Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu xanh (Vigna radiata (L.)) là cây thực phẩm họ đậu có giá trị dinh dưỡng cao, giàu protein cân đối (chiếm khoảng 23,86% trọng lượng hạt khô theo số liệu phân tích của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ - USDA), thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng chịu hạn và thích ứng rộng với nhiều điều kiện môi trường. Tại Việt Nam, cây đậu xanh được gieo trồng rải rác ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp với tổng diện tích ước tính khoảng 60.000 ha, năng suất bình quân đạt từ 12 đến 13 tạ/ha theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cây đậu xanh giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nhờ khả năng luân canh, xen canh, gối vụ với các cây trồng chính, đồng thời là cây trồng thay thế phù hợp trong vụ Xuân và vụ Hè nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế cho các hộ sản xuất nhỏ.

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về chọn tạo giống đậu xanh ở nước ta còn hạn chế. Năng suất đậu xanh trong sản xuất đại trà vẫn ở mức thấp do tập quán canh tác chủ yếu sử dụng các giống địa phương đã thoái hóa cùng biện pháp kỹ thuật truyền thống. Bên cạnh đó, mỗi vùng sinh thái có điều kiện khí hậu khác nhau khiến khả năng sinh trưởng và năng suất của từng dòng, giống đậu xanh có sự biến động rõ rệt. Xuất phát từ thực tế đó, khóa luận thực hiện đề tài nhằm khảo nghiệm tập đoàn giống mới tại khu vực Gia Lâm, Hà Nội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu (Mục 1.1): Xác định được từ 1 đến 2 dòng đậu xanh mới có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (Mục 1.2):
    1. Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống đậu xanh trong điều kiện đồng ruộng vụ Xuân.
    2. Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống tham gia thí nghiệm.
    3. Chọn lọc các dòng có đặc tính nông học ưu tú, năng suất hạt vượt trội để làm nguồn vật liệu chọn giống hoặc đưa vào khảo nghiệm ở các giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 34 dòng, giống đậu xanh mới chọn tạo (ký hiệu từ Q1 đến Q34) do Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng - Khoa Nông học cung cấp, sử dụng giống đậu xanh ĐX208 (ký hiệu trong thí nghiệm là Q21) làm đối chứng.
  • Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm đồng ruộng Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Vụ Xuân năm 2021, theo dõi liên tục từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2021, thời điểm gieo hạt đồng ruộng vào ngày 15 tháng 3 năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên hệ thống phân loại thực vật học: cây đậu xanh thuộc giới Plantae, ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Fabales, họ Fabaceae, phân họ Papilionoideae, tông Phaseoleae, chi Vigna, phân chi Ceratotropis, loài Vigna radiata (L.) với bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 2x = 22. Khóa luận tổng hợp các dữ liệu dinh dưỡng từ USDA Nutrient Database và dữ liệu diện tích, sản lượng đậu xanh thế giới từ hệ thống FAOSTAT năm 2019 của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc.

Phương pháp bố trí và quy trình kỹ thuật đồng ruộng:

  • Bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp khảo sát tập đoàn không lặp lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 3 m² (chiều dài 3 m, chiều rộng 1 m), rãnh rộng 0,3 m, khoảng cách giữa các hàng là 0,4 m. Toàn bộ khu thí nghiệm được bố trí các luống đậu xanh bảo vệ xung quanh. Mật độ gieo trồng định cây đạt 25 cây/m² với khoảng cách 40 x 15 cm/cây.
  • Quy trình bón phân cho 1 ha: 20 - 30 tấn phân chuồng hoai mục; 300 kg supe lân; 100 - 150 kg urê; 100 - 150 kg kali clorua. Toàn bộ phân chuồng và phân lân được bón lót rải đều trước khi xới đất. Lượng phân đạm và kali được bón thúc qua 3 đợt: đợt 1 (10 - 15 ngày sau gieo) bón 30% đạm; đợt 2 (25 ngày sau gieo) bón 40% đạm và 50% kali; đợt 3 (40 ngày sau gieo) bón 30% đạm và 50% kali còn lại. Chăm sóc xới xáo phá váng ở giai đoạn 1 - 3 lá thật, xới sâu vun cao ở giai đoạn 5 - 6 lá thật và tưới bổ sung giữ ẩm khi độ ẩm đất xuống dưới 65%.

Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:

  • Quy chuẩn áp dụng: Toàn bộ quy trình theo dõi các tính trạng hình thái và nông sinh học thực hiện theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia "QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT" của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Chỉ tiêu hình thái: Kiểu sinh trưởng (hữu hạn, vô hạn), dạng cây (đứng, nửa đứng, ngang), màu sắc thân mầm (xanh, tím), màu hoa, màu sắc vỏ quả khi chín, màu sắc hạt (xanh vàng, xanh nhạt, vàng xám), dạng hạt (ô van, hình trụ) và trạng thái vỏ hạt (sáng bóng, mốc).
  • Thời gian sinh trưởng: Theo dõi số ngày từ gieo đến mọc, từ mọc đến ra hoa, thời gian nở hoa và tổng thời gian sinh trưởng từ khi gieo đến đợt thu hoạch cuối cùng.
  • Chỉ tiêu nông sinh học: Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (đo định kỳ 7 - 10 ngày/lần trên 10 cây mẫu/ô, bắt đầu từ ngày 35 sau gieo), chiều cao cây cuối cùng (CCCC), số lá thân chính, số đốt thân chính, số cành cấp 1 và đường kính thân.
  • Tình hình nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống chịu: Đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 5 hoặc từ 1 đến 9 đối với bệnh gỉ sắt (Phakopsora pachyrhizi Sydow), bệnh đốm nâu (Septoria glycines Hemmi), bệnh phấn trắng (Erysiphe polygoni), bệnh lở cổ rễ cây con (Rhizoctonia solani, Fusarium sp.); điều tra tỷ lệ hại của sâu đục quả (Etiella zinckenella), giòi đục thân (Melanagromyza sojae), sâu cuốn lá (Lamprosema indicata); đồng thời đánh giá tính chống đổ và tính tách vỏ quả trên đồng ruộng.
  • Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Số quả/cây, số quả chắc/cây, số hạt/quả, khối lượng 1000 hạt (ở độ ẩm tiêu chuẩn 12%), năng suất cá thể (g/cây) và năng suất thực thu (tạ/ha).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tổng hợp, tính toán các tham số thống kê cơ bản bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 5.0 và Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương 1 trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu chọn tạo giống đậu xanh năng suất cao trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Tác giả phân tích lợi thế sinh học của cây đậu xanh về thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng cố định đạm sinh học và giá trị thương phẩm cao. Tuy nhiên, năng suất đậu xanh trong nước còn thấp do hạn chế về bộ giống tốt. Trên cơ sở đó, tác giả xác định mục đích chọn ra 1-2 dòng đậu xanh mới thích nghi với vụ Xuân tại Gia Lâm, Hà Nội cùng các yêu cầu cụ thể về đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất thực thu.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Chương 2 cung cấp bức tranh tổng quan về nguồn gốc, phân loại thực vật, giá trị sinh học và tình hình nghiên cứu cây đậu xanh trên thế giới cũng như tại Việt Nam:

  • Nguồn gốc và phân loại: Cây đậu xanh có nguồn gốc từ Trung Á và tiểu lục địa Ấn Độ, lan truyền sang châu Phi, châu Mỹ và châu Úc. Năm 1970, cây được định danh khoa học là Vigna radiata (L.) Wilczek với 2n = 22.
  • Giá trị dinh dưỡng và cải tạo đất: Hạt chứa trung bình 23,86% protein, hàm lượng globulins chiếm 85% protein tổng số; carbohydrate chiếm 62 - 65%. Rễ cây cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium fredii, Rhizobium japonicum cho khả năng cố định đạm đạt tới 200 kg N/ha/năm, cung cấp lượng đạm bổ sung cho đất khoảng 55 kg N/ha/năm khi vùi thân lá làm phân xanh.
  • Yêu cầu sinh thái: Nhiệt độ thích hợp từ 22 - 27°C, mẫn cảm với độ dài ngày, độ ẩm đất tối ưu thời kỳ ra hoa tạo quả là 80%, độ pH thích hợp từ 6,0 - 7,5. Nhu cầu hấp thu dinh dưỡng để tạo ra 1 tấn hạt là 40 - 42 kg N và 3 - 5 kg P₂O₅.
  • Tình hình sản xuất: Giai đoạn 2014 - 2018, diện tích đậu xanh toàn cầu tăng từ 11,5 lên 13,5 triệu ha; năng suất tăng từ 6,1 lên 9,7 tạ/ha và sản lượng tăng từ 10,4 lên 13,1 triệu tấn (FAO, 2019). Tại Việt Nam, tập đoàn 226 mẫu giống được lưu giữ tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia; giai đoạn 1988 - 2007 có 17 giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận, trong đó có các giống nổi bật như HL42-8, VN99-1, ĐX11, ĐX208.

Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 mô tả cụ thể toàn bộ vật liệu, địa điểm, thời gian và phương pháp triển khai:

  • Vật liệu nghiên cứu gồm 34 dòng đậu xanh mới chọn tạo (Q1 - Q34) và giống đối chứng ĐX208 (Q21) do Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng cung cấp.
  • Nghiên cứu thực hiện tại ruộng thí nghiệm Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong vụ Xuân 2021 (gieo ngày 15/3/2021).
  • Trình bày chi tiết công thức thí nghiệm không lặp lại trên ô 3 m², mật độ 25 cây/m², quy trình bón phân (20-30 tấn phân chuồng, 300 kg lân, 100-150 kg đạm, 100-150 kg kali), các đợt chăm sóc, phòng trừ dịch hại.
  • Nêu rõ các chỉ tiêu đánh giá theo QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT và phương pháp phân tích thống kê trên IRRISTAT 5.0 và Excel 2010.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 tập trung phân tích 5 nhóm kết quả thực nghiệm đạt được trên 34 dòng, giống đậu xanh:

  • Đặc điểm hình thái: Toàn bộ 34 dòng, giống đều có kiểu sinh trưởng hữu hạn, dạng cây đứng và hoa màu vàng. Có 15 dòng mang thân mầm màu xanh (Q5, Q7, Q9, Q11, Q13, Q17, Q18, Q19, Q23, Q25, Q26, Q27, Q29, Q30, Q31); 19 dòng còn lại có thân mầm màu tím (bao gồm cả đối chứng ĐX208). Về hạt: 32 dòng hạt dạng ô van, 2 dòng hạt hình trụ (Q4, Q6); 17 dòng hạt màu xanh nhạt, 15 dòng hạt xanh vàng, 2 dòng hạt vàng xám (Q15, Q24); 20 dòng có vỏ hạt sáng bóng và 14 dòng vỏ hạt mốc.
  • Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng: Thời gian gieo - mọc dao động từ 3 đến 4 ngày. Thời gian mọc - ra hoa dao động từ 34 đến 38 ngày (dòng ra hoa sớm nhất là Q2, Q3, Q34 với 34 ngày; đối chứng ĐX208 là 35 ngày). Thời gian ra hoa kéo dài 16 - 22 ngày, tất cả thuộc nhóm nở hoa trung bình. Tổng thời gian sinh trưởng biến động hẹp từ 78 đến 79 ngày (ĐX208 đạt 79 ngày).
  • Chỉ tiêu nông sinh học và động thái tăng trưởng: Trong 35 ngày đầu, cây tăng trưởng chiều cao chậm (đạt 6,95 - 27,50 cm). Tốc độ tăng trưởng chiều cao thân chính diễn ra mạnh nhất trong giai đoạn từ 35 đến 49 ngày sau gieo (giai đoạn ra hoa rộ và hình thành quả). Chiều cao cây cuối cùng (CCCC) dao động từ 52,25 cm (Q20) đến 88,15 cm (Q15), đối chứng ĐX208 đạt 59,90 cm. Số lá thân chính dao động 7,5 - 8,8 lá; số đốt đạt 9,9 - 11,8 đốt; số cành cấp 1 đạt 0,5 - 2,2 cành/cây và đường kính thân dao động từ 0,35 đến 0,63 cm.
  • Mức độ nhiễm sâu bệnh hại và tính chống chịu: Các dòng thí nghiệm bị nhiễm bệnh gỉ sắt ở mức nhẹ đến rất nhẹ (1 - 3 điểm); bệnh đốm nâu ở mức 1 - 3 điểm; bệnh phấn trắng ở mức 1 - 2 điểm; bệnh lở cổ rễ ở mức 1 - 2 điểm. Tỷ lệ hại của sâu đục quả dao động 0,1 - 0,3%; sâu cuốn lá hại 0,1 - 0,3%; giòi đục thân hại 0 - 0,2%. Toàn bộ 34 dòng, giống đều thể hiện tính chống đổ tốt (100% không bị đổ rạp) và tỷ lệ tách vỏ quả khi chín ở mức thấp (< 25%).
  • Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu: Số quả/cây biến động từ 5,0 đến 26,1 quả (cao nhất là Q2 đạt 26,1 quả, Q3 đạt 25,8 quả, Q5 đạt 24,8 quả; ĐX208 đạt 10,8 quả). Số quả chắc/cây đạt 4,2 - 25,9 quả (dòng Q2 đạt 25,9 quả, Q3 đạt 24,7 quả; ĐX208 đạt 10,0 quả). Số hạt/quả dao động 5,2 - 16,9 hạt (dòng Q13 cao nhất với 16,9 hạt). Khối lượng 1000 hạt đạt từ 33,2 g (Q20) đến 76,0 g (Q33); đối chứng ĐX208 đạt 57,0 g. Năng suất cá thể dao động từ 2,2 g/cây đến 13,8 g/cây (Q11 đạt 13,8 g/cây, Q7 đạt 13,2 g/cây, Q3 đạt 10,5 g/cây; ĐX208 đạt 3,7 g/cây). Năng suất thực thu toàn ô biến động từ 2,70 đến 22,25 tạ/ha (trên bảng 4.6 ghi nhận Q29 đạt 22,52 tạ/ha), trong khi giống đối chứng ĐX208 chỉ đạt 7,00 tạ/ha.

Chương 5: Kết luận và đề nghị

Chương cuối cùng đúc kết kết quả đánh giá tập đoàn 34 dòng giống trong vụ Xuân 2021, xác nhận sự phù hợp của tập đoàn với điều kiện sinh thái vùng Gia Lâm. Tác giả kết luận chọn được 3 dòng triển vọng có năng suất cao là Q29, Q3 và Q7, đồng thời đề nghị tiếp tục đưa 3 dòng này vào khảo nghiệm diện rộng và khảo nghiệm sản xuất đại trà.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm toàn diện về đặc tính hình thái, thời gian sinh trưởng và cấu thành năng suất của 34 dòng đậu xanh mới chọn tạo so với giống đối chứng ĐX208 trong vụ Xuân năm 2021. Kết quả chọn lọc đã xác định được 3 dòng đậu xanh ưu tú có tiềm năng năng suất vượt trội:

Dòng/Giống đậu xanh Chiều cao cuối cùng (cm) Số cành cấp 1 (cành) Số quả chắc/cây (quả) Số hạt/quả (hạt) Khối lượng 1000 hạt (g) Năng suất cá thể (g/cây) Năng suất thực thu (tạ/ha)
Q29 75,95 1,8 21,6 8,3 55,0 8,8 22,25 - 22,52
Q3 78,60 2,1 24,7 9,2 45,2 10,5 22,17
Q7 70,45 1,6 15,8 14,2 56,0 13,2 20,16
Q2 71,40 2,2 25,9 8,1 52,0 11,8 18,56
Q11 74,55 1,8 16,3 13,5 59,2 13,8 13,92
ĐX208 (đối chứng) 59,90 0,8 10,0 6,3 57,0 3,7 7,00

Ghi chú số liệu: Dòng Q29 được ghi nhận mức năng suất 22,25 tạ/ha tại phần Tóm tắt/Thảo luận và 22,52 tạ/ha tại Bảng 4.6 của văn bản gốc.

Các đóng góp cụ thể do tác giả tự nêu bao gồm:

  • Xác định được tập đoàn 34 dòng đậu xanh thí nghiệm đều mang đặc tính sinh học thuận lợi cho cơ giới hóa thu hoạch: 100% dòng có dạng thân đứng, kiểu sinh trưởng hữu hạn, tỷ lệ chống đổ đạt mức tuyệt đối trên đồng ruộng và tính tách vỏ quả chín ở mức thấp (< 25%).
  • Tìm ra 3 dòng đậu xanh mới gồm Q29, Q3 và Q7 đạt năng suất thực thu cao vượt trội (từ 20,16 đến 22,52 tạ/ha), cao gấp gần 3 lần so với giống đối chứng ĐX208 (7,00 tạ/ha).
  • Khẳng định khả năng chống chịu sâu bệnh của các dòng mới trong điều kiện thời tiết vụ Xuân: nhiễm rất nhẹ đối với các bệnh hại nguy hiểm (gỉ sắt, đốm nâu, phấn trắng, lở cổ rễ) và tỷ lệ hại của sâu đục quả, giòi đục thân, sâu cuốn lá đều khống chế dưới 0,3%.
  • Đề xuất kiến nghị đưa 3 dòng triển vọng Q29, Q3 và Q7 vào hệ thống khảo nghiệm sản xuất đại trà nhằm bổ sung nguồn giống tốt phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại vùng đồng bằng sông Hồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các hạn chế cụ thể từ điều kiện thực nghiệm:

  • Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn không lặp lại trên diện tích ô nhỏ (3 m²), dẫn đến độ chính xác thống kê về năng suất chưa được kiểm định qua phân tích phương sai lặp lại.
  • Nghiên cứu chỉ được tiến hành trong phạm vi 1 vụ gieo trồng duy nhất (vụ Xuân 2021) tại 1 địa điểm cố định (Gia Lâm, Hà Nội), do đó chưa đánh giá được tính ổn định di truyền và mức độ tương tác giữa kiểu gen với môi trường qua các mùa vụ và vùng sinh thái khác nhau.
  • Trong giai đoạn thu hoạch, điều kiện ngoại cảnh bất lợi và tác động phá hoại của chuột đồng đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất thu được ở một số ô thí nghiệm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục đưa các dòng triển vọng (Q29, Q3, Q7) vào thí nghiệm so sánh giống có lặp lại (bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh - RCBD).
  • Khảo nghiệm qua nhiều vụ canh tác khác nhau (vụ Hè, vụ Thu Đông) và khảo nghiệm đa điểm tại các vùng sinh thái đại diện để kiểm tra khả năng thích ứng rộng.
  • Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác (mật độ khoảng cách, liều lượng và tỷ lệ phân bón N-P-K) chuyên biệt cho từng dòng giống ưu tú đã lựa chọn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và hoạt động nghiên cứu sau:

  • Sinh viên, học viên và nghiên cứu viên các chuyên ngành Di truyền và Chọn giống cây trồng, Khoa học cây trồng, Nông học tham khảo về phương pháp khảo sát tập đoàn giống cây họ đậu, cách thức xây dựng thang điểm theo dõi sâu bệnh hại và chỉ tiêu phân loại hình thái theo quy chuẩn QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT.
  • Các nhà chọn tạo giống cây trồng có thể khai thác bộ số liệu thực nghiệm chi tiết của 34 dòng đậu xanh (từ Q1 đến Q34) về các tính trạng nông sinh học, số đốt, số cành cấp 1, khối lượng 1000 hạt và năng suất cá thể làm dữ liệu nền để định hướng lai tạo, tuyển chọn vật liệu bố mẹ mang các gen chống đổ, quả ít tách vỏ hoặc năng suất cao.
  • Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, cán bộ khuyến nông tại Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ tham khảo quy trình bón phân cân đối kết hợp chăm sóc đậu xanh trong khung thời vụ Xuân (gieo trung tuần tháng 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng giống đậu xanh nào làm đối chứng và kết quả sinh trưởng, năng suất của giống đối chứng ra sao?
Giống đậu xanh ĐX208 (được ký hiệu là Q21 trong thí nghiệm) được sử dụng làm đối chứng. Trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, giống ĐX208 có thân mầm màu tím, hoa màu vàng, hạt màu xanh nhạt hình ô van, vỏ hạt sáng bóng; tổng thời gian sinh trưởng 79 ngày; chiều cao cây cuối cùng đạt 59,90 cm; số cành cấp 1 đạt 0,8 cành/cây; số quả chắc đạt 10,0 quả/cây; khối lượng 1000 hạt đạt 57,0 g; năng suất cá thể đạt 3,7 g/cây và năng suất thực thu đạt 7,00 tạ/ha.

2. Ba dòng đậu xanh nào đạt năng suất thực thu cao nhất trong thí nghiệm và có các chỉ tiêu cấu thành năng suất ra sao?
Ba dòng đậu xanh đạt năng suất thực thu cao nhất là:

  • Dòng Q29: Năng suất thực thu đạt 22,25 - 22,52 tạ/ha; chiều cao cây 75,95 cm; đạt 21,6 quả chắc/cây; 8,3 hạt/quả; khối lượng 1000 hạt đạt 55,0 g; năng suất cá thể 8,8 g/cây.
  • Dòng Q3: Năng suất thực thu đạt 22,17 tạ/ha; chiều cao cây 78,60 cm; đạt 24,7 quả chắc/cây; 9,2 hạt/quả; khối lượng 1000 hạt đạt 45,2 g; năng suất cá thể 10,5 g/cây.
  • Dòng Q7: Năng suất thực thu đạt 20,16 tạ/ha; chiều cao cây 70,45 cm; đạt 15,8 quả chắc/cây; 14,2 hạt/quả; khối lượng 1000 hạt đạt 56,0 g; năng suất cá thể 13,2 g/cây.

3. Đặc điểm hình thái chung nổi bật của 34 dòng, giống đậu xanh tham gia khảo nghiệm là gì?
Toàn bộ 34 dòng, giống đậu xanh trong thí nghiệm đều có dạng thân đứng, kiểu sinh trưởng hữu hạn và màu hoa vàng. Đa số các dòng có dạng hạt hình ô van (32 dòng, chỉ có 2 dòng Q4 và Q6 hạt hình trụ), vỏ hạt chủ yếu ở dạng sáng bóng (20 dòng) và dạng vỏ mốc (14 dòng). Về màu hạt, có 17 dòng hạt xanh nhạt, 15 dòng hạt xanh vàng và 2 dòng hạt màu vàng xám (Q15, Q24).

4. Mức độ gây hại của sâu bệnh chính trên đồng ruộng vụ Xuân 2021 được ghi nhận ở mức nào?
Các đối tượng sâu bệnh hại đều xuất hiện ở mức độ nhẹ:

  • Bệnh hại: Bệnh gỉ sắt ở mức 1 - 3 điểm (19 dòng đạt 1 điểm); bệnh đốm nâu ở mức 1 - 3 điểm (20 dòng đạt 1 điểm); bệnh phấn trắng ở mức 1 - 2 điểm (15 dòng đạt 1 điểm); bệnh lở cổ rễ cây con ở mức 1 - 2 điểm (18 dòng đạt 1 điểm).
  • Sâu hại: Tỷ lệ sâu đục quả hại từ 0,1% đến 0,3%; tỷ lệ sâu cuốn lá hại từ 0,1% đến 0,3%; tỷ lệ giòi đục thân hại từ 0% đến 0,2% (có 9 dòng hoàn toàn không bị giòi đục thân hại gồm Q3, Q7, Q8, Q11, Q14, Q20, Q22, Q25, Q27).

5. Dòng đậu xanh nào có khối lượng 1000 hạt cao nhất và dòng nào có số hạt trên quả nhiều nhất?
Dòng có khối lượng 1000 hạt cao nhất trong tập đoàn là dòng Q33 đạt 76,0 g (cao hơn nhiều so với mức trung bình và giống đối chứng ĐX208 đạt 57,0 g). Dòng có số hạt trên một quả cao nhất là dòng Q13 đạt 16,9 hạt/quả (so với mức thấp nhất ở dòng Q9 là 5,2 hạt/quả và đối chứng ĐX208 là 6,3 hạt/quả).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Đức Quang đã hoàn thành việc theo dõi, đánh giá toàn diện các đặc tính nông sinh học, khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất của 34 dòng đậu xanh mới so với đối chứng ĐX208 trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Kết quả nghiên cứu xác định tập thể các dòng thí nghiệm có thời gian sinh trưởng ngắn (78 - 79 ngày), 100% dòng có dạng thân đứng, không bị đổ ngã, tỷ lệ tách vỏ quả thấp và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Đề tài đã tuyển chọn được 3 dòng triển vọng gồm Q29, Q3 và Q7 đạt năng suất thực thu từ 20,16 đến 22,52 tạ/ha, vượt trội so với giống đối chứng ĐX208 (7,00 tạ/ha), tạo tiền đề vững chắc cho việc đưa vào khảo nghiệm sản xuất đại trà tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng.