Đặt vấn đề Cây khoai tây (Solanum Tuberosum L.) là loại cây nông nghiệp ngắn ngày, trồng lấy củ chứa tinh bột và là cây lương thực chủ yếu ở một số nước châu Âu. Củ khoai tây chứa 20% lượng chất khô, trong đó có 80 - 85% là tinh bột, 3 - 5% là protein và một số vitamin khác. Trên thế giới, khoai tây được xem là cây lương thực thực phẩm quan trọng và là loại cây trồng phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi - xếp sau lúa nước, lúa mì và ngô. Cây khoai tây có những đặc điểm quý báu như: Giá trị dinh dưỡng cao, có ý nghĩa trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho các nước đang phát triển trên thế giới, cũng như có thời gian sinh trưởng ngắn, dễ thích nghi với điều kiện khí hậu, nhiều loại đất trồng và cho hiệu quả kinh tế cao.
Ở Việt Nam khoai tây là một trong những cây thực phẩm quan trọng và đặc biệt là cây hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, hiện nay việc sản xuất khoai tây chưa khai thác hết tiềm năng vốn có của nó, năng suất cây khoai tây ở Việt Nam còn rất thấp. Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trên là do chưa có nguồn giống tốt, củ giống bị thoái hóa, già sinh lý hoặc nhiễm sâu bệnh, năng suất thấp. Theo Cục Trồng trọt và Cục Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia (2001), khoai tây ở Việt Nam đã bị thoái hóa nặng, tỷ lệ nhiễm bệnh virus rất cao.
Những năm gần đây nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật Việt Nam đã nhập nội và lai tạo thành công một số giống khoai tây cho năng suất cao, chất lượng tốt có khả năng kháng bệnh tốt và thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Vì vậy giải pháp ở đây là phải thay thế giống đã thoái hóa bằng các giống mới sạch bệnh và có tuổi sinh lý thích hợp. Ta có thể thay thế giống khoai tây bằng 2 giải pháp đó là: Nhập nội giống và sản xuất giống sạch bệnh trong nước. Ta thấy rằng hướng tuyển chọn và sản xuất các giống khoai tây nhập nội tốt là giải pháp có hiệu quả góp phần giải quyết khó khăn về giống khoai tây hiện nay.
Tuy nhiên, giải pháp này có chút khó khăn là tốn kém và không chủ động. Vì vậy, việc sản xuất củ giống khoai tây sạch bệnh là rất cần thiết. Đây là 1 quá trình kết hợp giữa nuôi cấy in vitro và thanh học thường xuyên trên đồng ruộng (Nguyễn Xuân Lai, 2016). 1 Do đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá về đặc tính sinh học và phát triển của giống Lady Rosetta vụ xuân 2021.
Bên cạnh đó, đồng thời sử dụng phương pháp nhân giống in vitro giúp tạo cây con sạch bệnh với thời gian nhân giống ngắn, hệ số nhân giống cao, cây đồng nhất, đáp ứng về nhu cầu cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, đề tài “đánh giá đặc tính sinh học và phát triển của giống khoai tây nhập nội Lady Rosetta trong điều kiện in vitro và đồng ruộng trong vụ xuân 2021” đã được tiến hành. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Xác định được môi trường thích hợp cho quá trình nhân nhanh in vitro cây khoai tây Lady Rosetta.
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống khoai tây nhập nội Lady Rosetta ngoài đồng ruộng vụ xuân 2021, từ đó có thể đưa giống mới vào nước ta để phục vụ cho nhu cầu ăn tươi và chế biến. Yêu cầu của đề tài Xác định được chế độ khử trùng thích hợp. Xác định được ảnh hưởng của các vị trí cắt, các nồng độ MS, các nồng độ NH4NO3 đến sinh trưởng phát triển của cây khoai tây Lady Rosetta in vitro. Đánh giá các đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc tính ngủ nghỉ và khả năng bảo quản của giống khoai tây nhập nội Lady Rosetta ngoài đồng ruộng vụ xuân 2021.
2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc và lịch sử của cây khoai tây Khoai tây (Solanum Tuberosum L.), thuộc họ Cà (Solanceae), có nguồn gốc từ dãy núi Andes (miền nam Peru ngày nay và tây bắc Bolivia), nơi mà người Incas đã tìm ra khoai tây dại mọc trên cao nguyên và bắt đầu trồng chúng từ những năm 750 trước Công nguyên. Khoai tây được người Incas như thực phẩm là chủ yếu, ngoài ra người dân nơi đây còn dùng để chữa bệnh, chữa lành vết thương, và thậm chí là bói toán. Đây là một trong những loại rau củ được sử dụng rộng rãi nhất của vùng khí hậu ôn đới phương Tây.
Hiện tại có nhiều ý kiến cho rằng khoai tây đã được du nhập vào châu Âu khoảng những năm 1570 (khoảng 8 năm sau cuộc hành trình đầu tiên của Columbus vào năm 1192) và sau đó nó đã được những người đi biển châu Âu đưa đến các lãnh thổ và các cảng trên khắp thế giới khi chế độ thực dân châu Âu mở rộng vào thế kỷ XVII và XVIII (Thái Hà và Đặng Mai, 2011). Hiện nay, ở dãy Andes còn rất nhiều loài khoai tây trồng, loài khoai tây hoang dại, bán hoang dại… (Trương Văn Hộ, 2010). Cây khoai tây được du nhập vào Tây Ban Nha vào năm 1570 khi được thổ dân da đỏ cư trú tại lưu vực sông Canca (Colomnia) phát hiện ra (Lê Minh Đức,1977). Từ đó, khoai tây được truyền sang Đức, Italia.
Cuối thế kỷ XVI, khoai tây được mang về trồng ở Mỹ và đã có mặt ở Anh vào năm 1586. Năm 1785, loại cây lương thực này đã được trồng rộng rãi tại Pháp. Từ đó nó đã được phổ biến khắp châu Âu và đã được người dân châu Âu mang đến Bắc Mỹ vào những năm 1600. Tức là cũng giống như cà chua, khoai tây là loại thức ăn được “tái định” cư vào châu Mỹ.
Từ đó, khoai tây được trồng phổ biến ở châu Âu, châu Mỹ. Tuy nhiên, việc thiếu sự đa dạng về di truyền do thuec tế là có ít loài khác nhau được du nhập ban đầu đã khiến cho khoai tây thời gian này rất dễ nhiễm bệnh. Năm 1845, một loại bệnh nấm là Phytophatora infestans, cũng gọi là bệnh rụi muộn đã lan nhanh chóng khắp các cộng đồng nghèo hơn ở tây Ireland, dẫn đến nạn đói lớn Ireland. Tuy nhiên, khoai tây đã sớm trở thành một thực phẩm và cây trồng chủ yếu ở nhiều nước trên thế giới và được du nhập sang các châu lục khác: Ấn Độ năm 1610, Trung Quốc năm 1700.
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, việc mở rộng diện tích trồng trọt khoai tây lại là ở châu Á, nơi có khoảng 8% số lượng khoai tây được trồng trên thế giới. Kể từ khi Liên Xô được giải tán, Trung Quốc đã trở 3 thành quốc gia sản xuất khoai tay lớn nhất thế giới, tiếp theo là Ấn Độ (Thái Hà và Đặng Mai, 2011). Tại Việt Nam, khoai tây được du nhập vào năm 1890 từ các nhà truyền giáo người Pháp. Vì lúc bấy giờ nhân dân thường gọi Pháp là “Tây” mà đây là loại củ có bột tương tự như các loại khoai như khoai lang, khoai sọ nên ghép thành “khoai tây” với hàm ý khoai cảu Tây, của người Phương Tây như hành tây, dâu tây, cần tây… 2.
Giá trị dinh dưỡng và sử dụng của khoai tây Khoai tây là một loại cây lương thực và một cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Hiện nay cây khoai tây đã và đang được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và là loại cây lương thực đứng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô. Theo ước tính của FAO, trong năm 2019, hơn 370 triệu tấn khoai tây đã được sản xuất trên toàn thế giới, tăng đáng kể so với sản lượng 333,6 triệu tấn năm 2010 (M. Trong đó 2/3 được ăn trực tiếp bởi con người, còn lại là thức ăn cho động vật và là nguyên liệu san xuất tinh bột.
Khoai tây giàu carb, cung cấp các loại vitamin, khoáng chất và các hợp chất thực vật tốt cho sức khỏe. Khi mới thu hoạch, nó chứa khoảng 80% nước và 20% chất khô. Khoảng 60 đến 80 phần tram chất khô là tinh bột. tính theo trọng lượng khô, hàm lượng protein của khoai tây tương tự như ngũ cốc và rất cao so với các loại củ khác (FAO, 2008).
Khoai tây là một loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, cung cấp các loại vitamin như carotene, B1, B2, B3, B6, PP và nhiều nhất là vitamin C (20-50 mg%). Trong củ khoai tây có chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như protein, đường, lipit, các chất khoáng chất như K, Ca, P, Mg (Tạ Thu Cúc, 2007). Cách chế biến khoai tây có thể làm thay đổi đáng kể hàm lương dinh dưỡng. Ví dụ, khoai tây nấu chín chưa 7% tinh bột khoáng, khi làm nguội đi nó tăng lên 13%.
Khi luộc hoặc nướng, khoai tây là một thực phẩm rất ít chất béo. Chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng chính trong khoai tây là carbonhydrate, ở dạng tinh bột. carbonhydrate là nguồn năng lượng chính cho cơ thể. Trong 100g khoai tây luộc cung cấp khoảng 3% năng lượng, 5% nhu cầu về protein, 10% vitamin B6, có thể cung cấp 50% nhu cầu vitamin C cho người một ngày (Tạ Thu Cúc, 2007).
Dù lượng protein trong khoai tây chỉ là một lượng nhỏ, nhưng khoai tây là một nguồn cung cấp tốt các axit amin lysine và tryptophan và kết 4 hợp với sữa hoặc trứng tạo thành một thực phẩm giàu protein chất lượng cao. Khoai tây là nguồn cung cấp chất xơ, góp phần tạo cảm giác no và hỗ trợ các chức năng tiêu hóa khỏe mạnh. Khoai tây là nguồn cung cấp vitamin C ổn định và đáng tin cậy. Mặc dù khoai tây nhạy cảm với nhiệt và dễ bị phân hủy sau khi nấu chín, nhưng nguồn vitamin C trong khoai tây đã được nấu chín vẫn rất đôi dào.
Bên cạnh đó, khoai tây cũng là nguồn cung cấp các vitamin nhóm B khác nhau như vitamin B1, B6 và Folate. Khoai tây cũng là nguồn cung cấp một lượng đáng kể kali, đồng thời cũng chứa các khoáng chất như magie và sắt. Khoai tây được xếp vào loại thức ăn có chỉ số Glycemic (GI) cao, do đó nó thường bị loại trừ ra khỏi chế độ ăn của những người cố gắng theo chế độ ăn uống với GI thấp. Trong thực tế chỉ số GI tùy thuộc mỗi loại khoai tây khác nhau là khác nhau (Fernandes G và cộng sự, 2005).
Vì sự đa dạng trong cách chế biến khoai tây nên hàm lượng dinh dưỡng trong các bữa ăn từ khoai tây rất khác nhau. Sự thất thoát chất dinh dưỡng qua quá trình nấu nướng phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian nấu.