CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Họ Đậu (Fabaceae) là một họ thực vật cây thảo, lá kép lông chim lẻ, luôn luôn có lá kèm. Hiện nay trên thế giới có khoảng 730 chi và 19. Ước tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi.
Việt Nam có khoảng 90 chi như Abrus, Apios, Callerya, Flemingia, Vicia, Cassia, … với trên 450 loài [27]. Mô tả thực vật 1. Đặc điểm chung về hình thái của họ Đậu (Fabaceae) a. Bộ rễ Nhìn chung bộ rễ của cây họ Đậu có nốt sần, có khả năng cố định nitơ trong không khí.
Hình dạng kích thước các nốt sần khác nhau. Tùy theo từng loại cây và đặc biệt có nhiều trong các loài cây phân họ Đậu, phân họ Trinh nữ, riêng phân họ Vang nốt sần rễ chỉ chiếm khoảng 30%. Nhờ những nốt sần này mà cây họ Đậu có thể phát triển tốt ngay trên các loại đất khô cằn, đá vôi, cát, sỏi. Vì thế được người ta sử dụng nhiều trong cải tạo đất trồng.
Thân Thân cây họ Đậu rất đa dạng, thường có thân cây gỗ (Lim vàng, Bồ kết tây), thân bụi (Keo dậu,.…), cây leo (Cam thảo, Đậu biếc, Đậu rồng,. Cây cam thảo (Đậu xanh, Đậu tương,. Trong điều kiện thuận lợi, dinh dưỡng tốt, cây họ Đậu có xu hướng phân nhiều cành, sinh trưởng của cành, nhánh thường vượt cả thân chính tạo nên tán rộng. Lá Lá của cây họ Đậu phần lớn là mọc cách hay mọc đối, thường là lá kép lông chim (hay đôi khi chân vịt) hoặc là lá đơn thứ sinh (do tiêu giảm một số lá) thường có lá kèm.
Tuy nhiên cũng tùy theo phân họ mà có đặc điểm của các loại lá riêng như: - Phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) lá thường là lá kép lông chim hai lần, lá chét nhỏ, lá kèm mỏng hay biến thành gai lá thường rủ xuống khi bị kích thích (cây Xấu hổ). - Phân họ Vang (Caesalpinioideae) lá kép lông chim chẵn hay lẻ, số lá chét có thể nhiều hay ít, có khi giảm chỉ còn một đôi (Bauhinia). - Phân họ Đậu (Papilionoideae) thường mọc cách hay đối, cuốn lá chia làm 3 loại: + Lá ké lông chim (Sắn dây). + Lá kép ba lá chét (Đậu xanh, Sắn dây,.
+ Lá kép chân vịt (Rẻ quạt). Hoa Họ Đậu thường có cụm hoa hình bông, hình chum hay hình chùm, hoa lưỡng tính đều (Mimosoideae) hoặc không đều. Cánh tràng tự do hoặc hai cánh trước dính lại ở gốc, đôi khi cánh tràng không có hoặc tiêu giảm chỉ có một nhị thường, chỉ nhị tự do hoặc dính lại thành 1-2 bó, bầu trên 1 ô chứa 1 noãn hay nhiều noãn. Người ta chủ yếu dựa vào cơ quan sinh sản (hoa) để phân loại họ Đậu như sau: - Cây trong phân họ Trinh nữ đều có hoa lưỡng tính, hoa nhỏ gần như không đều, tụ thành khối hình cầu (Keo dậu, Trinh nữ, Bồ kết tây, …).
- Cây trong phân họ Vang một số có hoa lưỡng tính, hoa tạo thành chùm (Phượng vĩ, Muồng hoa vàng,. Luan van 6 - Cây trong phân họ Đậu có nhiều loài hoa thường có hình chum ở ngọn hay lẽ lá, không đều và lưỡng tính, có cánh cờ và cánh thìa rất rõ. Đặc điểm chung của chi Cassia Trước đây, chi Cassia L. thuộc phân họ Vang (Caesalpinioideae) họ Đậu (Fabaceae) là một chi rất lớn với khoảng 600 loài và rất đa dạng về mặt hình thái.
Muồng hoàng yến thuộc chi Cassia L. chi này có nhiều loài đặc hữu ở Việt Nam được trồng làm cảnh, lấy bóng mát. Một vài loài còn được ứng dụng trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh về khớp, nhuận trường, hạ sốt, làm thuốc trừ giun sán,.… Đặc điểm chung về thực vật là cây gỗ, mọc đơn độc, các nhị không bằng nhau, ba nhị lớn có chỉ nhị cong hình chữ S, các bao phấn mở bằng khe. Quả dài ra hình trụ, không tự tách lá, hạt không có núm.
Ở Việt Nam, chi Cassia L. hiện có 3 loài: Cassia grandis L. và Cassia fistula L. (Muồng hoa đào, Bồ cạp đồng) Cây thân gỗ cao 10-12m, thân có đường kính 42 -60cm, vỏ nhẵn, cành trải ra, rậm lá, cành non có gốc cạnh rõ rệt và có lông nâu.
Lá kép một lần lông chim chẵn 25 -30cm có 8-20 đôi la chét. Lá chét dài 3,5 -6,5cm rộng 1,5-2cm hình bầu dục, gốc và ngọn lá đều tròn, cuống l á chét 1-2mm, lá chét dày. Cụm hoa: chum, ngắn, dài 12 -15cm. Cánh hoa màu hồng.
Quả dài 40 - 60 cm, hình trụ, đường kính 3 - 4cm. Quả khi chín có vỏ màu nâu đen, có 3 gân nổi rõ chạy từ cuống đến n m quả. Quả có những ngăn vách ngang, chia làm nhiều ô, mỗi ô có một hạt dẹt, cơm quả mềm ngọt màu nâu đen khi chín, có mùi hắc [31]. Luan van 7 Hình 1.
Cassia grandis L Fl. Cochinch [33] Cây có nguồn gốc từ các nước châu Mỹ La tinh, sau này được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới: Philippine, Indonesia, …. Ở Việt Nam cây được trồng phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu long và một số tỉnh miền Bắc như Hải Hưng, Hà Tây, Hà Nội [2]. Cây được sử dụng trồng lấy bóng mát, theo kinh nghiệm dân gian loài này có cơm quả ngọt, chế rượu thuốc có màu nâu đỏ đẹp, có tác dụng kích thích tiêu hóa, chữa đau lưng, nhức xương.
Lá cây dùng để chữa bệnh hắc lào, lỡ ngứa [31]. (Muồng java, Bồ cạp java ) Cây có tán lá hình ô rộng, vỏ thân màu xám nâu, không nứt và nhiều lỗ bi, thịt vỏ màu hồng dày 6-8 mm. Cành non có lông, lá kép lông chim chẵn, cuống chung dài 10-15 cm, có lông, lá nhỏ 6-10 đôi hình bầu dục, đỉnh tù hay hơi nhọn. Cụm hoa lớn, nhiều hoa, dài 15 cm hoặc có thể hơn, cuống chung có lông, cánh đài bằng nhau, lưng có ít lông, cánh tràng hình bầu dục, đỉnh tù hay nhọn, màu hồng tươi, nhị 10 không bằng nhau.
Quả hình trụ, hơi có đốt, dài 35 cm hoặc hơn, đường kính quả 15-20mm, mang nhiều hạt trái xoan rộng có vỏ cứng, thịt quả có mùi hôi khó chịu. Mùa hoa tháng 7-11 tùy theo vùng, hoa mau tàn và sai hoa nên rất đẹp [32]. Luan van 8 Hình 1. Holdridge & Poveda [35] Là loài cây gỗ nhỡ, cao từ 10 đến 20 m, đường kính khoảng 60 cm.
Gỗ có màu vàng tươi, thuộc nhóm gỗ tạp, kém chịu mối mọt. Loài này có nguồn gốc từ rừng tự nhiên khu vực Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây phổ biến rộng rãi ở các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Tây Ninh, Đồng Nai,. Là loài cây ưa sáng, mọc nhanh, ưa đất sâu, dày, ẩm nên thường mọc tự nhiên ở ven bìa rừng, ven suối, chân núi.
Do cây có hoa đẹp, tán rộng, mọc nhanh, không cao quá và có rễ ngang, bám chắc được nên ở nước ta loài này được quan tâm chú ý để phát triển làm cây cảnh quan, cây đường phố [2]. (Muồng hoàng yến, Bồ cạp vàng) * Tên gọi - Tên khoa học: Cassia fistulosa L. - Tên tiếng Việt: Muồng hoàng hậu, Hoa lồng đèn, Bò cạp nước, Bò cạp vàng, Osaka, Mai dây, Cây xuân muộn, Mai nở muộn. * Phân loại khoa học - Theo phân loại khoa học, cây Muồng hoàng yến thuộc: - Giới: Planate - Bộ: Fabales Luan van 9 - Họ: Fabaceae - Phân họ: Caesalpinioideae - Chi: Cassia - Loài: C.
Fistulosa * Phân bố Loài muồng này có nguồn gốc từ miền nam châu Á, từ miền nam Pakistan kéo dài về phía đông qua Ấn Độ tới Đông Nam Á và về phía nam tới Sri Lanka. Muồng hoàng yến là loài cây trung tính phát triển tốt tại khu vực nhiều nắng và thoát nước tốt, không thích hợp với điều kiện khí hậu khô cằn hay giá lạnh, mặc dù nó chịu được hạn và mặn. Ở Việt Nam, Muồng hoàng yến mọc hoang dại trong các rừng thưa ở các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, nó cũng còn được trồng nhiều ở đô thị như Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn. * Đặc điểm thực vật Cây thân gỗ cao từ 10-20 m.
Đường kính thân cây khoảng 40 cm. Vỏ thân màu xám trắng, vỏ thịt màu hồng dày 6–8 mm thường được dùng làm thuốc nhuộm màu đỏ. Gỗ có giác lõi phân biệt, cứng, nặng có thể dùng trong xây dựng nhà cửa, đóng đồ gia dụng, nông cụ. Cành nhẵn, lá kép lông chim một lần chẵn, mọc cách, dài 15-60 cm với 3-8 cặp lá chét sớm rụng.
Lá chét mọc đối, hình bầu dục rộng đến bầu dục dài, dài 7 -21 cm rộng 4-9 cm, đầu nhọn, gốc hình nêm, rộng, nhẵn. Cụm hoa lớn, nhiều hoa nhưng thưa, cành hoa rủ xuống dài 20-40 cm, cuống chung nhẵn, dài 15-35 cm hoặc có thể hơn. Cánh hình bầu dục mặt ngoài phủ lông mượt. Mỗi hoa đường kính 4-7 cm với 5 cánh hoa màu vàng tươi có hình bầu dục rộng, gần bằng nhau có móng ngắn, nhị 10, bao phấn phủ lông tơ ngắn.
Bầu và vòi nhụy phủ lông tơ mượt. Quả dạng hình trụ, hơi có đốt, dài 20-60 cm hoặc hơn, đường kính quả 15–25 mm, mang nhiều hạt trái xoan rộng, khi khô có vỏ cứng, có thể dùng làm thuốc xổ, thịt quả có mùi hôi khó chịu. Mùa hoa vào tháng 5-7 (Bắc Luan van 10 cầu) hay tháng 11 (Nam bán cầu). Hoa nở rộ và sai hoa nên rất đẹp.
Các hạt có chứa chất độc [30]. Larsen (Liên Chiểu, Đà Nẵng 6/2016) * Giá trị sử dụng của cây Muồng hoàng yến Về y học Được trồng làm cảnh ở nhiều nước trên thế giới và cũng đã được y học ghi chép từ rất lâu trong dược điển Ấn Độ. Nó được gọi là “aragvadha” nghĩa là “tiêu diệt bệnh”. Tác dụng nhuận trường: Cơm quả được xem là loại thuốc nhuận tẩy hiệu quả và rất an toàn khi sử dụng cho trẻ em, người già.
Lấy khoảng 50 gam cơm quả ngâm trong nước và để qua đêm, đến sáng lọc lấy dịch quả và pha thêm 25 gam đường rồi uống trong ngày [18]. Thuốc tẩy xổ: Lấy khoảng 4 gam cơm quả rồi trộn với 4 gam đường hoặc 4 gam cơm quả me. Dùng liều cao 30-60 gam có tác dụng xổ mạnh, nhưng có thể gây đau bụng, nôn mửa và đầy trướng bụng, tốt hơn nên dùng chung với các dược liệu khác như lá phan tả diệp [18].