Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số vấn đề về chỉ số hình thái 1. Nghiên cứu các chỉ số hình thái trên thế giới Từ rất sớm, thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực. Sau này, vào thế kỷ XV - XVI, các nhà giải phẫu học kiêm họa sĩ như Leonard de Vinci, Mikenlangielo, Raphael… đã tìm hiểu chi tiết cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người trong những tác phẩm hội họa.
Các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống từ tương đối sớm [17]. Cho đến Rudolf Martin, người đã đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua hai tác phẩm là “Giáo trình về nhân trắc học" năm 1919 và "Kim chỉ nam đo đạc và xử lý thống kê" năm 1924, ông đã đưa ra những phương pháp và dụng cụ đo đạc kích thước của cơ thể mà đến nay vẫn được sử dụng [18]. Trong những năm 60 của thể kỷ XX có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và mang lại thành tựu to lớn đối với ngành khoa học này. Năm 1961, hai công trình nghiên cứu lớn là “Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý đến sự tăng trưởng về chiều cao cơ thể” và chứng minh rõ những yếu tố ảnh hưởng đó có thật của Nold và Volsuski; “Đề tài nghiên cứu thu thập số liệu và chứng minh tình trạng dinh dưỡng, bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt tới sự gia tăng của các kích thước cơ thể, đặc biệt là chiều cao và cân nặng” của Graef và Cone.
Một năm sau đó, vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P. Baskirov – “Nhân trắc học” năm 1962, ông đưa ra quy luật phát triển của cơ thể người dưới ảnh hưởng của điều kiện sống. Cùng năm đó, Baskirop đưa ra “Học thuyết về sự phát triển thể lực con người” [22]. Đến năm 1964, các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp được nhận xét toàn diện trong cuốn “Nhân trắc học” của Evan Dervael.
Ngoài ra, có một số công trình của Bunak và A. Và hoàn chỉnh hơn với các công trình của X. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Galperon, Tomiewicz, Tarasov, Tomner, M. Kết quả của các nghiên cứu đã chỉ rõ có sự liên quan giữa các yếu tố môi trường đến sự phát triển thể lực của con người qua các lứa tuổi khác nhau.
Một hướng khác, nghiên cứu cắt ngang đi sâu trong quá trình nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc [47]. Vào năm 1754, công trình đầu tiên trên thế giới của Christian Fridrich Jumpert cho thấy sự trưởng thành một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1-25 với phương pháp cắt ngang (cross-sectional study) [47]. Cũng trong khoảng thời gian này, Philibert Guéneau de Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc (longitudinal study) đầu tiên về chiều cao từ năm 1759 đến năm 1777 [theo 22]. Sau đó có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.
Bowditch ở Mỹ, Paul Godin ở Pháp [theo 22]. Những nghiên cứu này cho thấy có mối liên quan giữa các chỉ số hình thái với các yếu tố môi trường sống là tương đối chặt chẽ. Đến năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập, đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới [theo 22]. Năm 2007, WHO công bố chuẩn tăng trưởng của trẻ em học đường và người trưởng thành, đây là một cột mốc quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng các chỉ số hình thái để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con người [68].
Nghiên cứu các chỉ số hình thái ở Việt Nam Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chỉ số hình thái xuất hiện muộn hơn so với các nước trên thế giới. Nghiên cứu đầu tiên về nhân trắc ở Việt Nam được thực hiện vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em [theo 22]. Đến những năm 30 của thế kỷ XX, nhân trắc học bắt đầu được nghiên cứu tại Ban nhân trắc học thuộc Viện Viễn đông Bác cổ. Kết quả nghiên cứu đã được công bố trong công trình nghiên cứu của Viện giải phẫu học, Đại học Y khoa Đông Dương 1936 – 1944, tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương” của P.
Cuốn “Hình thái học Người và giải phẫu thẩm mỹ học” năm 1943 của P. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Huard và Đỗ Xuân Hợp là công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam [theo 22]. Từ năm 1975 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học được đẩy mạnh và chuyên môn hóa qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một số trường đại học và viện nghiên cứu, ngoài ra còn tổ chức các hội nghị về lĩnh vực này, trong đó có nhiều chương trình cấp Quốc gia và địa phương được thực hiện. Vào năm 1975, Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên “Hằng số sinh học người Việt Nam” với đầy đủ các thông số về hình thái người Việt Nam ở mọi lứa tuổi tại khu vực miền Bắc, đây thực sự là cơ sở tin cậy cho các nghiên cứu về người Việt Nam sau này [49].
Những năm 1975 và 1976, Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh đã tiến hành nghiên cứu tầm vóc của 2100 người lứa tuổi từ 16 đến 70 theo những kỹ thuật và phương pháp tiêu chuẩn trong nhân trắc học, các tác giả đã nhận định các biểu hiện của tuổi dậy thì và quy luật tăng trưởng ở nữ dậy thì sớm hơn ở nam giới [37], [38], [39]. Từ năm 1981 đến năm 1992, Thẩm Thị Hoàng Điệp đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi, với 31 chỉ tiêu được nghiên cứu, tác giả đã kết luận: chiều cao của học sinh phát triển mạnh nhất với nữ 11 - 12 tuổi và ở nam 13 - 15 tuổi, còn cân nặng phát triển mạnh nhất với nữ 13 tuổi và nam 15 tuổi [12]. Năm 1991, công trình “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do Võ Hưng chủ biên với các thông số được thực hiện trên cả nước [23]. Cùng năm đó, Đào Huy Khuê đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của 1478 học sinh từ 6-17 tuổi ở Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình cho thấy, hầu hết các chỉ số sinh học đều tăng dần theo tuổi nhưng nhịp độ tăng trưởng không đều: tốc độ tăng trưởng lớn nhất ở nam thường ở lứa tuổi 14 – 16 và của nữ ở lứa tuổi 11 – 15 [26].
Năm 1993, Đoàn Yên và cộng sự trong nghiên cứu của mình đã đưa ra nhận xét về chiều cao đứng, cân nặng trung bình của người Việt Nam nhỏ hơn so với người Âu, Mĩ ở mọi lứa tuổi, nhịp độ tăng trưởng chậm. Nữ bước vào thời kì tăng trưởng và ổn định sớm hơn nam, ở nữ tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao xuất hiện lúc 12 - 13 tuổi, trong khi đó ở nam là 13 - 16 tuổi; Nhảy vọt cân nặng ở nữ lúc 13 tuổi, còn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ở nam là lúc 15 tuổi [52]. Cũng trong năm này, Nghiêm Xuân Thăng đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng vòng ngực… của người Việt Nam từ 1 đến 25 tuổi ở một số vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, tác giả đưa ra nhận định các kích thước của nam đều lớn hơn của nữ ở tất cả các độ tuổi và sự phát triểu chiều cao ở các độ tuổi ở cư dân vùng Nghệ Tĩnh thấp hơn so với cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ [48]. Từ năm 1993 - 1997, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cộng sự [8] đã nghiên cứu trên 13747 học sinh từ 8 đến 14 tuổi tại một số tỉnh thành Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình và nhận thấy sự phát triển chiều cao của trẻ 6 - 16 tuổi tốt hơn so với số liệu trong “Hằng số sinh học người Việt Nam” [49].
Đến năm 1996, Nguyễn Hữu Chỉnh và cộng sự đã nghiên cứu thấy rằng dân cư ở Kiến An có các chỉ số nhân trắc tốt hơn so với các dẫn liệu trong “Hằng số sinh học người Việt Nam”. Các chỉ số nhân trắc của nữ phát triển nhanh hơn của nam ở thời điểm 10 -11 tuổi, nhưng từ 14 đến 15 tuổi, các kích thước này của nam bắt kịp và vượt trội hơn so với nữ. Ngoài ra, sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống và quá trình rèn luyện thân thể là những yếu tố tác động đến thể lực của thanh niên [3]. Trong khi đó, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cộng sự nghiên cứu về sự phát triển chiều cao đứng, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 đến 55 tuổi ở 8 tỉnh thành thuộc 3 miền đất nước, trong đó nhóm tác giả thấy rằng chiều cao ở nam tăng nhanh đến 18 tuổi, ở nữ tăng nhanh đến 14 tuổi, ngoài ra các tác giả đã cho thấy có sự liên quan khác nhau giữa các đặc điểm hình thái với môi trường sống của cư dân tại các vùng miền khác nhau [13].
Goran, Nguyễn Công Khanh và cộng sự nghiên cứu trên học sinh Hà Nội về chiều cao, cân nặng, BMI cho thấy cả 3 chỉ số này đều tăng theo tuổi [15]. Điều này cũng thể hiện trong các nghiên cứu khác [1], [25], [30]. Năm 1998, Nguyễn Kỳ Anh và cs sau khi so sánh các kết quả nghiên cứu của mình với một số tác giả khác đã đưa ra nhận xét rằng thanh niên Việt Nam lứa tuổi 14 - 18 ở nữ và 16 - 18 ở nam lớn chậm hơn so với các lứa tuổi trước đó [1]. Cùng thời điểm này, Nguyễn Quang Mai và cs đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người cho thấy, chiều cao và cân nặng trung bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tăng dần theo tuổi.
Thời điểm tăng nhanh chiều cao và cân nặng trung bình của nữ sinh dân tộc thiểu số đến sớm hơn so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [33], nhưng muộn hơn so với học sinh Thái Bình và Hà Nội từ 1 đến 2 năm.