dụng công nghệ và xây dựng hệ sinh thái số

Công nghệ số mở ra cơ hội đột phá cho công tác phát huy ngôn ngữ. Việc số hóa kho tàng văn học dân gian bằng âm thanh và hình ảnh giúp lưu giữ nguyên vẹn bản sắc. Các chuyên gia cần hoàn thiện bộ mã gõ chuẩn trên điện thoại thông minh cho từng loại chữ. Nền tảng mạng xã hội và kênh giải trí trực tuyến tạo không gian trao đổi sống động cho người trẻ. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào biên dịch và nhận diện giọng nói hỗ trợ đắc lực việc học tập ngôn ngữ tộc người. Hệ sinh thái số phong phú sẽ đưa tiếng nói dân tộc lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

4.2. Phát huy vai trò của thiết chế cộng đồng và tôn giáo

Thiết chế làng bản và cơ sở tôn giáo là cái nôi gìn giữ chữ viết hữu hiệu. Chùa Khmer tại Tây Nam Bộ là hình mẫu điển hình trong việc dạy chữ cho con em Phật tử. Các chức sắc Chăm cũng duy trì nghiêm ngặt các khóa dạy chữ truyền thống trong đền tháp. Nhà thờ của người Mông đã giúp nhiều tín đồ đọc thông viết thạo chữ Mông Quốc tế. Cần tiếp tục lồng ghép tiếng dân tộc vào các lễ hội truyền thống và sinh hoạt cộng đồng. Sự tham gia tích cực của già làng và trưởng bản tạo động lực giữ gìn cội nguồn. Sự kết hợp giữa giáo dục gia đình và sinh hoạt tín ngưỡng đem lại hiệu quả bền vững nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/10/2026
Một số kiến nghị bảo tồn và phát huy ngôn ngữ chữ viết các dân tộc thiểu số ở việt nam hiện nay 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGÔN NGỮ, CHỮ VIẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY1 Tiến sĩ Phan Lương Hùng Trưởng phòng Ngôn ngữ các Dân tộc thiểu số ở Việt Nam và Đông Nam Á, Nghiên cứu viên cao cấp Viện Ngôn ngữ học 1. Đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay Việt Nam là quốc gia đa ngôn ngữ, đa dân tộc. Tính đến năm 2019, trong tổng số 54 dân tộc ở Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm đa số với 82,1 triệu người (85,1%). 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,9% với quy mô dân số rất khác nhau.

Nếu như có tới 06 dân tộc có dân số trên 1 triệu người, bao gồm Tày, Thái, Mường, Mông, Khmer, Nùng thì cũng có 11 dân tộc có dân số dưới 5000 người. Dân tộc Ơ Đu có dân số thấp nhất với 428 người. Như vậy, có thể thấy xét về dân số các dân tộc, cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam là đa dạng, có sự chênh lệch lớn. Về số lượng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, theo nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Hữu Hoành (2021), có 78 ngôn ngữ ở Việt Nam, bao gồm tiếng Việt và 77 ngôn ngữ các dân tộc thiểu số.

Trong đó, có 33 ngôn ngữ đã có chữ viết. Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam theo danh mục do Tổng cục Thống kê công bố năm 1979 có sự hiện diện của 05 ngữ hệ: Nam Á, Nam Đảo, Tai-Kadai, Mông - Dao và Hán Tạng. Như vậy, xét về cội nguồn ngôn ngữ, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa đa dạng về cội nguồn, vừa có sự đồng nhất về phả hệ ngôn ngữ. Trong đó, số lượng ngôn ngữ đồng nguồn tập trung ở ngữ hệ Nam Á với 24 ngôn ngữ, chiếm 44,44% tổng số ngôn ngữ ở Việt Nam.

1 Bài viết là sản phẩm của đề tài “Tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề xuất kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan có liên quan về những vấn đề cấp bách để bảo tồn và phát huy vai trò, bản sắc của ngôn ngữ, chữ viết dân tộc thiểu số”. 1 Về mặt loại hình, các ngôn ngữ ở Việt Nam đều là các ngôn ngữ đơn lập. Xét theo loại hình ngữ âm, có thể chia ra hai loại: đơn tiết và song tiết. Các ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ Tai-Kadai, Hán-Tạng và Mông-Dao đều là các ngôn ngữ đơn tiết.

Hai ngữ hệ còn lại là Nam Á và Nam Đảo bao gồm cả các ngôn ngữ đơn tiết và song tiết do chỗ ngôn ngữ mẹ của các ngữ hệ này đều vốn là ngôn ngữ đa tiết và các ngôn ngữ hiện đại đã và đang trên con đường đơn tiết hóa. Do vậy, các ngôn ngữ thành phần của hai ngữ hệ này có thể là đơn tiết (do đã đi xa hơn trên con đường đơn tiết hóa) hoặc song tiết (do đi chậm hơn trong quá trình này). Ở các ngôn ngữ này vẫn còn dấu vết của phụ tố; mờ nhạt hay còn rõ nét tùy vào từng ngôn ngữ. Như vậy, xét về loại hình ngôn ngữ, cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam thuộc loại đồng hình.

Về sự phân bố của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, bên cạnh các địa bàn cư trú truyền thống, trong vài thập kỉ gần đây, hiện tượng di dân tự nhiên, di dân thủy điện của đồng bào dân tộc thiểu số đã thay đổi đáng kể cơ cấu dân tộc ở các vùng trên cả nước. Ví dụ, các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường, Mông, Dao vốn chỉ cư trú ở khu vực trung du, miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ hiện nay đã hiện diện với số lượng đáng kể ở khu vực Tây Nguyên. Theo số liệu thống kê năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố, khu vực Tây Nguyên có tới 146.593 người Nùng, 113.087 người Tày, 82.865 người Mông, 50.984 người Thái, 45.951 người và 43.571 người Mường. Ngoài ra, sự hình thành các khu công nghiệp lớn với số lượng công nhân tập trung đông tại các khu công nghiệp ở các đô thị cũng hình thành các cộng đồng đa ngữ ở các đô thị lớn.

Về chức năng xã hội của các ngôn ngữ, kết quả khảo sát của đề tài được thể hiện ở các nội dung 2 và 3 của đề tài này cũng như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Khang (2021), Đoàn Văn Phúc (2021), Dương Thu Hằng (2021) đều cho thấy trong trạng thái hiện tại, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện đang bị thu hẹp dần phạm vi giao tiếp. Người dân tộc thiểu số hiện chủ yếu chỉ sử dụng 2 tiếng mẹ đẻ trong gia đình và cộng đồng dân tộc mình. Một số trường hợp ngôn ngữ phổ thông vùng được ghi nhận trước đây (tiếng Thái, tiếng Mông ở Tây Bắc, tiếng Tày, Nùng ở Đông Bắc, tiếng Gia rai ở Gia Lai, tiếng Xơ Đăng ở Kon Tum… ) đều đang mất dần chức năng làm ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc thiểu số trong vùng và dần nhường lại chức năng này cho tiếng Việt. Kết quả điều tra của đề tài cho thấy với năng lực tiếng Việt ngày càng được nâng cao, đa số người dân tộc thiểu số hiện nay đều sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp với người dân tộc khác.

Ngay trong bối cảnh giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình thì hiện tượng sử dụng tiếng phổ thông bên cạnh tiếng mẹ đẻ cũng đã xuất hiện và đang có xu hướng ngày càng tăng. Trong các gia đình trẻ, hiện tượng bố mẹ chủ động sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp với con cái để hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt khá phổ biến. Điều này tạo nên các cộng đồng đa ngữ với trạng thái song ngữ tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt là chủ đạo. Ở một số địa bàn đa dân tộc cùng cư trú có sự tiếp xúc thường xuyên, liên tục giữa các dân tộc, hiện tượng đa ngữ tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt – tiếng dân tộc khác cũng được ghi nhận với tỉ lệ đáng kể với sự khác biệt, phân bố bổ túc về vai trò, vị thế và chức năng của các ngôn ngữ, tạo nên đặc điểm đa ngữ phi cân bằng về chức năng của cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam.

Nhìn chung, đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay là đa ngôn ngữ, đa dân tộc, đồng loại hình, đa nguồn gốc và phi cân bằng về chức năng xã hội. Ở các cộng đồng ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số, trạng thái đa ngữ tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt được ghi nhận phổ biến. Xu thế giới hạn sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng và một vài bối cảnh đặc thù khác; sự suy giảm vị thế tiếng phổ thông vùng của một số ngôn ngữ (thay vào đó là tiếng Việt do năng lực tiếng Việt của người dân tộc thiểu số ngày càng tăng) và sự thâm nhập của tiếng Việt vào đời sống ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số ngày càng mạnh mẽ đã dẫn tới đặc điểm vị thế 3 ngôn ngữ, chức năng xã hội khác biệt giữa tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, có vị thế cao với ngôn ngữ phổ thông vùng có vị thế thấp hơn và cuối cùng là tiếng mẹ đẻ của các dân tộc có số lượng dân số thấp. Ở trạng thái hiện tại, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số rất ít người đang bị suy giảm sức sống nghiêm trọng.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng giữa các vùng miền cũng như những tác động tích cực của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ 4.0, với những quyết sách kịp thời, đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã từng bước được nâng lên rõ rệt. Sự tiếp cận của người dân tộc thiểu số trên các nền tảng mạng xã hội, truyền thông đa phương tiện ngày một nhiều hơn. Điều này đã tạo nên những thay đổi lớn trong cách thức, đối tượng và phương tiện của hoạt động giao tiếp của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đây là những điểm mới đáng chú ý của cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay.

Tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay - Về tình hình xây dựng và cải tiến chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Cho đến nay, đã có 33 dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã có chữ viết riêng, thuộc các tự dạng Pali-Sanscrit, Ả-rập, Hán và Latin. Thực tế cho thấy một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam có nhiều bộ chữ khác nhau. Bên cạnh các bộ chữ truyền thống, các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Chăm còn xuất hiện các bộ chữ Latin hóa ra đời sau này. Riêng tự dạng Pali-Sanscrit của người Thái, có ít nhất 05 bộ chữ Thái khác nhau, bên cạnh 03 bộ chữ Thái cổ truyền ở Tây Bắc và Thanh Hóa, chữ Thái Lai Tay ở Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An), chữ Thái Lai Pao (hay còn gọi là Lai Liệp Nặm) ở Tương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn (Nghệ An) còn có 02 bộ chữ được cải tiến, điều chỉnh trên cơ sở các bộ chữ Thái cổ truyền, bao gồm chữ Thái cải tiến xây dựng năm 1961 và chữ Thái thống nhất xây dựng năm 2008.

Các bộ chữ Latin của một số dân tộc thiểu số ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền 4 Đông Nam Bộ như Raglai, Cor, Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai, Ê đê, Stiêng… có một số phiên bản chữ Latin khác nhau, trong đó có bộ chữ Latin do các cố đạo người Pháp xây dựng vào cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 như chữ Bahnar năm 1861, chữ Jarai năm 1918 và chữ Ê đê năm 1923…và các phiên bản do Viện Ngôn ngữ học mùa hè (SIL) xây dựng vào những năm 60 của thế kỉ 20 như chữ Gia Rai, Ê đê, Ba Na, Xơ Đăng, Hrê, Cơ Ho, Raglai, Mnông, Stiêng, Bru-Vân Kiều, Cơ Tu, Lô Lô, Giẻ - Triêng, Ta Ôi, Mạ, Co, Chơ Ro, Chu Ru. Ngoài ra, còn có một số bộ chữ viết được xây dựng trong thời kì kháng chiến như bộ chữ Cơ Tu, bộ chữ Raglai. hiện không còn được lưu truyền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ