CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ DÂN DOANH TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Bản chất và vai trò của chính sách thu hút vốn đầu tư dân doanh trên địa bàn cấp tỉnh 1. Khái niệm và đặc điểm của vốn đầu tư dân doanh * Vốn đầu tư Vốn là yếu tố quan trọng, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, vai trò của vốn càng được phát huy tối đa.
Cho đến nay, đã có rất nhiều khái niệm về vốn được nhìn nhận dưới góc độ phân loại thành vốn cố định, vốn lưu động, vốn đầu tư tài chính. Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa bằng văn bản chính thức của Nhà nước về vốn. Trong cuốn Từ điển kinh tế hiện đại có giải thích: "Capital - tư bản/vốn: một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau.
Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra. Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi trong lý thuyết kinh tế”. Vốn là biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư. Các nguồn lực có thể là của cải vật chất, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, là các tài sản vật chất khác.
Sachs - Larrain (1993) định nghĩa tổng quát về đầu tư như sau: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế". Sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài - theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình XDCB, máy móc thiết bị.hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản. Xem xét trên góc độ đầu tư - Luan van 13 thì đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có. Như vậy, Vốn đầu tư là nguồn lực tích luỹ được của xã hội, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, tiết kiệm của dân, huy động từ nước ngoài được biểu hiện dưới các dạng tiền tệ các loại hoặc hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình và hàng hoá đặc biệt khác.
Nguồn vốn đầu tư là các kênh tập trung và phân phối cho vốn đầu tư phát triển đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và xã hội. Xét về bản chất vốn đầu tư được hình thành từ phần tiết kiệm hay tích luỹ của đất nước hay của doanh nghiệp mà có thể huy động vào quá trình tái sản xuất. Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc”, Adam Smith, một đại diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã cho rằng: “tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm, nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng thêm.
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền kinh tế xã hội, về các vấn đề trực tiếp liên quan đến tích luỹ, Các Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c+v+m), trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra. Khi đó điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng nền sản xuất xã hội là (v+m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất (c) của khu vực II. tức là : (v+m)I >cII hay nói cách khác: (c+v+m)I >cII+cI Điều này có nghĩa rằng tư liệu sản xuất được tạo ra bởi khu vực I không chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế mà còn dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo.
Luan van 14 Đối với khu vực II yêu cầu phải đảm bảo: (c+v+m)II <(v+m)I + (v+m)II Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất ta của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn, nền kinh tế mới có thể dành một phần thu nhập cho tái sản xuất mở rộng , quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng. Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô vốn đầu tư thì một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực, mặt khác phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêu dùng trong sinh hoạt ở cả hai khu vực. Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C.Mác, con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm cả ở trong sản xuất và tiêu dùng.
Hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế. * Nguồn vốn đầu tư Xét trên phương diện một quốc gia thì vốn đầu tư có thể được thu hút từ các nguồn sau: Nguồn vốn Nhà nước, nguồn vốn từ khu vực tư nhân, thị trường vốn, nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA, nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng thương mại quốc tế, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thị trường vốn quốc tế. Nếu xét trên phương diện vĩ mô nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm 2 loại chính: Nguồn từ tiết kiệm trong nước và nguồn vốn từ nước ngoài. Nguồn nước ngoài đưa vào dưới dạng đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ, viện trợ, kiều hối.
Xét đến thu hút vốn đầu tư trên phương diện một tỉnh, thành phố, do vậy chỉ quan tâm đến các nguồn vốn từ khu vực tư nhân, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư này gọi chung là nguồn vốn dân doanh. * Vốn đầu tư dân doanh Theo cấp độ khái quát, được xem xét trên góc độ khu vực nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh, Vốn đầu tư dân doanh được thu thút từ khư vực Kinh tế tư Luan van 15 nhân (KTTN). Đây là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư.
KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong đó các chủ thể của nó được tiến hành sản xuất, kinh doanh một cách tự chủ vì lợi ích của bản thân cá nhân, và thông qua đó thực hiện lợi ích xã hội. Cho đến nay, KTTN được coi là khu vực cung cấp khối lượng sản phẩm lớn nhất cho xã hội. Sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó có KTTN là vấn đề tất yếu bắt nguồn từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là khu vực kinh tế rất nhạy cảm với những đặc trưng của kinh tế thị trường, có tiềm lực lớn trong việc nâng cao năng lực nội sinh của quốc gia cũng như chính quyền địa phương, tăng trưởng kinh tế.
Thu hút vốn đầu tư dân doanh là vấn đề chiến lược lâu dài, là động lực quan trọng để phát triển nền kinh tế địa phương, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Nguồn Vốn đầu tư dân doanh bao gồm: nguồn vốn từ khu vực tư nhân trong nước, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. - Nguồn vốn của khu vực tư nhân trong nước: Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để.
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹ tryuền thống. Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt … nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô của các nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp).
Tập quán tiêu dùng của dân cư. Luan van 16 Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội. Về mặt lý thuyết thì nguồn đầu tư của khu vực doanh nghiệp (Ip) được hình thành từ tiết kiệm của khu vực phi tài chính và của khu vực hộ gia đình (Sp) và nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Fp): Ip = Sp + Fp (1) Sp = Yp - Cp (2) Trong đó: Yp là thu nhập khả dụng Cp là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình. Về lý thuyết nguồn tiết kiệm trong khu vực phi tài chính và khu vực hộ gia đình là nguồn chủ yếu trong nền kinh tế.
Tuy nhiên ở Việt Nam lượng tiết kiệm (trao đổi) không qua hệ thống ngân hàng mà được cất giữ dưới dạng tiền mặt, vàng, USD khá nhiều. Nguồn vốn từ doanh nghiệp tư nhân: Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp tư nhân có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích lũy truyền thống.