Đặt vấn đề Đậu tương (Glycine max (L.) Merill) là một trong những cây trồng quan trọng cung cấp protein và dầu thực vật trên thế giới (Khan và cs. Đây là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao được các nhà khoa học xếp vào một trong những cây trồng thuộc dạng “thực phẩm chức năng” và đóng vai trò thiết yếu để nâng cao tiêu chuẩn thực phẩm cho con người ở những nước đang phát triển trong tình trạng thiếu hụt protein (Chaudhary, 1985). Trong tổng số dầu thực vật tiêu thụ trên thế giới lượng dầu của cây đậu tương đứng ở vị trí thứ nhất. Hạt đậu tương có chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng quan trọng như: protein (40 - 50%), lipit (12 - 24%), hydratcacbon và các chất khoáng, trong đó protein và lipit là 2 thành phần quan trọng nhất.
Protein đậu tương có giá trị không những về hàm lượng lớn mà còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết, đặc biệt là giàu Lizin và Triptophan, đây là 2 loại axit amin không thay thế có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cơ thể con người và gia súc. Ngoài ra trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin như: vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Vũ Ngọc Thắng và cs. Do đó, từ hạt đậu tương được chế biến thành rất nhiều các sản phẩm rất đa dạng và phong phú như: làm ngũ cốc, dùng trực tiếp hạt khô chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara. đáp ứng một phần nhu cầu về đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người cũng như gia súc.
Không những vậy, đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu cho đất nhờ khả năng cố định nitơ của khí quyển thông qua bộ rễ chứa các vi khuẩn cộng sinh có tên là Rhizobium japonicum chúng nằm trong các nốt sần của rễ và để lại trong đất 60-80 kg N/ha/vụ chưa kể chất hữu cơ trong thân lá. Do đó nó cũng góp phần tăng năng suất cây trồng cho cây trồng vụ tiếp theo. 1 Ở Việt Nam, cây đậu tương đã có từ lâu và được gieo trồng ở nhiều vùng trong cả nước. Tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng ngày càng cao, những năm gần đây ngành sản xuất đậu tương ở nước ta bị giảm về cả diện tích và sản lượng, vì thế đã không đáp ứng được nhu cầu của xã hội, nhiều năm qua nước ta đã phải nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn, năm sau cao hơn năm trước với hàng triệu tấn đậu tương hạt mỗi năm.
Trong năm 2020, Việt Nam đã nhập khẩu 1,87 triệu tấn đậu nành, trị giá trên 773 triệu USD, tăng 11% về lượng và xấp xỉ 15% về kim ngạch so với năm 2019. Tăng trưởng nhập khẩu đậu nành của Việt Nam trong 10 năm qua luôn ở mức trên 2 con số mỗi năm, do nhu cầu ngày càng tăng của các nhà máy chế biến, ép dầu, chế biến thức ăn chăn nuôi mới được đưa vào hoạt động, trong khi nguồn cung trong nước quá thấp, theo tính toán chưa tới 20% lượng cầu. Có thể nói, nhu cầu về đậu tương trong nước là rất lớn. Trước thực trạng diện tích đậu tương trong nước sụt giảm, nhập khẩu nhiều, trong khi nhu cầu sử dụng mặt hàng này ngày càng tăng.
Do vậy, cần phải nhanh chóng đưa các giống mới năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất đại trà. Tuy nhiên, trước khi đưa vào sản xuất các giống này cần được nghiên cứu, thử nghiệm để chọn được giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế và công tác nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài:"So sánh một số dòng, giống đậu tương triển vọng trong điều kiện vụ xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội”. nhằm góp phần đa dạng bộ giống và nâng cao hiệu quả sản xuất đậu tương ở các tỉnh miền Bắc.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích So sánh một số dòng, giống đậu tương triển vọng trong điều kiện vụ xuân năm 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội để từ đó đề xuất được dòng, giống có năng suất cao và ổn định để đưa vào sản xuất đại trà. Yêu cầu - Đánh giá một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm. - Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
- Đánh giá khả năng nhiễm một số loại sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm. - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống đậu tương tham gia thí nghiệm 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 2. Tình hình sản suất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương là một trong tám cây lấy dầu quan trọng nhất trên thế giới (chiếm 97% sản lượng cây lấy dầu trên thế giới) gồm đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ (Ngô Thế Dân và cs., 1999), đồng thời cũng là cây trồng đứng vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực, thực phẩm (sau lúa mỳ, lúa nước và ngô).
Cây đậu tương là loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng, kinh tế cao, đặc biệt là có khả năng cải tạo đất rất tốt. Vì vậy mà cây đậu tương trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới (Vũ Đình Chính, 2010). Vì vậy, đậu tương được trồng phổ biến hầu hết các nước trên thế giới, nhưng tập trung nhiều nhất ở khu vực châu Mỹ (chiếm tới 73,03%) sau đó là các nước thuộc khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15% (Nguồn Bộ Nông Nghiệp Mỹ - USDA, 2010). Từ số liệu trên bảng 2.1 cho thấy từ năm 2010 đến năm 2017 sản xuất đậu tương trên thế giới tăng lên cả về diện tích, năng suất cũng như sản lượng.
Về diện tích: Qua bảng 2.1 thì qua các năm từ năm 2010 đến năm 2017 diện tích gieo trồng đậu tương tăng lên khá mạnh. Năm 2010 diện tích chỉ đạt 102,76 triệu ha thì đến năm 2017 diện tích đã tăng 23,09 triệu ha và đạt mức 125,85 triệu ha. Có thể nói năm 2017 là năm mà diện tích trồng đậu tương đạt ngưỡng cao nhất từ trước đến nay, những năm sau đó diện tích giảm trung bình từ 1-2 triệu ha. Về năng suất: Năng suất đậu tương không ổn định qua các năm.Từ năm 2010 đến năm 2017 thì năng suất đậu tương có sự thay đổi nhưng nhìn chung trong giai đoạn này, năng suất đậu tương có sự tăng nhẹ, cụ thể là năng suất năm 4 2010 chỉ đạt 25,79 tạ/ha đến năm 2017 đã đạt 28,56 tạ/ha.
Bắt đầu giảm ở năm 2018 là 27,78 tạ/ha, đến năm 2019 năng suất đậu tương là 27.69 tạ/ha Bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới qua một số năm Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn) 2010 102,76 25,79 265,08 2011 103,75 25,21 261,60 2012 105,36 22,90 241,33 2013 111,10 24,99 277,67 2014 117,73 26,01 306,31 2015 120,90 26,74 323,30 2016 122,00 27,53 335,89 2017 125,85 28,56 359,53 2018 124,02 27,78 344,64 2019 120,50 27,69 333,67 (Nguồn: FAOSTAT3.ORG,2019) Về sản lượng: Từ năm 2010-2012 sản lượng đậu tương giảm 23,75 triệu tấn, năm 2010 đạt 265,08 triệu tấn và chỉ đạt 241,33 triệu tấn vào năm 2012. Những năm sau đó sản lượng đậu tương tăng do diện tích và năng suất tăng, từ năm 2013 đến năm 2017 sản lượng đậu tương tăng 81,86 triệu tấn. Năm 2018 và 2019 sản lượng giảm từ 10-15 triệu tấn.
Sản lượng đậu tương đến năm 2019 là 333,67 triệu tấn. Tuy nhiên từ bảng 2.1 cũng cho thấy từ sau năm 2017 đến năm 2019 thì diện tích, năng suất cũng như sản lượng của đậu tương có dấu hiệu sụt giảm. Trên thế giới hiện nay có khoảng 101 nước trồng đậu tương nhưng không phải tất cả đều cung cấp đủ nhu cầu đậu tương của nước đó, phần lớn các nước đều phải nhập khẩu đậu tương từ bên ngoài. Châu Á là châu lục có nhiều nước sản xuất đậu tương nhất nhưng sản lượng cũng chỉ đáp ứng được khoảng một 5 nửa nhu cầu cho các nước khu vực này.
Đó là lý do hàng năm các nước châu Á vẫn phải nhập khẩu trên 8,00 triệu tấn hạt đậu tương; 1,5 triệu tấn dầu; 1,8 triệu tấn sữa đậu nành. Những nước nhập khẩu nhiều: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonexia, Malayxia, Việt Nam… Trong đó nước nhập khẩu nhiều nhất trên thế giới là Trung Quốc. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) Trung Quốc nhập khẩu 41,10 triệu tấn đậu tương hạt chiếm khoảng 40,34% trên toàn thế giới, tiếp đến là Nhật Bản, Đài Loan… Mặc dù cây đậu tương được trồng trên khắp thế giới nhưng khoảng 80% sản lượng đậu tương được sản xuất ở 4 nước là Mỹ, Brazil, Argentina và Trung Quốc (Vũ Đình Chính, 2010) trong đó Mỹ là nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới. Tình hình sản xuất đậu tương của một số nước trên thế giới trong những năm gần đây Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn) Quốc gia 2017 2018 2019 2017 2018 2019 2017 2018 2019 Mỹ 36,23 35,44 30,35 3,31 3,39 3,18 120,06 120,51 96,79 Brazil 33,95 34,77 35,88 3,37 3,39 3,18 114,73 117,91 114,26 Argentina 17,33 16,31 16,57 3,17 2,31 3,33 54,97 37,78 55,26 Trung Quốc 8,24 8,41 8,42 1,85 1,89 1,86 15,28 15,97 15,72 (Nguồn: FAOSTAT3.ORG,2020) Từ năm 2017 đến năm 2019 diện tích, năng suất cũng như sản lượng đậu tương của Mỹ luôn cao hơn hẳn Brazil, Agentina và Trung Quốc.
Trong 3 năm từ 2017 đến 2019 thì năm 2017 là năm Mỹ đạt diện tích gieo trồng cao nhất là 36,23 triệu ha, năm 2018 Mỹ là nước đạt năng suất và sản lượng đậu tương cao nhất thế giới; năng suất là 3,39 tấn/ha và sản lượng thu được là 120,51 triệu tấn. Năm 2019, diện tích gieo trồng đậu tương của Mỹ đạt 30,35triệu ha gấp gần 2 lần so với Argentina là nước có diện tích lớn thứ 3 (16,57triệu ha). 6 Đứng sau Mỹ, Brazil là đất nước đứng thứ 2 về sản xuất đậu tương. Năm 2019 diện tích đậu tương nước này đạt 35,88 triệu ha, cao hơn 5,53 triệu ha diện tích của Mỹ, năng suất đạt 3,18 tấn/ha, sản lượng đạt 114,26 triệu tấn (bảng 2.2) năng suất có dấu hiệu giảm so với năm 2017, Brazil đứng thứ 2 trên thế giới về sản xuất đậu tương, đạt được thành tựu dó là do Brazil đã biết tận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới và các nghiên cứu về đậu tương trong nước, các chính sách của chính phủ hỗ trợ việc phát triển đậu tương.