CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Tên gọi, phân loại và đặc điểm hình thái Sở là tên gọi chung của các loài có hàm lượng dầu trong nhân tương đối cao thuộc chi Camellia, họ Theaceae (Mã Cẩm Lâm, 2005). Theo Marjan Kluepfel và Bop Polomski (1998), chi Camellia có khoảng 220 loài và hơn 2.300 giống đã được định danh.
Trên thế giới có khoảng 33 loài trong chi Camellia cung cấp dầu ăn có giá trị. Đồng thời, các dòng vô tính của Sở như Du trà (C. oleifera) và Trà mai (C. sasanqua) có rất nhiều, theo thống kê của Chang Hung Ta và Bruce Bartholomew (1981) thì có tới 503 dòng.
Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy chi Camellia rất lớn và Sở là tên chung gồm nhiều loài và giống khác nhau, việc phân loại các loài Sở gặp nhiều khó khăn, đã thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tên Camellia sasanqua lần đầu tiên được Kaempfer (1712) sử dụng khi nghiên cứu về một loài có dầu thuộc chi Camellia (dẫn theo Đặng Thái Dương, 2002). Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả đã không mô tả về hình thái loài cây, nên công trình này chưa thực sự có ý nghĩa thực tiễn. Năm 1753, Linnaeus sử dụng tên C.
sasanqua nhưng các mô tả lại giống với đặc điểm của hai loài C. Cũng trong một nghiên cứu khác, Thunberg (1784) đã giám định và mô tả loài này nhưng đặc điểm hình thái chưa được mô tả chi tiết (dẫn theo Nguyễn Quang Khải, 2004). Theo Chang Hung Ta và Bruce Bartholomew (1981) thì loài Camellia oleifera phân bố chủ yếu ở Quảng Tây, Quảng Đông Trung Quốc và Nhật Bản. Loài này không thấy ở Việt Nam.
Trong chi Camellia có 26 loài, trong đó có 16 loài phổ biến nằm trong 15 nhóm. Việt nam còn có loài C. Theo Hakoda (1987) cho rằng C. sasanqua Thunb thực chất là tên gọi khác của Thea sasanqua và cả hai có thể gọi theo tên chung là Camellia sasanqua.
Theo Samartin (1992), loài được gọi là C. sasanqua oil (được gọi phổ biến trên thế giới) đều là một và có tên chính xác là C. 2 download by : skknchat@gmail.com Đặc điểm hình thái của loài Sở đã được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu như: Hakoda, N. Các tác giả đã chỉ ra rằng: C.
sasanqua Thunb là loài cây bụi lớn hoặc cây gỗ nhỏ thường xanh, cao khoảng 12 feet (3,7 m); đường kính tán rộng từ 3 - 4 m; lá hình elip hoặc oval dài, màu xanh đen, bóng, rộng khoảng 3 - 5 cm, lá non có lông ở phiến lá, lá già có lông ở gân lá, mép lá hình răng cưa cùn; hoa màu trắng, đường kính 5,1 - 7,5 cm. Tưởng Vạn Phương (1959) mô tả cây Sở trồng tại Trung Quốc cao khoảng 5 m, hình dáng giống cây chè lá, nhưng lá nhỏ hơn và xuất hiện nhiều lông tơ nhỏ; hoa màu đỏ nhạt, đỏ thẫm hoặc màu trắng; quả chứa 1 - 4 hạt, vỏ quả mỏng, giữa các hạt có màng ngăn cách, hạt lớn, hình dáng hạt không theo quy luật nhất định, hạt có màu nâu bên trong màu vàng nhạt. Các nghiên cứu tại Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc của các tác giả Chang Hung Ta & Bruce Bartholomew (1981); Edward F. Watson (1993) và Hong, Y.
(1988) đã chỉ ra quan hệ gần gũi giữa C. sasanqua với loài C. oleifera dẫn đến những đặc điểm hình thái rất giống nhau giữa chúng, chỉ khác nhau là C. sasanqua có phiến lá nhỏ và mỏng hơn, vòi nhuỵ ngắn hơn.
Bên cạnh đó, 2 loài này có phân bố địa lý và phân vùng sinh thái giống nhau. Khi so sánh giữa C. japonica, Endo-M & Iwasa-S (1990) và Tanaka -T (1988) cũng cho thấy chúng có nhiều đặc điểm hình thái rất giống nhau, điểm khác biệt là C. sasanqua có lá nhỏ và mỏng hơn lá của C.
Đặc điểm này dẫn tới nhiều trường hợp nhầm lẫn hai loài cây này trong thực tiễn. Như vậy, trong các loài Sở thì loài C. sasanqua Thunb được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng C.
sasanqua Thunb là loài thuộc chi Camellia với đặc điểm đặc trưng nhất là có dầu trong nhân. Việc mô tả đặc điểm hình thái cây Sở cũng được nghiên cứu khá tỷ mỉ, đây là cơ sở quan trọng để phân biệt Sở với các loài cây khác cùng chi với nó. Tuy nhiên, loài này có nhiều đặc điểm giống với các loài C. japonica nên việc phân loại thường hay nhầm lẫn.
Đặc điểm phân bố, sinh thái Nghiên cứu đầu tiên về phân bố của loài Sở C. sasanqua Thunb được Paul - H. Mensier (1957) công bố trong Từ điển những loài cây có dầu. Theo tài liệu này, 3 download by : skknchat@gmail.com Sở là loài bản địa ở vùng nhiệt đới (Đông - Nam Á) và vùng Á nhiệt đới (Nhật Bản).
Cũng đồng nhất quan điểm với Paul, Chang Hung Ta (1981) khẳng định chi Camellia phân bố ở các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Myanma, Lào, Việt Nam, ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc, Nepal, Campuchia, Indonesia và Philipin. Theo Tưởng Vạn Phương (1959), Sở thường mọc tự nhiên ở Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, được trồng nhiều ở vùng rừng núi hoặc trong vườn nhà nơi có khí hậu ấm áp. Theo Hakoda thì loài Sở Camellia sasanqua có nguồn gốc từ vùng Tây - Nam Nhật Bản. Về đặc điểm sinh lý, sinh thái: Các kết quả nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy, Camellia phân bố rộng rãi khắp các tỉnh từ Đông Nam đến Tây Nam với hơn 190 loài (How Foon - Chew và cs, 1984).
Theo Mã Cẩm Lâm và cs (2005), cây Sở phân bố tự nhiên từ 18-34o vĩ độ Bắc, ở độ cao 0 - 2000 m. (1994), các nghiên cứu về mở rộng vùng phân bố của Sở được tiến hành từ những năm 60- 70 của thế kỷ trước tại Trung Quốc do sớm nhận thức được giá trị to lớn mà loài cây này mang lại cho con người. Các nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy, Sở sinh trưởng tốt ở độ cao dưới 500 m so với mực nước biển. Tuy nhiên, ở độ cao 900 m (An Huy), thậm chí ở độ cao 1.
Theo Mã Cẩm Lâm (2005), Sở thích hợp với đất Feralit, tầng dày, pHKCl 4,5-6,0, nhiệt độ bình quân hàng năm 16-21oC, lượng mưa bình quân năm 900 - 1.800 mm, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối -13oC. Global - Mikhailenko - DA (1988) đã chỉ ra rằng, tại tiểu bang Georgia - Mỹ, tất cả các cây Sở được trồng ở độ cao trên 400 m đều chết, ngược lại, khi được trồng ở dưới 400 m cây sinh trưởng tốt. Ở Nhật Bản, cây sinh trưởng liên tục quanh năm, trong cả mùa đông giá lạnh có tuyết rơi. Sở có chu kỳ sống dài, tới hàng trăm năm.
So sánh cho thấy C. sasanqua sinh trưởng nhanh hơn C. Các tác giả Chang Hung Ta & Bruce Bartholomew (1981), Hakoda, N. Ying (1982) cho rằng, Sở sinh trưởng tốt ở nơi có nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất trên 2oC, chịu được tuyết lạnh tới -10oC, nhưng để đảm 4 download by : skknchat@gmail.com bảo cây sinh trưởng bình thường cần có biện pháp chắn gió khô và lạnh vào mùa đông.
Các tác giả Fu, Rs, Ye-Q thuộc Viện kỹ thuật Lâm nghiệp Trung Quốc (1984) cũng đã kết luận rằng hầu hết hoạt động sinh lý của cây đều cao vào ban ngày (đặc biệt là buổi sáng), riêng với hoạt động trao đổi nước trong cây lại cao hơn vào ban đêm, cao nhất là khoảng 0-3 giờ. Khả năng đề kháng sương giá của một số loài Sở như C. sasanqua từ -18 đến -30oC, trong đó nhiệt độ gây chết đối với C. sasanqua là -24oC (dẫn theo các tác giả Gu-Y, Sun-Zj, He- SA, CAI và Bi-He trong tạp trí nghiên cứu cây Sở của Mỹ năm 1986).
Sở là cây chịu bóng khi nhỏ, đến giai đoạn trưởng thành cây sinh trưởng phát triển tốt nhất dưới điều kiện ánh sáng đầy đủ nhưng phải che phủ gốc cây bằng lá hoặc vật liệu khác. Với vùng có ánh sáng nhiều, cần che bóng vào buổi sáng để tránh hiện tượng héo lá (Edward F. Gilmam and Dennis G. Watson, 1993); Marjan Kluepfel and Bop Polomski (1998), Shanan, H.
Mã Cẩm Lâm, Trần Vĩnh Trung (2005) đã chỉ ra chu kỳ phát triển vòng đời cây Sở gồm có 4 giai đoạn: (i) Giai đoạn non 0 - 4 năm tuổi: Cây mầm 0 - 4 tháng tuổi hạt nảy mầm thành cây mầm phát triển bằng dinh dưỡng do phôi nhũ trong hạt cung cấp, cây con 4 tháng đến 1 năm tuổi (tính từ lúc hoàn thành nảy mầm cho đến kỳ ngủ lần thứ nhất), cây non 1 - 4 năm tuổi (từ khi kết thúc giai đoạn cây con cho đến vụ ra hoa đầu tiên); (ii) Giai đoạn ra quả bói 5 - 9 năm tuổi: từ khi bắt đầu bói đến khi sai quả ổn định; (iii) Giai đoạn trưởng thành 10 - 50 năm tuổi: rất sai quả, thiên về tăng trưởng sinh thực và (iv) Giai đoạn già cỗi 50 - 100 năm tuổi: các mô suy thoái dần, sản lượng quả ngày càng giảm. Việc chia chu kỳ phát triển cây Sở ra làm 4 giai đoạn khác nhau là cơ sở để xây dựng các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng trồng Sở theo các giai đoạn khác nhau nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao nhất. Giá trị sử dụng Nghiên cứu của Mã Cẩm Lâm và Trần Vĩnh Trung (2005) cũng cho thấy, các sản phẩm từ Sở rất phong phú, giá trị sử dụng cũng như giá trị kinh tế cao, dầu tinh luyện từ hạt Sở có thể được dùng làm dầu ăn, sản xuất mỹ phẩm (sử dụng trong 5 download by : skknchat@gmail.com kem chống nắng, kem massage, dầu thơm…), chế phẩm y tế, hay trong công nghiệp (dầu thuỷ lực, dầu bôi trơn, diesel sinh học…). Ở Trung Quốc, dầu Sở được coi là một trong những nguồn cung cấp dầu ăn quan trọng bởi giá trị dinh dưỡng cao, trồng và chế biến dầu ăn từ cây Sở có ý nghĩa quan trọng nhằm giảm lượng nhập khẩu dầu ăn hàng năm của nước này.
Trung Quốc là một trong những nước đi đầu trong công tác nghiên cứu chế biến, chiết tách tinh dầu Sở phục vụ cho sản xuất. Tưởng Vạn Phương (1959) đã đưa ra một số phương pháp chế biến dầu Sở như: ép dầu hạt Sở bằng máy ép vít, tách dầu bằng phương pháp thay nước, tinh chế dầu Sở bằng phương pháp thay nước - dung dịch. Ngoài ra, tác giả còn nêu rõ việc dùng khô Sở và những cặn bã khi tinh chế Sở bằng phương pháp thay nước - dung dịch để chế tạo Saponin (C73H124O36) có thể dùng làm thuốc trừ sâu, thuốc giặt quần áo, làm dầu gội đầu, xà phòng và làm thuốc tạo bọt (trong bình cứu hỏa).