ĐẶT VẤN ĐỀ Dành dành (Gardenia jasminoides J.Ellis) là một loại dược liệu phổ biến được sử dụng như một chất phụ gia thực phẩm và là một vị thuốc cổ truyền quan trọng ở các nước châu Á. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh G. jasminoides có tác dụng dược lý đáng kể trên tim mạch, tiêu hóa [1], [2], có tác dụng chống trầm cảm [3], kháng khuẩn [4], chống viêm [5],. Tính đến năm 2022, 162 hợp chất đã được phân lập, trong đó geniposid là một hoạt chất có khung iridoid glycosid được xác định là thành phần chính, góp phần quan trọng vào giá trị kinh tế và y tế của Dành dành [1], [6].
Theo Dược điển Việt Nam V, yêu cầu hàm lượng geniposid trong quả khô Dành dành (Chi tử) phải đạt ít nhất 3% [7]. Theo quyết định số 3657/QĐ-BYT ngày 20/8/2019 của Bộ Y tế Việt Nam, Dành dành là một trong 100 cây dược liệu có giá trị y tế và kinh tế cao cần tập trung phát triển giai đoạn 2020-2030. Hàng năm, có 30-40 tấn dược liệu Dành dành được nhập nội hoặc thu hái từ 2 nguồn chính: tự nhiên hoặc vùng trồng nhỏ lẻ [8]. Để đủ tiêu chuẩn làm thuốc Dược liệu, Dành dành phải được trồng trọt và thu hái theo tiêu chuẩn GACP kể từ năm 2030.
Vì vậy, Việt Nam cần có nguồn giống Dành dành chất lượng, phục vụ cho các vùng canh tác được kiểm soát và đạt tiêu chuẩn. Một trong những phương pháp quan trọng trong chọn giống cây trồng là phương pháp chọn lọc các cá thể mong muốn từ quần thể tự nhiên. Đây là phương pháp sơ khai nhưng cũng một trong những phương pháp đem lại hiệu quả cao trong chọn giống cây trồng. Điều kiện tiên quyết của chọn lọc là sự đa dạng hay sự biến động di truyền của quần thể.
Chỉ những cá thể có năng suất cao, thoả mãn theo mục đích từ quần thể đa dạng được lựa chọn, phần còn lại bị loại bỏ. Do tính phức tạp của chọn giống ngày một tăng nên sự đóng góp của nhiều ngành khoa học vào chọn giống (di truyền học và các ngành khoa học có liên quan) cũng tăng lên. Cơ sở khoa học của chọn giống hiện đại ngày một rộng hơn, mang tính tổng hợp của nhiều môn khoa học khác như tế bào học, sinh học phân tử, thực vật học và phân loại học, sinh lý, bệnh cây, côn trùng, hóa học, thống kê. 1 Ở Việt Nam, Dành dành được phân bố khắp các tỉnh thành với mức độ biến đổi hình thái cao nên chất lượng nguyên liệu cây trồng không đồng đều.
Vì vậy, việc tuyển chọn và nhân giống Dành dành một cách có hệ thống là cần thiết để trồng trên diện rộng tại Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu đã lựa chọn các mẫu giống Dành dành có nguồn gốc từ các tỉnh thành được trồng cố định tại Hòa Bình để thực hiện ba mục tiêu chính sau: - Phân tích đặc điểm hình thái, năng suất và hàm lượng geniposid của các mẫu giống Dành dành đã được trồng cố định tại Hòa Bình. - Phân loại các mẫu giống Dành dành trên dựa trên đặc điểm hình thái. - Đánh giá chất lượng các mẫu giống Dành dành trên sản lượng quả và hàm lượng geniposid.
Đặc điểm cố định cây Dành dành Cây Dành dành được phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ở độ cao từ mực nước biển trở lên, dễ thích nghi với môi trường. Trong nghiên cứu này, các mẫu được trồng cố định tại Hòa Bình, là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa, mùa hè nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23oC [8]. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm: 1600 - 1700 mm.
Mùa lạnh mang tính khô lạnh, thường bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, tổng lượng mưa chỉ đạt khoảng 150 - 250 mm, chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm [9]. Cây Dành dành 1. Vị trí phân loại và tên khoa học Theo hệ thống phân loại của Armen Takhtajan trong “Flowering Plants” (2009) [10], chi Dành dành có thứ tự phân loại như sau: Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa Môi (Lamiidae) Bộ Long Đởm (Rubiales) Phân họ Ixoroideae Chi Gardenia Tên khoa học: Gardenia jasminoides J. Tên đồng nghĩa: Gardenia angustifolia Lodd., Gardenia grandiflora Lour., Gardenia longisepala (Masam., Gardenia maruba Siebold ex Blume, Gardenia pictorum Hassk., Gardenia radicans Thunb., Genipa grandiflora (Lour., Jasminum capense Mill, Gardenia florida L.
3 Tên thường gọi: Chi tử, Mác làng cương (Tày) (Việt Nam), Cape jasmine (Anh), 치자나무 - Chijanamu (Hàn Quốc), 栀子花 Zhī zi huā (Trung Quốc), ク チナシ - Kuchinashi (Nhật Bản) [1], [11]. Phân bố Dành dành thuộc chi Gardenia Ellis, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ gần mực nước biển đến độ cao 1800m, có nguồn gốc ở Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Nhật Bản, Myanmar, Ấn Độ, Thái Lan. Ở Trung Quốc, Dành dành được phân bố ở ít nhất 16 tỉnh, đặc biệt là ở các tỉnh phía nam sông Dương Tử: An Huy, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hà Bắc, Hồ Bắc, Giang Tô, Giang Tây, Sơn Đông, Tứ Xuyên, Vân Nam, Chiết Giang và được trồng nhiều ở các tỉnh Cam Túc, Hà Bắc, Sơn Tây, Giang Tây, Hồ Nam,. Ở Việt Nam, nguồn Dành dành ở Việt Nam tương đối phong phú.
Cây được mọc hoang ở ven suối và được trồng phổ biến ở khắp các tỉnh đồng bằng và trung du miền Bắc, tập trung tại các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh [11], [12]. Đặc điểm thực vật của Dành dành Cây bụi, cao 0,3-3 m, các cành hình trụ hoặc hơi thon, không có rãnh hoặc gờ đáng kể, hơi dẹt lại, các lóng có xu hướng ngắn lại, không lông hoặc có lông ngắn đến lông dày đặc, thân non có màu xanh, thân già có màu nâu đen ngả màu xám đến trắng xám, có nốt sần. Lá đơn, mọc đối, hiếm gặp vòng 3, không cuống hoặc có cuống, cuống lá dài đến 0,2-1 cm, mặt trên phẳng, mặt dưới lồi, màu xanh, không có lông hoặc có lông ngắn đến lông dày đặc. Gốc phiến lá hình nêm đến nhọn, đầu lá nhọn đến thuôn dài mảnh mai.
Phiến lá khi khô mỏng như da hoặc giấy bìa cứng, hình mác thuôn dài, hình trứng thuôn dài, hình trứng, hình bầu dục, hoặc hình elip, 3-25 × 1,5-8 cm, mặt trên phiến lá sáng và bóng hoặc đôi khi có lông mềm mịn trên các đường gân chính, không có lông hoặc có lông ngắn đến dày đặc, màu xanh đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới. Gân lá hình lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, gân giữa màu trắng, 8-15 đôi, ở nách lá thường có lông tơ. Lá 4 kèm của 2 lá mọc đối dính thành 1 ống cao 0,3 cm bao quanh thân, phía trên xẻ thành 1 miếng tam giác mỏng cao 0,5 cm, màu xanh nhạt, có các gân song song [1], [2], [11], [12],[13]. Hoa to, đơn độc, mọc ở ngọn cành hay chỗ phân nhánh của thân.
Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 6, rất thơm. Cuống hoa nhẵn, 1-10 mm, có 6 cạnh lồi, không có lông hoặc có lông ngắn đến dày đặc, màu xanh. Lá bắc thường là lá thường. Lá đài 6, đều, màu xanh, hàn liền ở gốc tạo thành một ống cao 8 mm, thuôn dần về phía dưới, phía trên chia thành 6 thùy thuôn nhọn, 10-12 × 2-3 mm.
Mỗi lá đài có một sóng giữa chạy dọc xuống bầu noãn và cuống hoa. Tiền khai van. Đài tồn tại, không có lông hoặc có lông ngắn đến dày đặc. Cánh hoa 6, đều, hàn liền ở gốc tạo thành ống tràng hình đinh 30-50 × 4-6 mm, ở họng có lông tơ, nhẵn, màu xanh nhạt, phía trên chia thành 6 thùy, mỗi thùy có hình bầu dục, đầu màu trắng kích thước 32-15 mm, đỉnh mặt dưới mỗi thùy có màu ngà vàng, tiền khai vặn cùng chiều kim đồng hồ.
Nhị 6, đều, rời, đính trên miệng ống tràng, xen kẽ cánh hoa, chỉ nhị dạng sợi rất ngắn 1 mm, màu trắng ngà. Bao phấn thuôn dài, 17-18 mm, mặt bụng màu vàng, mặt lưng màu trắng, đỉnh màu trắng. Khi hoa nở, bao phấn cong queo, ép sát vào các thùy của cánh hoa. Hạt phấn rời, màu vàng, chia 3 thùy, kích thước 37,5-50 µm.
Lá noãn 2, vị trí trước sau, bầu dưới 2 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính noãn trung trụ, bầu noãn màu xanh nhạt có 6 sóng dọc. Một vòi nhụy hình trụ, màu trắng, nhẵn, đính ở đỉnh bầu, dài gần 40 mm. Một đầu nhụy hình chùy màu vàng, chia 2 thùy, trên đầu nhụy có những đường gân dọc. Đĩa mật dạng khoen màu vàng nhạt bao quanh gốc vòi nhụy [1],[2],[11],[12],[13].
Quả mọng, hình thoi, hình trứng hẹp, hình cầu phụ, hoặc hình elip, 1,5-7 × 1,2-2 cm, có 5-9 gờ dọc, với các thùy đài hoa dai đến 40 × 6 mm, màu vàng cam đến đỏ nâu, có khi nâu xám đến đỏ xám, hơi bóng. Đỉnh quả lõm, có 5 đến 8 lá đài tồn tại, thường bị gãy cụt. Gốc quả hẹp, có vết cuống quả. Vỏ quả mỏng, giòn, hơi bóng.
Vỏ quả giữa màu vàng đục, dày hơn. Vỏ quả trong màu vàng ngà, bóng, rất mỏng, có 2-3 vách ngăn giả. Cuống ngắn 0,3 cm, dường như không dài ra nhiều, cũng có 6 sóng dọc màu xanh. 5 Hạt dẹt, nhiều, 3 × 2 mm, màu vàng cam, nâu đỏ hoặc nâu đen nhạt, mặt vỏ hạt có rất nhiều hạt mịn.
Vị hơi chua và đắng [1],[2],[11],[12],[13]. Thành phần hóa học 1. Một số nhóm chất hóa học chính Các nghiên cứu trước đây về đã xác định được các thành phần hóa học trong Dành dành gồm có như iridoid glycosid, sắc tố vàng của cây, flavonoid, monoterpenoid, sesquiterpenoid, triterpen, acid hữu cơ và dẫn xuất của chúng, trong đó khoảng 162 hợp chất được phân lập và xác định [1],[11]. Các iridoid glycosid: Iridoid glycosid là thành phần đặc trưng của Dành dành, thành phần chính tạo nên các tác dụng dược lý của các loại thuốc dược liệu và các chế phẩm từ Dành dành.
48 iridoid glycosid đã được phân lập từ Dành dành [14],[15],[16],[17]. Một số iridoid glycosid: gardosid, shanzhisid, geniposid, acid geniposidic, genipingentiobiodsid, scandosid methyleste, desacetylasperulosid methyl este, gardenosid (Hình 1. Năm 2021, Cao Yan Gang cùng các cộng sự đã phân lập được 4 iridoid glycosid, 1 lignan glycosid, và 2 lignan chưa từng được phát hiện [10]. Trong số 48 iridoid glycosid, geniposid và genipin (aglycon của geniposid) là những hợp chất quan trọng nhất được phân lập từ quả, có tác dụng dược lý riêng biệt [1],[2].
Các iridoid glycosid là nhóm chất gặp nhiều nhất trong các monoterpenoid glycosid – các glycosid có phần aglycon gồm 2 đơn vị isopren. Có khoảng 600 chất thuộc nhóm iridoid glycosid, cấu tạo bao gồm 1 vòng cyclopentan nối 1 vòng hydropyran. Các iridoid glycosid dễ tan trong nước, methanol, ethanol.