Đặt vấn đề Đậu xanh hay đỗ xanh (Vigna radiata (L.) là cây thực phẩm họ đậu giàu và cân đối protein. Do có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng chịu hạn và thích ứng môi trường tốt, hiện nay, đậu xanh là một trong những cây trồng tiềm năng được nhiều nước lựa chọn để nghiên cứu phát triển trong các chương trình ứng biến với thay đổi khí hậu toàn cầu. Hạt đậu xanh đã được khai thác trong ẩm thực và dược liệu từ lâu đời. Trong đời sống hàng ngày, đậu xanh được dùng làm rất nhiều món như nấu canh, chè, xôi, làm bánh, giá đỗ,… Trong đông, tây y đậu xanh có công dụng thanh nhiệt, mát gan, điều hòa ngũ tạng, bổ nguyên khí, giải được nhiều thứ độc, có thể làm sạch mát nước tiểu, chữa lở loét, làm sáng mắt, thích hợp với các bệnh nhân say nắng, miệng khát, người nóng, thấp nhiệt, ung nhọt, viêm tuyến má, đậu mùa, nhìn mọi vật không rõ… Đậu xanh có thành phần dinh dưỡng rất cao.
Theo phân tích của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) thành phần dinh dưỡng trong 100g hạt đậu xanh khô có chứa 62,62g carbohydrate; 23,86g protein; 6,6g đường; 16,3g chất xơ thực phẩm và rất nhiều vitamin như vitamin E, B1, B2, B3, B6, C, tiền vitamin A, vitamin K, acid folic; và các khoáng tố gồm Ca, Mg, K, Na, Zn, Fe, Cu, … là nguồn năng lượng cần thiết cho cuộc sống con người. Do đó, đậu xanh được mệnh danh là “Thực phẩm của tương lai”. Ở Việt Nam, cây đậu xanh được trồng rải rác ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước với diện tích ước tính khoảng 60.000ha, năng suất bình quân 12-13 tạ/ha (Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn). Cây đậu xanh được xác định là cây trồng thay thế phù hợp cho các cây trồng khác trong vụ Hè vì sự thích ứng với thời tiết và tiềm năng kinh tế cao.
Tuy nhiên, đối với mỗi vũng khí hậu khác nhâu khả năng sinh trưởng và năng xuất của mỗi dòng, giống đậu xanh cũng khác nhau, chính vì thế rất cần những nghiên cứu, thí nhiệm để tìm ra nhữn dòng, giống đậu xanh phù hợp cho từng vùng khí hậu mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người dân. Ở nước ta, cây đậu xanh được trồng rải rác ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước. Cây đậu xanh là cây trồng có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống nông nghiệp, có thể được trồng xen canh, gối vụ và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ nghèo và sản xuất nhỏ, đặc biệt đối với các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (Phạm Văn Thiều, 2009). Nó được xác định là cây trồng thay thế phù hợp cho các cây trồng khác trong vụ 1 Xuân vì sự thích ứng với thời tiết và tiềm năng kinh tế cao.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về đậu xanh ở nước ta còn hạn chế, năng suất đậu xanh còn thấp do chủ yếu sử dụng các giống địa phương và biện pháp kỹ thuật truyền thống chưa đem lại hiệu quả. Vì vậy, việc tăng cường nghiên cứu để chọn tạo ra các dòng, giống có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao để đáp ứng nhu cầu sản xuất thực tiễn là việc làm rất cần thiết và đáng quan tâm hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất một số dòng đậu xanh mới trong vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội 1.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Xác định được 1- 2 dòng đậu xanh mới có khả năng sinh trưởng và cho năng xuất cao tại vụ Xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội.2 Yêu cầu -Đánh giá sự sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu xanh trong điều kiện đồng ruộng. - Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất đậu xanh.
- Chọn ra các dòng có đặc điểm tốt, cho năng suất cao dùng để làm giống hoặc cho các nghiên cứu tiếp theo. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc và phân loại cây đậu xanh 2. Nguồn gốc cây đậu xanh Cây đậu xanh có tên khoa học là Vigna radiata (L.
Có tên tiếng anh là Mung bean, Green bean. Cây đậu xanh có nguồn gốc từ trung Á và được trồng rộng rãi ở khắp các vùng của tiểu lục địa Ấn Độ cũng như thung lũng sông Nin (Ai Cập) từ hàng ngàn năm trước. Sau đó, đậu xanh được lan truyền dần sang các vùng khác của Châu Á, Châu Phi, Bắc Mỹ, Châu Mỹ latinh và Châu Úc. Với người Châu Âu, bằng chứng sớm nhất về đậu xanh đã đươc ghi lại bởi ông De La Laubeve, công sứ đặc mệnh nước Pháp tại Thái Lan vào năm 1867- 1868.
Trong thời gian này ông ghi nhận một điều đáng chú ý rằng: “Cây đậu (peas) chưa từng xuất hiện ở Pháp nhưng lại khá phát triển ở Thái Lan”. Từ “peas” được hiểu như đậu xanh. Tuy vậy, bằng chứng mới nhất về khảo cổ học tại khu vực Thampec và Chostcave của tỉnh Machongson (Thái Lan) đã cho thấy đậu xanh được trồng ở đây 800 - 1000 năm nay. Như vậy đậu xanh đã có lịch sử trồng trọt lâu đời ở Châu Á.
Nhưng mãi đến năm 1972 khi đậu xanh đã được xác định là cây trồng chính của trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á (AVRDC) thì đồng thời nhiều công trình nghiên cứu cấp nhà nước về cây này đã được xác lập ở các quốc gia khác nhau như Ấn Độ, Philippin, Thái Lan, Mỹ và Australia (AVRDC-1974). Lịch sử trồng đậu xanh ở Việt Nam đến nay chưa đủ nguồn gốc xác định, song theo “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quý Đôn thì đậu xanh ở nước ta được trồng từ lâu đời. Ngoài mục đích làm thực phẩm và làm thuốc thì đậu xanh còn có ý nghĩa rất quan trọng trong cải tạo đất, chống sói mòn và làm phân xanh có giá trị cao. Ngoài ra đậu xanh còn được dùng làm bánh trưng, loại bánh không thể thiếu trong tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, nên đậu xanh đã được nhân dân ta trồng từ rất lâu đời (Nguyến Ngọc Quất, 2008).
Phân loại cây đậu xanh Đậu xanh thuộc họ đậu Fabaceae, tông Phaseoleae và chi Vigna. Từ năm 1970 đậu xanh được đặt tên khoa học là Vigna radiata (L. Chi Vigna trong đó bao gồm đậu xanh, thuộc về phân chi Ceratoirtopis và có bộ nhiễm sắc thể đặc trưng của tông Phaseoleae với 2n = 2x = 22 (Lambrides and Godwin, 2007).1 mô tả chi tiết phân loại thực vật của cây đậu xanh. Bảng phân loại thực vật của đậu xanh Giới (Kingdom) Plantae – Thực vật Giới phụ (Subkingdom) Tracheobionta – thực vật có mạch Ngành (Division) Magnoliophyta – thực vật có hoa Lớp (Class) Magnoliopsida – lớp 2 lá mầm Phân lớp (Subclass) Hoa hồng (Rosidae) Bộ (Order) Đậu (Fabales) Họ (Faminly) Đậu (Fabaceae) Phân họ (Subfarmily) Papilionoideae Tông (Tribe) Phaseoleae Chi (Genus) Vigna Phân chi (Subgenus) Ceratoirtopis Loài (Species) Radiata Loài phụ(Subspecies Radiata Nguồn: Lambrides and Godwin (2007); Sherasia et al.
(2017) Cây đậu xanh được xếp chung nhóm “Beans, dry” trong hệ thống phân loại và dữ liệu FAOSTAT của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAOSTAT, 2019; Sherasia et al. Giá trị của cây đậu xanh 2.1 Giá trị dinh dưỡng của đậu xanh Đậu xanh là nguồn bổ xung protein thiết yếu, là loại đậu đỗ có giá trị dinh dưỡng cao giàu hàm lượng protein dễ tiêu hóa, mặt khác lại có giá thành thấp được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người (R. Nair et al. Hàm lượng protein trong 100g hạt đậu xanh từ 14,6 – 33,0 g, trung bình khoảng 23,86% trọng lượng hạt.
Đậu xanh có hàm lượng folate và hàm lượng sắt từ 5,9 – 7,6 mg/100 g cao hơn so với các loại cây đậu đỗ khác (Anusheela, 2017; Dahiya et al., 2015; Đường Hồng Dật, 2006; Sherasia et al., 2017; USDA Nutrient Database, 2019). 4 Trong các loại protein của đậu xanh, globulins là thành phần chính chiếm 85% hàm lượng protein tổng số. Ngoài ra chuỗi M-terminal amino axit, cấu trúc và tính tương đồng giữa 3 loại isoforms riêng biệt của 8Sα globulin cũng được nghiên cứu và mô tả chi tiết. Nhờ các lợi ích đối với sức khỏe con người và chức năng dinh dưỡng, đậu xanh (protein và các sản phẩm thủy phân) với các hoạt chất, chức năng và hoạt tính sinh học rất có tiềm năng trong đặc biệt là chế biến thực phẩm và y học (Yi-Shen et al.
Hạt đậu xanh giàu thành phần hydrat cacbon với hàm lượng khoảng 62 - 65% trong hạt thành phẩm; chất xơ chiếm 3,5 – 4,5%; 4,5 – 5,5% mùn (Dahiya et al., 2014; Sherasia et al. Đậu xanh chứa đầy đủ các dinh dưỡng đa lượng và vi lượng, các vitamin thiết yếu. Trong thành phần có đầy đủ các loại axit amin không thay thế cần thiết cho con người như trytophan, threonine, isoleucine, leucine, lysine, cystine, phenylalaine,. Ngoài ra trong đậu xanh chứa nhiều isoflavonoid với hàm lượng tổng số khoảng 0,08 mg/100 g hạt như daizein, genistein, glycitein, biochanin A; hàm lượng axit phytic và polyphenols trung bình lần lược là 2,1 và 1,8 g/kg; nhờ đó đậu xanh được sử dụng như một loại dược liệu chữa trị bệnh phù thũng, giải độc, bồi bổ cho sức khỏe (Đường Hồng Dật, 2006; USDA, 2019;(Shi et al.
Trong sản xuất sản phẩm thường chế biến, phối trộn đậu xanh với một số loại ngũ cốc nhằm bổ xung sự thiếu hụt nguyên tố lưu huỳnh trong đậu xanh, cũng như bổ xung lysine từ đậu xanh cho ngũ cốc và cân bằng tỉ lệ protein trong thực phẩm (Đường Hồng Dật, 2006). Đậu xanh có tỉ lệ amino axit methionine thấp khoảng 0,17 g/1kg protein, phối trộn đậu xanh với gạo giúp làm tăng chất lượng của protein thiếu hụt. Tuy nhiên đậu xanh ít được kết hợp ăn cùng với gạo. Vì vậy gia tăng hàm lượng methionine trong hạt có thể giúp tăng giá trị của cây đậu xanh (Nair et al.
Hàm lượng dầu trong đậu xanh thấp từ 2,1-2,7%, các chương trình chọn tạo giống không trú trọng tới việc gia tăng hàm lượng dầu trong hạt. Đậu xanh có làm lượng sắt thấp, hàm lượng kẽm Zn đạt mức 0,025 g/kg, mục tiêu tăng hàm lượng kẽm lên 0,04 g/kg được đặt ra cho các chương trình chọn giống đậu xanh. Hàm lượng vitamin A đạt 70 µg RAE. Hàm lượng vitamin C thấp trong hạt (0,05 g/kg) nhưng khá cao trong sản phẩm giá.
Hàm lượng folate trong đậu xanh chiếm 0,006 g/kg, đây là nguồn dinh dưỡng cần thiết, quan trọng đặc biệt đối với phụ nữ có thai (Nair et al. Ngoài ra, giá đậu chứa hàm lượng rất cao các chất có giá trị y học và có lợi cho sức khỏe con người như: polyphenols, metabolites và các chất chống oxy hóa (Li et al.