mở đầu cho quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (Nguyễn Bá Hiên và Trần Thị Lan Hương, 2009). Một khi hơn 40% đại thực bào của cơ thể bị phá hủy, PRRSV hầu như đã loại bỏ hệ thống miễn dịch của cơ thể. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự nhiễm trùng kế phát. Đặc biệt có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi nhiễm virus PRRS sẽ tăng đột biến tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn có sẵn trong đường hô hấp như Pasteurella multocida, Mycoplasma 8 hyopneumoniae, Streptococcus suis, Staphylococcus.
Ngoài ra lợn mắc PRRS thường bị bội nhiễm với các bệnh khác như Dịch tả lợn, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, bệnh do Xoắn khuẩn Leptospira spp, bệnh do Streptococcus spp, Mycoplasma spp, E.coli… Các bệnh kế phát này mới là nguyên nhân gây chết nhiều ở lợn mắc PRRS (Wang X. Virus PRRS Virus PRRS Đại thực Đại thực bào bào Đại Đạithực bàobào thực bị PRRSV pháphá bị virus huỷ huỷ Hình 2.Hình ảnh xâm nhiễm và phá huỷ đại thực bào của virus PRRS Nguồn: Boehringer Ingelheim Vetmedica GmbH Trên lợn nái mang thai, virus ở dạng tự do hoặc kết hợp với tế bào bạch cầu, tế bào đơn nhân trong máu để đến cơ quan sinh sản. Cảm nhiễm có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình mang thai nhưng biểu hiện lâm sàng phụ thuộc lớn vào giai đoạn nhiễm trùng của bào thai và độc lực của chủng virus gây bệnh. Nhiễm virus ở giai đoạn đầu và giai đoạn giữa của kỳ mang thai không có hay chỉ gây tác động nhẹ so với nhiễm virus ở giai đoạn sau.
Cảm nhiễm trong thời kỳ phôi thường có biểu hiện bệnh rất thấp vì tế bào phôi chưa biệt hóa, không thích hợp cho sự nhân lên của virus. Mặt khác lúc này trứng thụ tinh gắn chặt chẽ với nội mạc tử cung nên sự truyền virus từ mẹ sang phôi bị hạn chế. Trong khi ở giai đoạn sau, nhau thai và mạch máu nuôi thai rất phát triển, nhau thai trở thành bộ phận trao đổi cần thiết, đồng thời là cầu nối truyền virus và 9 kháng thể chống virus từ mẹ sang thai. Virus có thể qua nhau thai ở dạng tự do hay kết hợp với các tế bào khác của lợn mẹ.
Cảm nhiễm ở giai đoạn này tạo nhiều vết bong tróc nhỏ trên tế bào biểu mô nhau thai và bệnh tích hoại tử động mạch cuống rốn, từ đó làm cho bào thai bị thiếu dưỡng chất, oxy, gây sảy thai kỳ cuối, lợn con sinh ra yếu ớt, dị tật và tăng tỷ lệ thai chết tươi khi sinh (Prieto C. Triệu chứng bệnh Nhìn chung lợn mắc PRRS thường có biểu hiện lâm sàng đặc trưng như: sốt cao 40-41oC, viêm phổi nặng, ỉa chảy, tai xanh, lợn nái mang thai thường sảy thai, thai chết lưu hoặc lợn sơ sinh chết yểu. Tuy nhiên tùy từng chủng virus, đặc điểm giống lợn, lứa tuổi, trạng thái miễn dịch cơ thể và các nhân tố ngoại cảnh mà triệu chứng lâm sàng rất khác nhau. Theo ước tính cứ 3 đàn lợn lần đầu tiếp xúc với mầm bệnh thì một đàn không có biểu hiện, một đàn biểu hiện ở mức độ vừa và một đàn bị nặng (Nguyễn Bá Hiên và cs.
Lý do cho điều này vẫn chưa giải thích được, tuy nhiên với những đàn khỏe mạnh thì mức độ bệnh cũng nhẹ hơn, hơn nữa cũng có thể do virus tạo nhiều biến chủng với độc lực khác nhau. Thực tế nhiều đàn có huyết thanh dương tính nhưng không có dấu hiệu lâm sàng. Đây là đặc điểm chính của hội chứng PRRS (White, 1992). Thời kỳ ủ bệnh có thể kéo dài từ 3-37 ngày (FAO, 2011).
Các triệu chứng chính gồm có: - Các dấu hiệu về da: da thường đổi màu từ ửng đỏ tới xanh, đặc biệt là vùng da tai và vùng âm hộ. Có dấu hiệu phù nề dưới da, mí mắt, chi sau, mõm… - Các triệu chứng về hô hấp ở lợn con và lợn trưởng thành: khó thở, suy hô hấp. Các triệu chứng về hô hấp thường trở nên nghiêm trọng hơn khi nhiễm các bệnh kế phát Pasteurella multocida, Porcine Circovirus Type 2 (PCV2), Mycoplasma hyopneumonia, Streptococcus suis, Salmonella cholerasuis, Haemophilus parasuis, Swine influenza virus…Tỷ lệ chết cao thường gặp ở lợn con (30-50%) và thấp hơn ở lợn trưởng thành (4-20%) (OIE, 2008). - Các triệu chứng về sinh sản ở lợn nái: Trong giai đoạn mang thai, khi bị nhiễm bệnh thường biếng ăn, sốt cao, sảy thai ở các giai đoạn khác nhau, đẻ non vào giai đoạn cuối hoặc đẻ con chết yểu, tỷ lệ lợn con chết yểu có thể lên tới 70%.
Lợn nái ở giai đoạn nuôi con có dấu hiệu sốt cao, biếng ăn, lười uống nước, viêm vú, mất sức, động dục lẫn lộn (5-10 ngày sau sinh), lợn con mới sinh ra rất yếu. Các bệnh về hô hấp cũng thường xảy ra với lợn nái bị nhiễm bệnh. 10 - Các triệu chứng ở lợn đực giống: bỏ ăn, sốt cao, đờ đẫn, hôn mê đặc biệt có hiện tượng viêm dịch hoàn, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh dịch kém, lợn khỏi bệnh lâu hồi phục khả năng sinh sản. Phần lớn đực giống nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng nhưng tinh dịch có virus.
Điều này gây khó khăn trong việc kiểm soát dịch bệnh tại các trại lớn. - Đối với lợn con theo mẹ: thể trọng gầy yếu, tụt đường huyết do không bú được, mắt có dử màu nâu, lợn tiêu chảy, chân yếu, đi run rẩy, dễ mắc bệnh kế phát và tỷ lệ chết cao. Tuy nhiên những dấu hiệu lâm sàng trên không hoàn toàn là đặc trưng cho bệnh PRRS, mà còn xuất hiện ở các bệnh lây nhiễm do các tác nhân khác gây nên. Điều này dễ gây nhầm lẫn trong chẩn đoán bệnh nếu chỉ dựa vào các dấu hiệu lâm sàng.
Bệnh tích Mổ khám lợn chết do PRRSV ở mọi lứa tuổi thường thấy hiện tượng viêm kẽ phổi, thùy phổi viêm không đối xứng, đặc chắc trên các thùy phổi. Thùy bị bệnh có màu xám đỏ, có mủ và nhục hóa. Trên mặt cắt thùy phổi viêm lồi ra, khô. Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh.
Về mặt phôi thai học thường thấy dịch thẩm xuất và phế nang chứa đầy dịch viêm, đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ đa nhân. Có sự thâm nhiễm các tế bào phế nang loại II (Pneumocyte) làm cho phế nang nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào phân hủy trong phế nang. Một bệnh tích đặc trưng nữa là hạch lympho sưng to (gấp 2-10 lần so với bình thường). Lúc đầu hạch sưng to, thủy thũng, màu nâu vàng nhạt sau hạch cứng chắc, có màu trắng hoặc nâu sáng.
- Ở lợn nái sảy thai: âm môn sưng tụ huyết, niêm mạc tử cung và âm đạo sưng thũng, xuất huyết và chảy dịch, viêm phổi có những đám tụ huyết, trong phế quản có nhiều dịch và bọt khí. Một số trường hợp có viêm bàng quang xuất huyết. - Ở lợn con theo mẹ: viêm đường hô hấp cấp, phế quản và phổi sưng có màu vàng hoặc tụ huyết đỏ, hạch phổi và hạch hầu sưng màu vàng, khi kế phát Streptococcus suis thấy màng não sung huyết do viêm não. - Ở lợn con sau cai sữa và lợn thịt : biểu hiện viêm đường hô hấp đặc trưng : phổi viêm thủy thũng từng đám, có màu vàng do nhục hóa hoặc đỏ do xuất huyết, phế quản chứa dịch nhày và bọt khí (Nguyễn Bá Hiên và cs.
Ngoài ra nếu kế phát các bệnh khác, sẽ thấy thêm các bệnh tích đặc trưng của từng loại bệnh. Chẩn đoán lâm sàng Theo Benfiled (1999), khi có dấu hiệu rối loạn hô hấp trên cả đàn ở mọi lứa tuổi, lợn nái giảm khả năng sinh sản và năng suất đàn giảm hơn bình thường thì có thể nghi bệnh do virus PRRS. Cụ thể tỷ lệ chết lúc sinh >20%, tỷ lệ sảy thai, thai chết lưu >8%, tỷ lệ lợn con chết trước khi cai sữa >26%, tỷ lệ lợn con chết trong tuần đầu tiên vượt quá 25%. Ngoài ra lợn con theo mẹ, lợn cai sữa có dấu hiệu của hội chứng viêm phế quản phổi, suy hô hấp và một số lợn có biểu hiện tái xanh cũng là những dấu hiệu đầu của bệnh PRRS (Nguyễn Bá Hiên và cs.
Tuy nhiên cần tiến hành các chẩn đoán phi lâm sàng để xác định chính xác tác nhân gây bệnh. Chẩn đoán phi lâm sàng Trong phòng thí nghiệm có thể dùng phản ứng IPMA (Immuno Peroxidase Monolayer Assay) để phát hiện kháng thể 1-2 tuần sau khi nhiễm; phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA) kiểm tra kháng thể IgM trong 5-28 ngày sau khi nhiễm và kiểm tra kháng thể IgG trong 7-14 ngày sau khi nhiễm; phản ứng ELISA phát hiện kháng thể trong vòng 3 tuần sau khi tiếp xúc virus. Ngoài ra, phương pháp PCR phân tích mẫu máu (được lấy trong giai đoạn đầu của pha cấp tính) để xác định sự có mặt của virus cũng là một phương pháp tương đối nhạy và chính xác… 2. Phát hiện gen của virus PRRS Kỹ thuật PCR được phát triển để phát hiện RNA của virus PRRS trong các mẫu bệnh phẩm.
Kỹ thuật này không những có độ đặc hiệu và độ nhạy cao mà thời gian cần thiết thực hiện thí nghiệm cũng ngắn hơn so với phương pháp nuôi cấy tế bào vì thế nó được sử dụng khá rộng rãi trong chẩn đoán phát hiện virus. Nhiều dạng khác nhau của PCR được sử dụng, hầu hết chúng được sử dụng để phát hiện vùng ORFs 7, ORFs 6 hay ORFs 1b của virus PRRS. Để tăng độ nhạy trong chẩn đoán PRRSV, nhất là để phân biệt 2 dòng virus thì Han-Kook Chung et al. Mẫu là huyết thanh, tinh dịch, dịch xoang, bệnh phẩm…với các cặp mồi khác nhau đều cho phép phát hiện virus.
Kỹ thuật này đòi hỏi kỹ thuật viên phải có kỹ thuật cao từ các quy trình thu nhận, trữ mẫu, tách chiết và tinh sạch… RNA phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt. Do đó, kết quả của phản ứng PCR giữa các phòng thí nghiệm khác nhau có thể sẽ khác nhau. Phân lập virus trên môi trường tế bào Trong phân lập virus, cũng như các phương pháp chẩn đoán khác, khâu đầu tiên và quan trọng nhất đó là cách lấy mẫu và bảo quản mẫu. Mẫu xét nghiệm có thể là huyết thanh, dịch tràn ổ bụng, dịch phế nang, dịch mẫu mô (hạch, phổi, lách).
Trong đó, dịch phế nang và huyết thanh được đánh giá là mẫu tốt nhất cho việc phân lập virus khi dịch bùng phát. PRRSV tồn tại trong huyết thanh lâu hơn trong mô, nhưng với thú già thì ngược lại.