CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây Bèo Ông 1. Đặc điểm thực vật Bèo Ông là một giống lúa nếp bản địa, có tên khoa học chung là Oryza sativa L. Đặc điểm thực vật: Cây cỏ mọc hàng năm, cao 130 đến 140 cm.
Thân rạ, rỗng ở các gióng, đặc ở các mấu màu tím. Lá mọc so le; phiến lá dài 68 đến 75 cm; gân lá song song; có bẹ lá và lưỡi nhỏ màu tím nhạt; không có cuống lá. Cụm hoa bông gồm nhiều bông nhỏ, mỗi bông nhỏ chỉ có một hoa. Hoa có ba cấp mày: 2 mày xếp đối diện ở gốc mỗi bông nhỏ tương ứng với hai lá bắc, dài 1,6 mm; 2 mày nhỏ (là 2 vỏ trấu) có hai gân ở gốc mỗi hoa tương ứng với đài hoa, 2 mày cực nhỏ phía trong cùng là hai phiến mỏng màu trắng tương ứng với cánh hoa dài 0,9 mm.
Hoa lưỡng tính. Bộ nhị 6; chỉ nhị dài 0,7 mm, mành dính vào giữa trung đới cong xuống lay động theo gió; bao phấn dài 2,1 mm. Bộ nhụy 2 lá noãn dính liền nhau thành bầu trên, đường kính 0,3 mm, 1 ô, chứa 1 noãn; có 2 vòi nhụy; núm nhụy nhiều lông màu tím. Quả thóc, dài 0,8 mm, rộng 3 mm, có nhiều râu ngắn màu đỏ tía.
Hạt có vỏ màu tím đen, có nội nhũ bột [5]. Bèo Ông có đặc điểm khác biệt so với các giống lúa khác là: chiều dài thân rạ lớn; lưỡi nhỏ màu tím nhạt; mắt lóng màu tím; vòi nhụy có lông đỏ tía; hạt có râu rất ngắn màu đỏ tía; hạt gạo có màu tím đen [5]. Bông lúa Bèo ông củ trước khi thu hoạch (bên trái) và Mẫu gạo Bèo Ông xát 1 lần (bên phải) 2 1. Công dụng của cây Bèo ông Một đề tài điều tra đã thống kê được 07 công dụng chính có lợi cho sức khỏe của Bèo Ông mà người dân địa phương biết đến và sử dụng, phù hợp với nhiều đối tượng bao gồm từ trẻ em cho đến người già, từ phụ nữ cho đến nam giới như Bảng 1.
Một trong những đặc sản của đồng bào Dao đỏ tại Sa Pa, Lào Cai là “đìa nhặn” - phối hợp Bèo Ông với rau ăn làm thuốc giúp tăng sinh lực cho người ốm yếu, mệt mỏi, mất máu và hồi phục sức khỏe, lợi sữa cho phụ nữ sau sinh. Công dụng tốt cho sức khỏe của Bèo Ông [5] STT Công dụng Hệ số tin cậy (%) 1 Tăng cường sức khỏe 91,7 2 Phụ nữ sau sinh 88,3 3 Đau bụng 75 4 Tăng cường chức năng sinh dục 68,3 5 Bổ máu 66,7 6 Giải khát 50 7 Chữa giun 40 1. Một số vấn đề thị trường và hoạt động trồng trọt cây Bèo Ông tại địa phương Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2023 trên địa bàn xã Tả Phìn diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi nên các loại cây trồng đều sinh trưởng và phát triển tốt. Diện tích gieo trồng đạt 300/300 ha bằng 100% so với cùng kỳ, đạt 100% kế hoạch được giao.
Sản lượng cây lương thực đạt 1.436,8 tấn, bằng 101,2% so với cùng kỳ, đạt 100% so với kế hoạch. Trong đó, cây lúa có diện tích gieo cấy năm 2023 là 190/190ha, bằng 100% kế hoạch và 100% cùng kỳ; năng suất đạt 49,6/49,6 tạ/ha bằng 100% kế hoạch, 100% cùng kỳ; sản lượng đạt 942/941,8 tấn, đạt 100,8% so với kế hoạch và 100,8% so với cùng kỳ. Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, diện tích các loại cây trồng cơ bản ổn định, nhất là các loại cây trồng có thế mạnh của xã như dược liệu, rau hoa ứng dụng công nghệ cao,. [8] Bèo Ông là một giống lúa truyền thống còn được lưu giữ của đồng bào Dao đỏ tại xã Tả Phìn, Sa Pa, Lào Cai.
Do điều kiện khí hậu đặc biệt, ánh sáng ít nên người dân chỉ trồng lúa một vụ, hơn nữa thời gian sinh trưởng kéo dài hơn so với vùng thấp, khoảng 3 4-5 tháng thu hoạch một lần. Trong những năm gần đây, người dân có xu hướng nhập các giống lúa cao sản thay thế nên Bèo Ông không còn được trồng phổ biến. Từ năm 2023, công ty cổ phần Kinh doanh các sản phẩm bản địa Sapa (Sapanapro) đã và đang trồng khôi phục giống lúa “Bèo Ông” cùng ba hộ dân có diện tích khoảng 01 ha, sản lượng đã thu được 2 tấn/vụ. Về giá trị kinh tế, Bèo Ông có giá trị khá cao do sản lượng thấp, khoảng 40.
Bèo Ông được người Dao đỏ ở Sa Pa trồng trọt và thu hoạch vào mùa vụ Thu Hè mỗi năm. Sau đó, lúa được xay xát thành gạo và thu mua bởi các thương lái. Còn các phụ phẩm trong quá trình xay xát như cám gạo sẽ bị bỏ đi hay làm thức ăn chăn nuôi mà không được thương mại hóa, rất lãng phí. Trong khi thị trường cám gạo gần đây giao dịch ảm đạm do nhiều bên thương mại và xuất khẩu cám gạo ngưng mua.
Giá cả không có nhiều biến động, với mức giá cám khô khoảng 7.250VNĐ/kg, cám ướt ở quanh mức 7.300VNĐ/kg tại kho. Nguồn cung cám mới ra thị trường cũng khá hạn chế khi nhiều nhà máy xay xát đang ngừng hoạt động hoặc hoạt động yếu. Các nhà máy xay xát chỉ đang chào ra cám tồn kho do lo ngại tình hình giao dịch khó khăn dẫn tới cám giảm chất lượng khi lưu kho lâu. Cám gạo Bèo ông khác với cám gạo thông thường ở chỗ có màu sắc cám tím thẫm và có mùi thơm đặc biệt.
Chưa có nghiên cứu nào về hàm lượng và thành phần dầu của cám gạo Bèo Ông. Thị trường Sa Pa đang có nhiều ưu thế khi được quan tâm và chú trọng phát triển kinh tế, cải thiện cơ sở hạ tầng, hấp dẫn nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Bèo Ông cũng là một đặc sản gắn liền với văn hóa địa phương - văn hóa cộng đồng người Dao đỏ hứa hẹn sẽ thu hút sự quan tâm của nhiều người, từ đó tiếp cận nhanh với nhu cầu sử dụng trong nước và lan tỏa đến quốc tế. Do đó, Bèo Ông nói chung và cám gạo Bèo Ông nói riêng rất có tiềm năng để nghiên cứu và phát triển thành các dạng sản phẩm chăm sóc sức khỏe từ những giá trị của nó.
Tổng quan về cám gạo và dầu cám gạo 1. Thành phần hóa học của cám gạo, dầu cám gạo Cám gạo là hỗn hợp của cám (lớp vỏ ngoài màu nâu của hạt thóc) và mầm, được tạo ra như một sản phẩm phụ thu được trong quá trình xay xát từ hạt thóc. Quá trình xay xát lúa gạo thu được gạo (nội nhũ) là thành phần chính và phụ phẩm gồm vỏ trấu, cám, mầm [48]. Sơ đồ cấu trúc của hạt thóc Trong cám gạo có chứa khoảng 50% tổng carbohydrate, 20% chất béo, 15% protein, 15% chất xơ.
Ngoài ra, cám gạo còn chứa lượng đáng kể các vitamin nhóm B (B1, B2, B3 và B6), vitamin E, các nguyên tố khoáng (Fe, P, K, Mg, Ca,.) và các nguyên tố vi lượng khác [29], [41], [44]. Một số chất có hoạt tính sinh học như γ- oryzanol, acid ferulic, tocotrienols, tocopherols, tricin, β-sitosterol, acid phytic cũng tồn tại trong cám gạo. Trong nhiều loại cám gạo khác nhau, đặc biệt là cám gạo tím còn có thể tìm thấy anthocyanin - một trong những phân lớp của flavonoid với hàm lượng cao nhất [31]. Các hợp chất anthocyanin có hoạt tính trong cám gạo là monome, dime và polyme anthocyanin; apigenin; cyanidin glucoside; epicatechin; hesperetin; luteolin;.
[19] Cám gạo chứa phần lớn dầu trong nhân. Hàm lượng dầu trong cám gạo sạch khoảng 15-20%. Ngoài ra, trong cám gạo còn có một số yếu tố kháng dinh dưỡng, điển hình như lipase. Ở mỗi lần xay xát, một số loại lipase tiếp xúc với dầu cám gạo dẫn đến sự thủy phân dầu nhanh chóng thành acid béo tự do (FFA).
Sự gia tăng đáng kể acid béo tự do (FFA) xảy ra trong vòng vài giờ và đạt khoảng 7-8% trong vòng 24 giờ, cám gạo sẽ bị biến đổi rất lớn về chất lượng. Sau đó có thể tăng khoảng 56% mỗi ngày làm ảnh hưởng đến thời hạn và độ ổn định của cám gạo [41]. Đây là lý do vì sao cám gạo ở nước ta vẫn được coi là phụ phẩm, dùng làm thức ăn gia súc, không có giá trị cao. Enzym này có hoạt tính lên tới 400C, hoạt tính giảm mạnh xuống 65% ở 600C và sau đó giảm dần [22].
Để tránh thất thoát những thành phần dinh dưỡng có giá trị, cám gạo cần được xử lý ổn định bằng cách bất hoạt enzym lipase càng sớm càng tốt. Quá trình ổn định cám 5 gạo có thể áp dụng nhiều kỹ thuật khác nhau như xử lý nhiệt [30], làm nóng bằng vi sóng, nấu ép đùn [47], gia nhiệt bằng Ohmic [16],. Các kỹ thuật khác nhau để ổn định cám gạo STT Kỹ thuật ổn định Điều kiện 1 Sấy bằng khí nóng 1200C trong 30 phút 2 Hấp 1000C trong 30 phút 3 Điện lạnh 20C 470C (tối đa) 7 giờ/ngày, 4 Phơi nắng trong 2 ngày 5 Sấy tầng sôi 840C trong 1 giờ Ổn định hóa học: 6 1000 ppm Phun dung dịch HCl 7 Sưởi ấm bằng lò vi sóng 2450MHz trong 2 phút 8 Hồng ngoại 700W trong 30 phút 20-40% độ ẩm, 9 Gia nhiệt bằng Ohmic điện áp 44-72V/cm Trong các phương pháp trên, sấy bằng khí nóng là phương pháp phổ biến nhất để ổn định cám gạo. Nhiệt độ cao trên 1200C làm biến tính enzyme chịu trách nhiệm phân hủy lipid trong RBO mà không làm mất đi giá trị dinh dưỡng của cám gạo.
Nhiệt độ được sử dụng để ổn định dao động từ 100-1400C [36]. Thành phần hóa học của dầu cám gạo chứa các acid béo không no (acid oleic, acid linoleic, acid linolenic), acid béo no (acid palmitic, acid stearic), các chất không xà phòng hóa (γ-oryzanol, vitamin E, squalen, tocopherol, tocotrienol và các dẫn chất). Hàm lượng của một số thành phần được nêu trong bảng 1. Hàm lượng một số thành phần trong dầu cám gạo Thành phần Hàm lượng (%kl/kl) Acid béo không no Acid oleic 38,4 Acid linoleic 34,4 Acid linolenic 2,2 6 Thành phần Hàm lượng (%kl/kl) Acid béo bão hòa Acid palmitic 21,5 Acid stearic 2,9 Thành phần không xà phòng hóa Tocopherols 81,3 x10-3 γ-oryzanol 1,6 Squalen 320 x10-3 1.
Công dụng Phần lớn cám gạo nước ta vẫn đang được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, cám gạo là nguồn cung cấp nhiều thành phần dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe con người như carbohydrat, protein, vitamin B và khoáng chất giàu chất xơ. Trong công nghiệp dược phẩm, cám gạo có nhiều đặc tính độc đáo, giá trị dược liệu cao và ứng dụng phòng ngừa - chữa bệnh.