CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH THI ĐUA, KHEN THƯỞNG CHO CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về chính sách thi đua, khen thưởng 1. Bản chất, vai trò của thi đua, khen thưởng trong đời sống xã hội 1. Khái niệm, bản chất của thi đua Cách đây trên 170 năm, C.Ăngghen là những người đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về bản chất, nội dung thi đua.
Thi đua là một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, là quy luật phát triển tất yếu của quá trình hợp tác lao động của con người, ở đâu có hợp tác lao động thì ở đó nảy sinh ra thi đua.Mác: “Bản thân sự tiếp xúc xã hội trong quan hệ giữa con người và con người đã làm nảy sinh thi đua, một sự thức tỉnh đặc thù nghị lực sống của con người nhằm nâng cao năng suất lao động” [10]. Ở đây, mọi người tự nguyện tham gia thi đua, không có sự bắt buộc. Từ đó, thi đua có thể quan niệm là “mọi người tự nguyện cùng nhau đem hết tài năng, sức lực nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong các hoạt động hay công việc chung của cộng đồng xã hội”. Trên cơ sở những quan điểm nền tảng của Mác và Ăng ghen về thi đua, Lênin đã nghiên cứu và đưa ra những quan điểm, tư tưởng cơ bản về thi đua xã hội chủ nghĩa, đó là một hình thức hợp tác giữa người với người, góp phần phát triển năng lực của con người, phát triển của tính chủ động sáng tạo của nhân dân lao động và của chế độ dân chủ trong xã hội mới.
Thi đua xã hội chủ nghĩa ra đời trên cơ sở lao động tập thể, trên cơ sở những quan hệ tương trợ và hợp tác, đoàn kết theo tinh thần đồng chí nhằm giúp đỡ những người lạc hậu dần dần tiến lên ngang những người tiên tiến, nâng cao trình độ văn hóa và trình độ sinh hoạt tinh thần của mọi người. Vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin về thi đua vào phong trào cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên một tầm tư tưởng, coi thi đua là một phẩm chất đạo đức, thể 9 hiện lòng yêu nước của người Việt Nam. Người nói: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất” [23, tr. Đây chính là quan niệm mới thể hiện sự sáng tạo độc đáo trong tư tưởng của Hồ Chí Minh.
Người cũng chỉ rõ: “Khi tinh thần yêu nước được khơi dậy, và nhân dân ta vô luận ở địa vị nào làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc thi đua yêu nước” [22, tr. Trong giai đoạn đất nước ta phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thi đua vẫn cần được phát huy trong hoạt động kinh tế và các hoạt động khác. Bản chất của phong trào thi đua yêu nước không chỉ là tạo ra tiềm lực vật chất, tinh thần mà còn có tác dụng cải tạo người lao động, cải tạo con người, giúp con người loại bỏ tư tưởng bảo thủ, lạc hậu. Thông qua thi đua để giáo dục động viên mọi người, nâng cao lòng yêu nước, ý thức giác ngộ giai cấp, trách nhiệm công dân và tính cộng đồng xã hội.
Vai trò của công tác thi đua qua những chặng đường lịch sử đã được khẳng định, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, trong cơ chế thị trường Nhà nước đã có Luật Thi đua, khen thưởng ngày 16/11/2003, sửa đổi bổ sung năm 2005 ghi rõ “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ cách hiểu trên có thể quan niệm: Thi đua là hoạt động xã hội có ý thức, có tổ chức, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn với sự tham gia của các cá nhân, tập thể, mọi thành phần, lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo trên tinh thần tự nguyện, tự giác nhằm phấn đấu đạt được thành tích cao nhất trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khái niệm bản chất của khen thưởng Trong bất kỳ thời đại nào, việc thưởng, phạt cũng là một trong những định hướng chuẩn mực xã hội, nhằm nêu cao và khẳng định những hình mẫu lý tưởng. Mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau, việc thưởng phạt cũng không giống nhau.
Ở xã hội chưa có giai cấp, việc thưởng, phạt căn cứ vào phán quyết của cộng đồng, trong thời kỳ này việc khen thưởng chủ yếu được biểu hiện thông qua sự 10 công nhận và tôn vinh của cộng đồng, thể hiện sự kính trọng của cộng đồng đối với cá nhân và uy tín của cá nhân trong việc tham gia giải quyết những công việc của cộng đồng, từ đó trở thành hình mẫu tiêu chuẩn cho lý tưởng sống, chuẩn mực nhân cách của cộng đồng. Khi nhà nước hình thành việc khen thưởng chủ yếu do nhà nước ghi nhận đối với các tập thể, cá nhân đáp ứng được những tiêu chí lập được thành tích, công trạng theo những quy định do nhà nước lập ra. Khen thưởng trở thành nhu cầu, một phạm trù tất yếu cho sự tồn tại và phát triển bền vững của cộng đồng và xã hội loài người Nhận thức được điều đó, Đảng và Bác Hồ luôn quan tâm, chú ý khen thưởng, nêu gương người tốt việc tốt trong các ngành nghề, từ công việc lao động phức tạp đến công việc thủ công đơn giản, từ bộ phận chủ chốt đến bộ phận phụ trợ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị “Có công thì thưởng, có lỗi thì phạt, khen thưởng phải có tác dụng giáo dục, động viên, nêu gương.
Khen thưởng còn là một chính sách của nhà nước để ghi công, tôn vinh các cá nhân, tập thể có thành tích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, khi đất nước bước sang thời kỳ mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh những thuận lợi to lớn, chúng ta cũng đang đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước trong mỗi con người vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh. Trong bối cảnh đó khen thưởng vẫn giữ vai trò quan trọng, tạo động lực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích động viên mọi tầng lớp nhân dân hăng hái lập thành tích trong lao động sản xuất và công tác. Trên cơ sở lý luận đó Luật Thi đua, khen thưởng của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 26/11/2003 Khoản 2, Điều 3 đã nêu rõ: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [29].
Vai trò của Nhà nước trong thi đua, khen thưởng Thi đua, khen thưởng là lĩnh vực hoạt động xã hội, đó là hoạt động rộng lớn của hàng triệu quần chúng nhân dân tham gia thông qua các phong trào thi đua. Vì 11 vậy cần phải có sự quản lý của nhà nước đối với thi đua, khen thưởng. Vai trò của nhà nước trong thi đua, khen thưởng được thể hiện trên các nội dung: Thứ nhất, thi đua, khen thưởng là một công cụ để quản lý nhà nước. Mọi công việc suy cho cùng đều do nhân dân và các tổ chức cơ sở thực hiện.
Do đó ai làm tốt, tập thể nào làm tốt phải biết và khen ngợi, phải tuyên dương để học tập. Có như vậy những việc tốt, việc tích cực mới nhiều lên, mới phát triển lấn át và đẩy lùi cái xấu, tiêu cực. Thứ hai, thi đua, khen thưởng là hoạt động diễn ra trong mọi ngành, lĩnh vực với quy mô đa dạng và dưới hình thức phong phú do đó rất cần có sự định hướng và hoạch định của Nhà nước về việc xây dựng kế hoạch thi đua, khen thưởng trong từng giai đoạn cụ thể. Nhà nước định ra các tiêu chuẩn, quy định rõ ràng, cụ thể cho từng danh hiệu thi đua hạn chế việc thưởng phạt theo ý chí của cá nhân.
Nhà nước phải định hướng công tác thi đua, khen thưởng phù hợp với trình độ phát triển xã hội nhằm phát huy hết ý nghĩa, lợi ích và giá trị của hoạt động, tạo nên phong trào thi đua công bằng, khách quan, cơ chế khen thưởng thông suốt, rõ ràng. Thứ ba, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng để đối tượng khen thưởng hiểu rõ quy định mà thực hiện. Công tác thi đua, khen thưởng cần có sự phối hợp chặt chẽ nhiều bên tham gia, vì vậy cần có nhà nước đứng ra hướng dẫn, điều hòa hoạt động cho các cấp thuộc thẩm quyền để đảm bảo tính thống nhất, kịp thời trong toàn xã hội trên cơ chế đảm bảo yếu tố đặc thù của từng địa phương khi triển khai hoạt động. Thứ tư, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm khắc phục những hạn chế của công tác thi đua, khen thưởng bằng quyền lực Nhà nước.
Nếu không có sự quản lý chặt chẽ công tác thi đua rất dễ bị biến chất thành cạnh tranh, thậm chí là tha hoá làm mất đi bản chất tốt đẹp của phong trào thi đua. Còn công tác quản lý khen thưởng bị buông lỏng sẽ dễ dẫn đến hàng loạt các hành động tiêu cực như mua danh hiệu, chạy thủ tục, lạm dụng ngân sách khen thưởng để tư lợi, tranh thủ lợi ích nhóm, bất bình đẳng đối với một số đối tượng khác. Nhà nước cần can thiệp kịp thời phòng ngừa, chấn chỉnh và xử lý các sai phạm đó, đề xuất biện pháp khắc phục những bất hợp lý của thi đua, khen thưởng trong thực tiễn hoạt động. 12 Thứ năm, lịch sử cho thấy các nhà nước trước đây trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều thực hiện vai trò thưởng phạt, đó là ban thưởng những người có công và trách phạt những người có tội.
Khái niệm, vai trò của chính sách thi đua, khen thưởng 1. Khái niệm chính sách thi đua, khen thưởng Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong sách báo, tài liệu, trên các phương tiện truyền thông và trong đời sống xã hội. Có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.